Suy nghĩ về Ngoại Giao & Văn minh

Lời Tòa soạn: Khi bước sang năm 2026, với những dự đoán về một thế giới đầy biến động, khó lường, chúng ta không thể không nhìn lại năm 2025 vừa qua như một bức tranh hỗn loạn với các cuộc xung đột kéo dài, một vài thỏa thuận ngừng bắn mong manh, cuộc chiến tranh thương mại đe dọa mọi quốc gia. Thế giới của ngày hôm nay dường như đang đứng trước một ngã rẽ mà ở đó sức mạnh quân sự và lợi ích kinh tế ngắn hạn lấn át tiếng nói của lý trí và hợp tác toàn cầu.

Chủ đề Suy nghĩ về Ngoại giao và Văn minh được chúng tôi lựa chọn cho năm mới 2026 với minh họa cụ thể về nền Ngoại giao Việt Nam, xuất phát từ niềm tin sâu sắc rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ nhưng cũng đầy rẫy chia rẽ và bạo lực, Ngoại giao không chỉ là công cụ giải quyết xung đột mà còn là một trong những biểu hiện cao nhất của văn minh nhân loại, là “chìa khóa” để vượt qua những thách thức hiện đại. Theo rất nhiều học giả và nhà nghiên cứu, khái niệm về văn minh không chỉ nằm ở sức mạnh quân sự, công nghệ hay kinh tế, mà còn ở chính khả năng đối thoại, tôn trọng sự khác biệt và tìm kiếm lợi ích chung giữa các quốc gia, dân tộc.

Ngoại Giao Việt Nam đồng hành cùng đất nước

Trong suốt quá trình dựng nước, giữ nước, giành độc lập thống nhất, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc cũng như quá trình kiến thiết, đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Đối ngoại và Ngoại giao Việt Nam cùng với các binh chủng khác đã có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc, cũng như nâng cao vị thế của Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa. Và ngày nay, Việt Nam đã và đang tham gia vào sân chơi chung của thế giới với một tâm thế vững vàng và chủ động.

Những thành công mà Đối ngoại và Ngoại giao Việt Nam có được cho đến ngày hôm nay là cả một quá trình kế thừa, xuyên suốt chiều dài lịch sử đất nước, thế hệ tiếp nối thế hệ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, Ngoại giao Việt Nam đã vượt qua rất nhiều thử thách và để lại những bài học vô cùng phong phú và sâu sắc về một nền ngoại giao Hồ Chí Minh, mềm dẻo, linh hoạt, văn minh… xứng đáng cho những nghiên cứu và phân tích sâu sắc trong tổng thể chung khi nói đến nền văn minh cũng như sức mạnh mềm của Việt Nam.

Đường lối đối ngoại đúng đắn được sáng lập và dẫn dắt bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong lịch sử quan hệ quốc tế, không hiếm những cường quốc hoặc quốc gia luôn dựa vào sức mạnh quân sự hoặc kinh tế để đưa ra các biện pháp trừng phạt dưới nhiều hình thức nhằm răn đe và gây áp lực với các quốc gia khác, khi đó, mọi hoạt động ngoại giao của những quốc gia đó đều gắn liền với các mục tiêu mang tính áp đặt, nước lớn…

Việt Nam là một quốc gia mà ở đó đường lối đối ngoại được sáng lập và dẫn dắt bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là một nền ngoại giao độc lập, tự chủ và thấm đẫm tinh thần hòa hiếu, bảo vệ lẽ phải, mục tiêu tối thượng, nhân nhượng khi cần thiết và tránh không để xảy ra xung đột. Ngoại giao Việt Nam đấu tranh bằng lý lẽ, bằng thương lượng, bằng hòa hoãn và sự kiên định để bảo vệ lợi ích tối thượng của quốc gia. Trong nhiều thời điểm lịch sử của đất nước, ngoại giao trở thành một mặt trận chính, có lúc đi song hành cùng các mặt trận khác, nhưng điều quan trọng nhất là luôn tiên phong đi đầu giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong quan hệ quốc tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng, trực tiếp xây dựng và dẫn dắt nền ngoại giao Việt Nam hiện đại từ những ngày đầu thành lập nước. Hình ảnh Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại giao tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ nhất vào tháng 3/1957 (Ảnh: Tư liệu).

Nghị quyết của Đại hội lần thứ XIII của Đảng  đã xác định rõ Việt Nam: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Chính sách ngoại giao “đa dạng hóa, đa phương hóa” của Việt Nam chính thức được xác định từ Đại hội XI năm 2011 và tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ ở các Đại hội XII, XIII và Đại hội XIV của Đảng, thực sự là một trong những thành công lớn nhất trong chính sách đối ngoại của Việt Nam sau Đổi mới. Đây không phải là chiến thuật “đu dây” mà là một triết lý chiến lược rất Việt Nam. Bên cạnh đó việc Việt Nam thực hiện Chính sách quốc phòng “bốn không”  bao gồm: không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế được đánh giá rất cao.

Chính sách đối ngoại của Việt Nam phù hợp và kết nối sâu sắc với các giá trị văn minh phổ quát của nhân loại

Đường lối đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc dân tộc, thấm đượm trí tuệ và đạo lý Việt Nam, không chỉ bảo vệ lợi ích quốc gia mà còn phù hợp và gắn kết với những nguyên tắc cốt lõi, các giá trị phổ quát, văn minh của nhân loại và mang tính chính nghĩa, nhân văn cao cả nên được cộng đồng quốc tế chia sẻ và đánh giá cao. Những giá trị này không chỉ là lý thuyết mà còn là kim chỉ nam cho các hoạt động đối ngoại, đã giúp cho Việt Nam vượt qua mất mát, chiến tranh, bất bình đẳng và khủng hoảng để thành công. Điều đó được thể hiện rõ qua những điểm sau đây:

Trong quan hệ quốc tế Việt Nam luôn luôn khẳng định nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Đây chính là nguyên tắc cốt lõi của Hiến chương Liên hợp quốc.

Việt Nam Kiên trì chính sách đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác, giải quyết mọi tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình và dựa trên luật pháp quốc tế. Hòa bình, tránh xung đột bạo lực, thúc đẩy hòa hợp giữa các dân tộc đã được Liên hợp quốc nhấn mạnh và cũng chính là những điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nền văn minh nhân loại. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, ngay trong những giờ phút cam go nhất, cho dù chỉ còn một tia hy vọng mà không phải hoặc chưa phải sử dụng đến vũ lực, Việt Nam cũng sẽ lựa chọn phương án đàm phán hòa bình. Việc ký kết Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, Tạm ước ngày 14/9/1946 với Pháp là những minh họa rõ rệt cho ý nguyện hòa bình, tránh xung đột, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh của dân tộc Việt Nam.

Chính sách quốc phòng “bốn không” là một nét rất riêng, đặc biệt của Việt Nam. Chúng ta kiên quyết không tiến hành liên minh quân sự với bất cứ quốc gia nào và luôn tôn trọng luật pháp quốc tế trong giải quyết mọi tranh chấp. Việt Nam là một trong những quốc gia tích cực nhất ở Đông Nam Á trong việc ủng hộ xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Việt Nam luôn chủ trương giải quyết bằng biện pháp hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế (đặc biệt là UNCLOS 1982) đối với các vấn đề ở Biển Đông, thay vì dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực. Điều này hoàn toàn phù hợp với việc bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ của một thế giới văn minh.

Chính sách ngoại giao đa dạng, đa phương hóa cho thấy Việt Nam kiên trì giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, không chọn bên, và sẵn sàng làm bạn với mọi quốc gia. Điều này thể hiện tinh thần nhân văn, cởi mở, trong việc tôn trọng nhân phẩm, bình đẳng của mỗi cá nhân cũng như việc tôn trọng các quốc gia khác. Không áp đặt, không dựa trên ý thức hệ, cũng như tôn giáo, chính kiến của các quốc gia khác. Đó chính là sự khéo léo, linh hoạt nhưng kiên định nguyên tắc, rất phù hợp với tinh thần hòa bình, hợp tác cùng có lợi của văn minh hiện đại. Không phải nước nào cũng làm được. Việt Nam rất thành công với chính sách này.

Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ hệ thống đa phương và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ khi đã tham gia và là thành viên tích cực của gần như tất cả các tổ chức quốc tế lớn: Liên hợp quốc (1977), ASEAN (1995), WTO, APEC, ASEM và luôn ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN. Việt Nam là một quốc gia hiếm hoi đã hai lần là Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ (2008–2009 và 2020–2021) với tỷ lệ tín nhiệm rất cao và đã có những đóng góp có giá trị, nêu ra nhiều sáng kiến.

Việt Nam đóng góp tích cực cho các hoạt động chung của Liên hợp quốc, như Chương trình Phát triển thiên niên kỷ (SDG); tham gia sứ mệnh gìn giữ hòa bình; đề xuất các Nghị quyết về Phụ nữ Hòa bình, Đăng cai Lễ mở ký Công ước Hà Nội của Liên hợp quốc về an ninh mạng (Hanoi Convention). Theo Báo cáo năm 2024 của UNDP, Việt Nam xếp thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á (sau Thái Lan) với chỉ số SDG Index đạt 73,4/100 điểm, tăng tới 27% so với năm 2015. Nhiều lĩnh vực đạt tiến bộ rõ rệt như giảm nghèo từ 14% (2010) xuống dưới 4% hiện nay được coi là thành công lớn nhất, giáo dục, nước sạch, giảm bất bình đẳng, phát triển hạ tầng và mở rộng đối tác quốc tế.

Từ năm 2014 Việt Nam đã tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, đã cử hàng trăm sĩ quan và bệnh viện dã chiến cấp 2 tới Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, Abyei những quốc gia khó khăn nhất và đầy bất ổn. Các chiến sĩ Việt Nam được đánh giá rất cao bởi hiệu quả công việc, thái độ và tinh thần tận tụy.

Việt Nam tham gia gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc từ năm 2014. Ảnh minh họa: Tố Linh

Phát triển kinh tế, hội nhập sâu rộng, hướng ngoại để vừa xây dựng đất nước hùng mạnh, vừa có thể đóng góp vào thịnh vượng chung, chống bảo hộ thương mại. Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do trong đó có những Hiệp định với các tiêu chuẩn rất cao về lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, cho thấy sẵn sàng hội nhập sâu và tôn trọng các cam kết quốc tế.

Sẵn sàng tham gia đóng góp vào các vấn đề toàn cầu vì lợi ích của nhân loại cho dù tiềm lực chưa cao, thể hiện rõ trách nhiệm với cộng đồng thế giới, nêu cao tính nhân văn.V iệt Nam khẳng định thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững và biến đổi khí hậu: Đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại COP26 (2021), một cam kết rất tham vọng với một nước đang phát triển. Thể hiện tầm nhìn xanh và đóng góp tích cực vào các vấn đề toàn cầu.

Năm 2020, khi Đại dịch Covid -19 bùng phát, với vai trò Chủ tịch ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, Việt Nam đã góp phần dẫn dắt thành công việc ứng phó đại dịch Covid-19, tổ chức các hội nghị trực tuyến lịch sử, khởi xướng “Quỹ ASEAN ứng phó Covid-19” và kho dự trữ y tế khu vực. Trong đại dịch, Việt Nam là một trong số ít quốc gia đang phát triển vừa nhận viện trợ, vừa đạt được tỷ lệ tiêm chủng rất cao và sẵn lòng chia sẻ vaccine, dụng cụ y tế, bác sĩ với các nước khác, thể hiện tinh thần nhân đạo, văn minh và trách nhiệm chung.

Trong chính sách đối ngoại của mình, nét văn minh của Việt Nam còn thể hiện rất rõ với chính sách khoan dung, nhân đạo. Nhân dân Việt Nam đã nỗ lực không ngừng nghỉ, nén lại đau thương để có thể “gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng đến tương lai”, biến thù thành bạn, chuyển đối đầu thành đối thoại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, đưa đối thủ thành đối tác. Và đây cũng là một trong các yếu tố tạo nên sức mạnh tinh thần để Việt Nam vượt qua quá khứ, tranh thủ bạn bè và đối thủ.

Những yếu tố trên đã làm cho hình ảnh và vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao trong suốt 20–30 năm qua. Từ một đất nước nghèo khó, lạc hậu, vừa thoát ra khỏi chiến tranh, Việt Nam đã trở thành một đối tác không thể thiếu ở khu vực và trên thế giới.

Thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng, Ngoại Giao Việt Nam đã tiến hành các bước đi và ứng xử rất văn minh trong quan hệ quốc tế, góp phần vào việc nâng cao vị thế của Việt Nam cũng như cách thế giới nhìn nhận và đánh giá về Việt Nam

Văn minh của Ngoại giao Việt Nam được thể hiện ở việc chúng ta tiến hành các hoạt động đối ngoại theo những chuẩn mực, quy tắc và giá trị được cộng đồng quốc tế công nhận, nhằm duy trì hòa bình, tôn trọng lẫn nhau và đạt được lợi ích quốc gia và đặc biệt không gây tổn hại đến quan hệ quốc tế. Cách ửng xử của Việt Nam là cách ứng xử có lý, có tình, “cân bằng động”, mang tinh thần hòa hiếu của cha ông, khéo léo và tinh tế của một quốc gia tầm trung trong quan hệ với các nước lớn và ở bên cạnh nước lớn. Mặt khác đó cũng là cách ứng xử tế nhị, chân thành trong quan hệ với những quốc gia láng giềng khác có chung đường biên giới. Điều đó giúp Việt Nam vừa kiên trì nguyên tắc bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, vừa giữ vững ổn định, phát triển đất nước, bảo vệ  chủ quyền lãnh thổ và độc lập dân tộc.

Trong ứng xử, Việt Nam thể hiện sự lịch sự, tôn trọng lẫn nhau, vừa tuân thủ nghi thức quốc tế và đặc biệt luôn giữ thể diện cho đối phương. Đây là yếu tố rất quan trọng trong văn hóa phương Đông. Dù là bên chiến thắng, chúng ta vẫn để đối phương có đường rút lui trong danh dự, không sử dụng ngôn từ xúc phạm, đe dọa hoặc hạ nhục quốc gia khác, tránh được những xung đột trực tiếp. Dù bất đồng gay gắt đến đâu, chúng ta cũng giữ được sự kiềm chế trong phát ngôn và không để xảy ra các sự cố ngoại giao. Khi thể hiện sự văn minh trong ngoại giao, không phải là Việt Nam “yếu đuối hay phải nhượng bộ” mà đấy chính là sự sáng suốt và khôn ngoan: Cứng rắn về nguyên tắc song mềm dẻo về hình thức, dành được sự tôn trọng quốc tế, giữ được hình ảnh của đất nước Việt Nam, một đất nước văn hiến, văn minh và đang từng bước hiện đại hóa.

Đất nước, Lãnh đạo và Người dân Việt Nam luôn chân tình cởi mở, dành sự đón tiếp trọng thị, cao nhất đối với các nguyên thủ quốc gia, bạn bè, khách quý đến Việt Nam, luôn đem lại cảm giác ấm áp và đặc biệt. Sự cởi mở chân tình không chỉ đến bởi các nghi lễ chính thức mà còn là sự nồng hậu của cách thức mà người dân Việt Nam dành cho các bạn bè quốc tế. Đây là điều mà nhiều quốc gia khác ao ước có được.

Một trong những điều quan trọng nhất của Ngoại Giao Việt Nam đó là trong quan hệ quốc tế, chúng ta đã tạo được sự tin cậy cao cho bạn bè và đối tác khi luôn tôn trọng và giữ lời hứa, hành xử nhất quán. Chúng ta duy trì các mối quan hệ lâu dài và thủy chung với bạn bè truyền thống, giúp đỡ bạn bè khi có thể, khi bạn bè gặp khó khăn. Mối quan hệ giữa Việt Nam với Cuba, với Lào… là minh chứng rõ nét. Việc chúng ta sẵn sàng cử chiến sĩ sang các nước như Thổ Nhĩ Kỳ (2023), Myanmar (2025)… khắc phục hậu quả sau động đất đã gây xúc động mạnh mẽ đúng với truyền thống “Thương người như thể thương thân”.

Bên cạnh đó, việc tập trung xây dựng “niềm tin chiến lược” sau rất nhiều thử thách cam go với ba nước láng giềng có chung biên giới là Lào, Campuchia và Trung Quốc đã đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự ổn định, an ninh và phát triển của Việt Nam cũng như của cả ba nước Lào, Campuchia và Trung Quốc.

Việt Nam là hình mẫu của một quốc gia thực hiện ngoại giao hòa bình, có trách nhiệm và văn minh đáng tin cậy với vị thế ngày càng được nâng cao rõ rệt

Việt Nam đã không chỉ nâng tầm ảnh hưởng trong khu vực châu Á, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà trên toàn cầu và còn tạo dựng niềm tin mạnh mẽ với các đối tác bởi sự linh hoạt trong việc cân bằng quan hệ với các cường quốc. Việt Nam đã tăng cường vị thế địa chính trị, thu hút đầu tư, công nghệ và được nhiều quốc gia đánh giá là trụ cột ổn định ở Đông Nam Á và được bạn bè quốc tế đánh giá là hình mẫu của một quốc gia thực hiện ngoại giao hòa bình, có trách nhiệm và văn minh đáng tin cậy.

Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 10/2022, Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã ca ngợi Việt Nam là “hình mẫu của hòa bình và phát triển bền vững”, nhấn mạnh vai trò trách nhiệm của Việt Nam trong LHQ cũng như những  đóng góp cho hòa bình khu vực. Dịp kỷ niệm 80 năm Quốc khánh Việt Nam, nhiều nhận xét cho rằng Việt Nam đã biến “những điều không thể thành có thể” và hành trình độc lập của Việt Nam có thể được coi như “sử thi anh hùng”, truyền cảm hứng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia, tạo dựng mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 42 quốc gia. Trong số 28 đối tác chiến lược, chúng ta đã nâng cấp lên quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện với 14 quốc gia bao gồm tất cả 5 nước Ủy viên thường trực HĐBA Liên hợp quốc (Anh, Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc) và nhiều cường quốc, quốc gia có ảnh hưởng toàn cầu. Việt Nam là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO. Đảng cộng sản Việt Nam đã có quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc  gia. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia trên toàn thế giới.

Việt Nam nằm trong số 20 nước dẫn đầu thế giới về kim ngạch xuất nhập khẩu, nền kinh tế có độ mở lớn với kim ngạch xuất nhập khẩu xấp xỉ 200% GDP. Theo Global Firepower công bố năm 2025, sức mạnh quân sự Việt Nam được xếp thứ 23 trên thế giới, nằm trong top 25 quốc gia có nền quân sự mạnh. Quyền lực mềm (hệ giá trị, văn hóa, hiện diện của cộng đồng ở nước ngoài (HDI) 0.726 đạt mức cao trung bình. Theo US News and World Report 2023-2025, Việt Nam được xếp hạng 30 trong số 50 quốc gia quyền lực nhất thế giới, đứng thứ hai trong ASEAN và đứng thứ 11 tại châu Á, cho thấy sự gia tăng ảnh hưởng hưởng kinh tế, xuất khẩu, ảnh hưởng chính trị, liên minh quốc tế và sức mạnh quân sự. Với sự công nhận quốc tế, Lowy Institute xếp Việt Nam là Cường quốc bậc trung ở châu Á (“middle power in Asia” 2024), với cải thiện lớn ở ngoại giao (+3.3 điểm) và kinh tế (+0.8 điểm).

Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã ca ngợi Việt Nam là “hình mẫu của hòa bình và phát triển bền vững”. Hình ảnh Chủ tịch nước Lương Cường tại cuộc gặp Tổng thư ký LHQ Antonio Guterres ngày 22/9/2025 tại trụ sở LHQ (New York, Mỹ). Ảnh: TTXVN

Với sự ổn định chính trị và vị thế cao hiện nay, Việt Nam đã chứng minh chủ nghĩa xã hội và cải cách thị trường có thể tương tác tích cực, trở thành mô hình cho các nước đang phát triển. Việt Nam ngày nay không chỉ là một phần của thế giới đang thay đổi nhanh chóng, mà còn là một nhân tố góp phần tích cực vào việc định hình tương lai của thế giới với tinh thần đầy quả cảm, đầy trách nhiệm vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc thúc đẩy hòa bình và ổn định toàn cầu.

Những yếu tố làm nên thành công của một nền Ngoại giao Việt Nam mềm dẻo, linh hoạt và  văn minh

Trước hết, đó chính là dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, Việt Nam đã kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, văn minh, độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa với tầm nhìn chiến lược. Đây là chính sách xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc điểm nổi bật và duy nhất ở Việt Nam đó là Đối ngoại được dựa trên ba trụ cột Đối ngoại Đảng, Đối ngoại Nhà nước và Đối ngoại Nhân dân cùng phối hợp để nâng cao sức mạnh tổng thể của Việt Nam.

Sở dĩ Việt Nam có thể nhất quán, kiên định và thực hiện xuyên suốt chính sách ngoại giao đa dạng đa phương hóa vì Việt Nam đã giữ vững được chủ quyền, tự chủ, quyền tự quyết trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, khó lường và cạnh tranh giữa các cường quốc là vô cùng mãnh liệt. Việt Nam đã không để cho bất cứ quốc gia nào chi phối, luôn luôn giữ được độc lập, tự quyết định đường lối chính sách của mình và đã thành công.

Điểm thứ hai đó chính là việc vận dụng nhuần nhuyễn và linh hoạt tư tưởng, phong cách và nghệ thuật ngoại giao công tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” đã giúp Việt Nam vững vàng, chủ động và sáng tạo, nhạy bén và linh hoạt trong việc vừa kiên định nguyên tắc bảo vệ lợi ích tối thượng của quốc gia, đồng thời xử lý đúng đắn những mối quan hệ quốc tế tế nhị và phức tạp. Đó cũng chính là sự vận dụng nhuần nhuyễn nghệ thuất “Ngũ tri”: Biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến… để tạo dựng thời cơ và chớp thời cơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam.

Có thể thấy rằng, cội nguồn của Ngoại giao Việt Nam chính là độc lập, hòa hiếu, mềm dẻo, đề cao chính nghĩa, đạo lý và nhân nghĩa, thủy chung, là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là hòa bình và chống chiến tranh xâm lược, là hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng và xây dựng quan hệ hữu hảo với tất cả các nước. Đó chính là sự kết hợp giữa bản sắc dân tộc, trí tuệ thời đại và nghệ thuật ứng xử chiến lược được dẫn dắt bởi tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, phù hợp với các giá trị cốt lõi của nền văn minh nhân loại.

Đường lối đó đã cấu thành bản sắc của Việt Nam, văn hóa Việt Nam và tạo nền tảng cho việc góp phần cấu tạo nên văn minh của Việt Nam, giúp cho thế giới nhận thức được bản sắc của người Việt Nam và tạo nên Sức mạnh mềm Việt Nam trong kỷ nguyên mới, hội nhập sâu rộng và vững chắc, góp phần chính phục và lan tỏa giá trị Việt, văn minh Việt ra bên ngoài.

Sức mạnh mềm của Việt Nam cũng nằm ở chính khả năng đối thoại, tôn trọng sự khác biệt và tìm kiếm lợi ích chung giữa các quốc gia, dân tộc cũng như sự chủ động, kiên trì trong Chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia. Từ thế phòng thủ, Việt Nam đã chuyển sang vai trò là Người dẫn dắt, kiến tạo hình ảnh về một Việt Nam văn minh, có trách nhiệm, đóng góp tích cực vào hòa bình, an ninh toàn cầu, góp phần làm cho thế giới hiểu, hiểu đúng hơn về  những giá trị tốt đẹp, văn minh của Việt Nam để tôn trọng và ủng hộ Việt Nam hơn nữa trong các bước đi của mình…

Nhìn ra thế giới với những diễn biến đầy bất ngờ trong quan hệ quốc tế, nơi mà sức mạnh quân sự dường như đang lấn át, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc rằng một khi Ngoại Giao được dẫn dắt bởi tinh thần văn minh hòa hiếu, cùng với sự kiên nhẫn, thấu hiểu và tầm nhìn dài hạn sẽ có thể mang lại hòa bình, thịnh vượng cho nước ta và cho thế giới.

Chúng ta tự hào về các thế hệ cán bộ hoạt động trên lĩnh vực ngoại giao. Họ là những người đã làm nên trang sử vẻ vang, văn minh của nền ngoại giao Việt Nam. Tổ quốc và nhân dân mãi mãi ghi nhớ công lao của họ đối với công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh.■

PHAN THÚY THANH

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN