Google được sử dụng như công cụ tình báo?

Chuyện Facebook tiếp tay cho các cơ quan tình báo thu thập dữ liệu người dùng đã được báo chí phanh phui khá nhiều. Nhưng với Google, câu chuyện còn ít được dư luận biết đến.

Những tư liệu mới được báo chí công bố cho thấy từ những ngày đầu đi vào hoạt động, Google đã manh nha mối quan hệ hợp tác với các cơ quan tình báo Mỹ, đặc biệt là CIA, NGA và NSA.

Sự ra đời của Google Earth

Không lâu sau khi Larry Page và Sergey Brin công bố việc thành lập Công ty công nghệ Google, họ đã tự đặt ra cho mình một “sứ mệnh” rất lớn lao. Đó là không chỉ xây dựng một cỗ máy tìm kiếm hay quảng cáo có mục tiêu trên mạng Internet. Trong tầm nhìn của họ, Google đặt ra mục tiêu xây dựng, tổ chức kho thông tin của thế giới để chia sẻ cho mọi người. Google ngày càng lớn mạnh cả về quy mô hoạt động lẫn chiều sâu công nghệ, theo đà phát triển của công nghệ thông tin và Internet.

Google Earth cho phép các cơ quan tình báo có thể tìm đến tận nơi ở của những đối tượng cần theo dõi.

Ngày nay, Google đã được cả thế giới xem là “hiện thân của Internet”, và “Internet chính là Google”. Hầu hết các doanh nghiệp công nghệ lẫn phi công nghệ đều phụ thuộc vào Google trong việc làm ăn của mình. Và Google cũng không đơn thuần chia sẻ thông tin, mà còn được ví như một “cỗ máy điều tra” hiệu quả, có thể giúp một cá nhân, một cơ quan, tổ chức điều tra, nghiên cứu về mọi mặt của một hay nhiều đối tượng khách hàng, đối tác làm ăn.

Hơn thế, Google còn là một nhà thầu chuyên ký hợp đồng với các cơ quan Chính phủ Mỹ để thực hiện những nhiệm vụ bí mật. Một trong những sự hợp tác quan trọng nhất chính là việc Google xây dựng chương trình mang tên Google Earth.

Google Earth ra đời trên cơ sở một chương trình tổng hợp hình ảnh vệ tinh được CIA mua lại từ một công ty tư nhân. Công ty Keyhole Incorporated ở San Francisco xây dựng một chương trình có thể xâu chuỗi các hình ảnh vệ tinh và ảnh chụp trên mặt đất thành những mô hình ba chiều (3D) trên máy vi tính trong đó phác hoạ toàn cảnh bề mặt trái đất, được sử dụng để tạo không gian trong các trò chơi không gian ảo.

Thời điểm đó, đây được xem là sản phẩm mang tính đột phá về công nghệ. Nó cho phép bất cứ ai có kết nối Internet đều có thể lướt khắp thế giới trên không gian ảo. Chương trình được phát hành đúng vào thời điểm ngành công nghệ cao thế giới lâm vào đợt khủng hoảng trầm trọng nhất trong lịch sử, vì thế Công ty Keyhole cũng đang phải “giật gấu vá vai” để tồn tại. Thật may, công ty được cứu bởi một khách hàng bất ngờ quan tâm sản phẩm của mình: đó là Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA).

CIA vốn đã nhắm đến mục tiêu ứng dụng công nghệ cao vào hoạt động tình báo từ lâu. Năm 1999, cơ quan này đã lập ra Công ty In-Q-Tel trong Thung lũng Silicon chuyên cung cấp vốn đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp có hoạt động và sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình. Và Keyhole có vẻ như là một ứng viên hoàn hảo.

Cái tên Keyhole thu hút sự chú ý của CIA bởi nó trùng hợp với chương trình vệ tinh bí mật của CIA trong thập niên 1960 cũng mang tên là “Keyhole”. Thế là CIA, thông qua Công ty In-Q-Tel, rót vào Keyhole một khoản tiền không được tiết lộ, hợp đồng đầu tư được ký kết vào năm 2003, với sự phối hợp của Cơ quan Tình báo địa không gian quốc gia (NGA), một công ty tình báo lớn với 14.500 nhân viên chuyên trách mảng tình báo hình ảnh từ không gian.

Ngay từ những ngày đầu, hai nhà sáng lập Google là Larry Page và Sergey Brin đã đặt ra kỳ vọng rất lớn lao.

Ngay sau khi có những đồng vốn từ In-Q-Tel, phần mềm của Keyhole đã được tích hợp vào hệ thống thông tin quân sự của Mỹ và mang ra hỗ trợ cho chiến dịch quân sự tấn công Iraq, lật đổ Tổng thống Saddam Hussein. Bản đồ ảo Keyhole gây thích thú với các quan chức quân đội Mỹ bởi tính đơn giản, như một trò chơi ảo, nhưng mang lại hiệu quả thực. Phần mềm cũng cho phép chồng ghép với các hình ảnh tình báo khác để khai thác tối đa thông tin tình báo.

Nhược điểm duy nhất của nó chỉ là việc không thể tích hợp được những chi tiết sâu trên mặt đất và các điều kiện về thời tiết, sức gió, lượng mưa,… Keyhole tạo thêm nhiều thuận lợi cho các nhà phân tích tình báo, các chỉ huy chiến trường và các phi công chiến đấu Mỹ khi họ sử dụng bản đồ trực tuyến cài đặt trên điện thoại, máy vi tính để tìm kiếm các nhà hàng, quán cà phê, bảo tàng, các tuyến đường giao thông, tàu điện,…

Sức hấp dẫn của Keyhole đã thu hút một trong hai nhà sáng lập Google là Sergey Brin. Brin thích Keyhole đến nỗi đích thân ông đã thực hiện “đề mô” chương trình cho ban lãnh đạo Google xem. Brin đã sử dụng Keyhole ngay tại buổi họp để biểu diễn “lướt” bản đồ ảo trên mái nhà của những người đang dự họp để thuyết phục họ mua lại Keyhole.

Năm 2004, Google lên sàn chứng khoán. Cùng năm đó, Brin và Page quyết định mua đứt Keyhole, kể cả các khoản đầu tư của CIA. Ngay lập tức, cả hai đã biến Keyhole thành một trong những chương trình ứng dụng Internet đang phát triển mạnh mẽ của mình. Và Keyhole đã lột xác hoàn toàn, được khai sinh bằng cái tên mới: Google Earth.

Việc mua lại Keyhole được xem là cột mốc quan trọng của Google. Đó là bước ngoặt Google chuyển hướng, mở rộng tầm hoạt động, không còn đơn thuần là nhà cung cấp Internet tiêu dùng thuần tuý. Với phần mềm Google Earth, Google đã trở thành công ty công nghệ đầu tiên triển khai giải pháp công nghệ do thám, theo dõi đời sống riêng tư quy mô toàn cầu, và xây dựng một cơ sở dữ liệu khổng lồ để phục vụ cho hoạt động kinh doanh mở rộng trên nhiều lĩnh vực bao quát của mình.

Với kho dữ liệu thông tin khổng lồ thu thập được, cộng với mô hình bản đồ ảo, Google Earth có thể giúp một công ty, một cơ quan tình báo hay bất kỳ tổ chức nào theo dõi từng bước đi của một người, chẳng hạn như khi họ đi vào một siêu thị mua sắm, hay vào một cơ sở chăm sóc da vào thời điểm nào, ở đâu,… chỉ cần nhập dữ liệu về đối tượng cần theo dõi vào và các dữ liệu hình ảnh sẽ được kết nối thành chuỗi liên tục, thể hiện rõ trên màn hình thiết bị.

Một phác họa bản đồ khu Manhattan, New York trên Google Earth phiên bản đầu tiên.

Google Earth đã mở ra cơ hội cực tốt để Google bắt đầu các hoạt động kết nối với Chính phủ Mỹ. Đi kèm với Keyhole là một nhà quản lý kỳ cựu của Công ty In-Q-Tel tên Rob Painter, được xem là một đầu mối có thể giúp Google móc nối quan hệ sâu rộng với giới tình báo và các nhà thầu quân sự hùng mạnh, như Raython, Northrop Grumman, Lockheed Martin,…

Đến Google, Painter được giao cho phụ trách bộ phận mới Google Federal, chuyên về hoạt động bán hàng và vận động hành lang. Google Federal đặt trụ sở tại Reston, bang Virginia, cách không xa tổng hành dinh CIA ở Langley. Nhiệm vụ của Painter là giúp Google nhảy vào chia phần “miếng bánh” thị trường thầu tình báo – quân sự. Hoặc giúp Google triển khai ứng dụng các giải pháp từ Google Serach, Google Earth cho đến Google Enterprise (nay gọi là G Suite) cho nhiều khách hàng trong cộng đồng tình báo và quân đội.

Không chỉ làm ăn trực tiếp với các cơ quan tình báo của chính phủ, trong nhiều trường hợp Google còn hợp tác, thông qua các nhà thầu quốc phòng lớn như Lockheed Martin, Rython, hay SAIC (Science Application International Corporation) để hoàn thành những hợp đồng lớn, phức tạp đòi hỏi năng lực công nghệ đa lĩnh vực thực hiện.

Nhà thầu của các cơ quan tình báo

Cuộc hợp tác của Google với các cơ quan tình báo Mỹ có lẽ đã bắt đầu từ năm 2003. Năm đó, công ty đã hợp đồng với NGA cung cấp một giải pháp công nghệ tìm kiếm có tính năng quét và nhận dạng các tài liệu văn bản với 24 ngôn ngữ khác nhau. Năm 2004, Google cũng từng hợp đồng với CIA xây dựng giải pháp tìm kiếm thông tin trên mạng Internet nội bộ có gắn biểu tượng “thương hiệu” CIA nhằm ngăn chặn các hoạt động thu thập thông tin lén lút trong nội bộ.

Năm 2006, Google Federal tiếp tục thực hiện loạt tuyển dụng nhân sự từ các cơ quan trong bộ binh, không quân, CIA và các công ty trong công nghiệp quốc phòng Mỹ. Chính lực lượng nhân sự này mang về cho Google những thông tin “nội gián” cực kỳ hữu ích trên con đường bành trướng địa hạt kinh doanh và phát triển công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ các hợp đồng hợp tác với các cơ quan tình báo.

Năm 2007, Google hợp tác với Công ty Lockheed Martin thiết kế cho NGA một hệ thống tình báo giúp định vị các căn cứ đóng quân của quân đội Mỹ ở Iraq, đồng thời đánh dấu các vị trí của lực lượng quân sự Sunni và Shiite tại các khu vực của Baghdad. Đây là loại thông tin tình báo rất quan trọng trong điều kiện nội chiến phức tạp ở Iraq thời điểm đó.

Đến năm 2008, Google lại trúng thầu quản trị máy chủ và cung cấp công nghệ tìm kiếm cho CIA để chạy cơ sở dữ liệu tình báo Intellipedia (với sự phối hợp của NGA, FBI, NSA và các cơ quan liên bang khác của Chính phủ Mỹ). Năm 2010, quan hệ làm ăn giữa Google với các cơ quan tình báo Mỹ đã trở nên thân thiết đến nỗi Google được NGA giao cho một hợp đồng không qua đấu thầu để cung cấp các dịch vụ “mô phỏng hình ảnh địa không gian”, từ đó công ty nghiễm nhiên trở thành “con mắt” của bộ máy quốc phòng và tình báo Mỹ.

Google mở rộng hợp tác làm ăn với các cơ quan tình báo đánh dấu một giai đoạn các cơ quan tình báo, quốc phòng, an ninh của Chính phủ Mỹ bắt đầu mạnh tay chi tiền cho các hợp đồng tư nhân. Theo The Observer, trong ngân sách tình báo 60 tỉ USD năm 2006, có đến 70%, tức khoảng 42 tỉ USD, chi cho các hợp đồng tư nhân. Đến năm 2017, ngân sách tình báo đã tăng lên 50%, đạt 90 tỉ USD, đồng nghĩa với việc làm ăn ngày càng khấm khá cho các doanh nghiệp tư nhân như Google.

Trong thị trường béo bở này, Google từ một “chú bé” mới chào sân ngày nào nay đã trở thành một “ông lớn”, một mối làm ăn thân cận bậc nhất với các cơ quan tình báo của Chính phủ Mỹ. Sự thành công của Google đã trở thành “cánh tay đắc lực” của các cơ quan tình báo, an ninh, quốc phòng của Chính phủ Mỹ chủ yếu là nhờ sản phẩm công nghệ của Google được đánh giá tốt nhất, đáp ứng một cách hoàn hảo các yêu cầu của các cơ quan này, và đặc biệt là Google có lợi thế mà các đối thủ cạnh tranh không có được: nguồn dữ liệu khổng lồ thu thập từ các hoạt động trên Internet của người dùng từ tất cả mọi nơi trên thế giới, kể cả các cơ quan chính quyền, giới công nghệ, tin tặc.

Điển hình như vụ việc năm 2010. Theo một số quan chức tình báo từng tham gia vụ việc, sau khi bị một nhóm tin tặc nghi là người Trung Quốc đột nhập hệ thống, Google đã cùng NSA đạt một thỏa thuận bí mật, theo đó Google sẽ cung cấp cho NSA dữ liệu thông tin về lưu lượng giao dịch của người dùng trên hệ thống Internet của mình, đổi lại NSA cung cấp cho Google thông tin tình báo cơ quan này có được về các tin tặc nước ngoài. Cũng với phương thức tương tự, Google đã trao đổi thông tin với cà CIA và Bộ Ngoại giao Mỹ.

Nguyên Khang/CAND

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN