Hình ảnh nước trong dân ca và nghệ thuật biểu diễn Việt Nam

Tạp chí Phương Đông dịch và giới thiệu bài viết bằng tiếng Pháp của giáo sư Trần Văn Khê với tựa đề “Hình ảnh nước trong dân ca và nghệ thuật biểu diễn Việt Nam” đăng trên tạp chí Étude rurales số 93 – 94, xuất bản năm 1984. Qua hình tượng nước trong các hình thức sáng tạo dân gian, bài viết làm nổi bật mối liên hệ sâu sắc giữa môi trường văn hoá, đời sống cộng đồng và nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

Trong tiếng Việt, từ “nước” vừa có nghĩa là nước uống, vừa có nghĩa là đất nước. Trong số những tai ương hiểm nguy nhất, bão lũ là nạn đứng đầu tiên, ngay trước hoả hoạn, trộm và cướp (thuỷ, hoả, đạo, tặc). Một vụ mùa bội thu hay không dựa vào bốn yếu tố cơ bản: nước, phân, cần, giống, và nước lúc nào cũng đứng hàng đầu. Hàng thế kỷ, người Việt luôn phải đối mặt với những nguy cơ tàn phá, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Hồng, gần như luôn luôn phải làm công tác trị thuỷ. Truyền thuyết về Sơn Tinh – Thuỷ Tinh chính là ẩn dụ cho góc nhìn này. Người Việt nâng niu và tìm kiếm nguồn nước trong lành để dùng vào việc đồng áng, việc đó cũng giải thích cho việc tồn tại số lượng lớn các câu hát có nội dung về tưới tiêu và những buổi lễ dùng bài hát và điệu múa để cầu mưa. Ở những vùng chịu bão khắc nghiệt và có chế độ gió mùa thất thường, nước là yếu tố quan trọng hàng đầu.

Rối nước mô phỏng cảnh Vua Lê Lợi du ngoạn trên thuyền trong tích trò sự tích Hồ Gươm. Ảnh: Nhà hát múa rối nước Thăng Long

Nước trong các câu hát và điệu múa dân gian

Những kinh nghiệm của cha ông được lưu truyền qua các ngạn ngữ, thành ngữ và trong số ấy, hình ảnh dòng nước luôn giữ vị trí quan trọng. Tính kiên nhẫn được nhắc đến trong thành ngữ “Nước chảy đá mòn”, lòng biết ơn qua các câu “Uống nước nhớ nguồn” hay “Uống nước nhớ người đào giếng” và tinh thần lạc quan trong câu “Còn nước, còn tát”.

Ở nhiều vùng, các điệu hát lao động, điệu hò được phân loại thành hò trên cạn và hò sông nước.

Ở miền Nam, tại một vùng sông sâu nước chảy, được bao phủ bởi bùn, chằng chịt những nhánh sông ngòi, kênh rạch, những chiếc xuồng đủ mọi cỡ, thuyền đò nhỏ, thuyền tam bản lớn nhỏ khác nhau, tàu buôn, ghe, thuyền độc mộc; điệu hò chèo ghe hay hò chèo thuyền nổi lên, những câu hát của người đưa đò với âm hưởng tự do, điểm xuyết bằng những nhịp chèo đều đặn và tô điểm thêm nhờ những con sóng vỗ bập bềnh nơi mạn thuyền. Ở những vùng dùng ghe, họ gọi đó là hò chèo ghe, ở vùng Chợ Đêm, họ gọi đó là hò mái một (khúc hát chỉ gồm một hoặc hai câu nhẹ nhàng, do một người hát bằng một giọng duy nhất); ở Gò Công, điệu hò này lại có tên là hò mái ba, khúc hát có 3 câu biểu diễn bởi một người hát, thường là người chèo thuyền đứng ở đầu mũi thuyền, và ở đuôi thuyền. Tại tỉnh Bến Tre, người ta chia các câu hát thành hai loại: hò mái đoản (khúc hát của người đưa đò, bản ngắn), hò mái trường (khúc hát của người đưa đò, bản dài)[1]. Tại vùng Quảng Nam, Đà Nẵng, hò chèo thuyền gồm “đò dọc” về người chèo thuyền từ nguồn ra tới biển, ngược lại là điệu “đò ngang” hát bởi người đi đò. Khi có một cuộc chèo thuyền độc mộc dịp năm mới hoặc sau vụ thu hoạch, người đưa đò hát điệu hò đưa thuyền[2].

Ở vùng Bình Trị Thiên, các điệu hò của người đưa đò vô cùng phong phú. Người ta gọi chúng là hò mái nhì hay hò mái đẩy ở những vùng cổ như Quảng Trị và Thừa Thiên, Huế; các câu hát được gọi tên là hò mái duỗi, hò lờ ở những vùng thuộc tỉnh Quảng Bình. Trên những con sông với dòng chảy dịu êm như sông Hương, người ta hát điệu hò mái nhì với âm hưởng tự do; ở những đoạn sông nước chảy xiết, dữ dội, người ta sẽ hát điệu hò mái đẩy[3].

Ở tỉnh Thanh Hoá (miền Bắc Việt Nam), sông Mã bắt nguồn từ dãy núi Pu Đen Đinh, chảy qua một phần lãnh thổ nước Lào, về vùng Thanh Hoá rồi đổ ra biển. Đây là một dòng sông dữ dội với những thác nước và dốc thẳm cùng lòng sông thường xuyên biến động. Ở phà đón khách cũng như trên thuyền xuôi theo dòng nước, người lái đò phải đương đầu với sức mạnh của làn nước và họ hát điệu hò sông Mã thể hiện nỗi lo lắng, nhịp nhàng và thay đổi theo hành trình xuôi dòng trên sông. Lúc khởi hành, người ta ca điệu hò rời bến, khi người đưa đò rời bến tàu, hoặc điệu hò mời khách (khúc hát để mời khách trên đò khởi hành). Khi người đưa đò đi ngược dòng, họ hát điệu hò dô ngược, hò chống sào, hoặc điệu “sang” có sự khác biệt nho nhỏ giữa sang nước nhỏ, khi dòng chảy tầm trung, và sang nước lớn khi dòng chảy xiết. Ở những khúc sông dịu dàng hơn, người ta hò điệu hò dô xuôi. Khi thuyền bị kẹt vào một bãi cát, người ta phải dùng điệu hò mắc cạn để gỡ rối tình hình. Thuyền về tới nơi trong điệu hò cập bến[4].

Không chỉ có hình ảnh nước là chủ đề của nhiều câu ca lao động, mà cả dòng chảy, chiều dài của những thuỷ trình cũng là cảm hứng cho làn điệu hay nguồn sáng tác những câu hát thật phong phú. Khi giải lao, nam thanh nữ tú tụ họp để ca những câu hát đối. Chẳng hạn như hát trống quân, họ sẽ chia thành hai nhóm: nam phường và nữ phường. Mỗi phường lại đứng ở mỗi bờ khác nhau của một dòng sông nhỏ để ca hát.

Ở Bắc Ninh; những liền anh, liền chị thường chọn hồ để làm sân khấu biểu diễn những buổi hát quan họ. Hai chàng trai đứng trên thuyền thúng và hai cô gái cũng đứng trên một chiếc thuyền khác cất tiếng hát những tiết mục truyền thống trong buổi tụ họp thân tình hoặc những cuộc thi đấu.

Nước là phần không thể thiếu trong quá trình làm nông đôi khi lại thiếu hụt và việc tưới tiêu sẽ được giải quyết nhờ các guồng nước, nhờ bàn tay con người tát nước bằng gàu sòng, xô xách nước, các đường dẫn nước, hoặc dùng xe để chuyển nước từ nơi này đến nơi khác. Các công việc ấy đã cho ra đời những điệu như Hò ô hay Hò đập nước ở vùng Bình Trị Thiên hay Hò khiêng xẻ nước ở phía Bắc.

Nước là phần không thể thiếu trong quá trình làm nông. Tranh vẽ người nông dân cấy lúa trong cuốn “Chuyên khảo tranh vẽ về Đông Dương, Nam Kỳ” xuất bản năm 1935

Trong thời kỳ hạn hán, khi nước trở nên khan hiếm và việc tưới tiêu phải ngừng lại, người nông dân tổ chức những buổi lễ cầu mưa. Ở tỉnh Thanh Hoá, tại làng Thọ Đôn, khu Vĩnh Lộc hay làng Cao Mật, 12 cô gái trẻ chia đều thành 2 hàng 6 người và có một người quản trò đứng giữa, cầm một chiếc trống gỗ ra tín hiệu, họ hát và múa. Quản trò là người mang chiếc kẹp tóc hoặc làm kiểu tóc đặc trưng và mặc áo lễ màu đỏ hoặc vàng, những người khác trong đội sẽ mặc áo lễ màu khác (xanh dương, hồng và trắng). Mỗi người cầm một mái chèo. Khi người quản trò hát một câu, 12 cô gái ca lại câu hát và múa. Họ kiễng gót xoay vòng tròn và làm những động tác mô phỏng lại hình ảnh người đưa đò. Hai mươi chàng trai trong bộ áo màu đen, thắt lưng lụa, đi vào hai bên cạnh của bàn thờ tế lễ được bày biện để ca ngợi công lao vị Thành Hoàng làng và Long thần, thần Mưa, chuyển thành vòng tròn rồi xếp thành hình chữ A. Bốn người trong số họ, những người dẫn đầu, người đầu tiên cầm một khối gỗ nhỏ, người thứ hai cầm một chiếc trống bỏi con con, người thứ ba cầm một bức trướng, và người thứ tư cầm một chiếc kèn có dăm kèn đôi. Những người khác cầm mái chèo ngắn, tô màu trắng cùng những hình vẽ tượng trưng cho nước và mây.

Những vũ công cầm mái chèo và mô phỏng động tác của người lái đò xuất hiện trong nhiều vũ khúc nghi lễ và dân gian. Chẳng hạn như điệu hát và múa Bả Trạo hay còn gọi là Chèo Cầu Ngư ở Tân Phụng (Bình Định). Nội dung Bả Trạo gồm 2 phần, phần đầu là Cầu Ngư (ca ngợi công đức cá voi, từ hình dáng đến tác dụng đối với đời sống người dân chài); sau đó là phần phản ánh sinh hoạt của dân chài khi biển lặng và lúc gió giông. Mở đầu là một đoạn múa chèo thuyền. Sau khi tổng hậu (người cầm lái) truyền lệnh thì các bạn chèo (từ 8 đến 16 người) tay bồng mái chèo, cùng nhảy bước một từ một hàng dọc rẽ thành hai hàng, rồi chuyển thành bốn hàng dọc. Ở đoạn này, các bạn chèo nhảy theo nhịp sênh của tổng hậu cho đến lúc nào dàn thành bốn hàng dọc ngay ngắn thì dừng lại. Sau khi quỳ lạy ba lạy, họ day mái chèo.Từ đoạn này trở đi, các vai tổng mũi, tổng khoang (còn gọi trung khoang: người đứng giữa khoang thuyền). Tổng lái hát theo các điệu nói lối, hát mam, hát khách, tầu mà. Các bạn chèo thỉnh thoảng xô theo hoặc lặp lại một đoạn hát của các vai tổng. Động tác chèo thứ hai của Bả Trạo là cạy (chống mái chèo xuống đất và dùng một tay mà cạy). Đến đoạn cuối, khi Bả Trạo gay chèo để lên mái nhặt thì động tác đổi tiết tấu nhanh hơn[5].

Động tác của người chèo thuyền xuất hiện trong rất nhiều điệu múa nghi lễ như đoạn hò chèo trong điệu múa Xoan gắn với tục thờ công chúa Xuân Dung, con gái vua Hùng; trong một phần của điệu múa Dô đi liền với tín ngưỡng thờ thần Tản Viên, với điệu múa này, người ta dùng quạt để tượng trưng cho mái chèo; cũng như điệu múa Chèo Tàu trong tục thờ Hai Bà Trưng, người múa bồng mái chèo nhỏ sơn màu đỏ; trong phần múa chèo thuyền khi múa điệu Dậm của tục thờ Lý Thường Kiệt; trong hát Chầu Văn, hình ảnh đó được thể hiện khi Cô Bơ Thoải – con gái vua Thuỷ Tề, nhập vào bà đồng bồng hai mái chèo có dải lụa đỏ buộc trên đầu cán cầm.

Chiếc thuyền trong buổi tế lễ của một làng ở Bình Định những năm 1920. Nguồn: Bảo tàng Quai Branly

Trong tất cả các điệu hò của người đưa đò và trong những khúc hát chèo thuyền, ta thấy xuất hiện cụm “hò khoan”. “Khoan hỡi hò khoan” trong múa Chèo Tàu, “Khoan khoan ta xá hò khoan” trong múa Dậm, “Huầy dô, huầy dô bái hồ là huây” trong múa Dô.

Khi hát hò đưa linh, khúc hò đưa người đã khuất về nơi an nghỉ cuối cùng, những người khiêng quan tài sẽ múa một điệu ủ ê phỏng theo dáng điệu người đưa đò, uyển chuyển, chậm rãi, đầy vẻ tôn kính. Theo tín ngưỡng, người đã qua đời sẽ băng qua một đại dương mênh mông để về dưới Âm Phủ, tức là về nơi chín suối hay hoàng tuyền. Để khởi hành, những người khiêng linh cữu phải chèo, tiễn người quá cố lên chiếc thuyền huyền ảo.

Hình ảnh nước trong dân ca và các điệu múa dân gian đóng vai trò là chủ đề sáng tạo. Hình ảnh này cũng tạo nên nhịp điệu phong phú trong những khúc hát của người đưa đò; nhịp điệu tự do của những dòng sông nước chảy êm dịu; nhịp điệu trắc trở của những chuyến đò khó nhằn khi người đưa đò bắt buộc phải đồng điệu sức chèo của mình với dòng chảy của thác nước; nhịp điệu giục giã trong những cuộc thi chèo thuyền. Hình ảnh người chèo thuyền lại gắn liền với vô vàn những điệu múa dân gian và nghi lễ.

Nước trong nghệ thuật biểu diễn

Nước và người chèo thuyền cũng xuất hiện ở một vài loại hình biểu diễn nghệ thuật cụ thể như hát chèo, hát tuồng và múa rối nước.

Từ “chèo” trong hát chèo – một loại hình sân khấu cổ truyền của Việt Nam – mang nghĩa mái chèo. Vài người cho rằng ngày xưa, những nghệ sĩ hát chèo bồng mái chèo và mô phỏng lại hình ảnh người chèo thuyền. Theo một vài ý kiến khác, chữ “chèo” là lối nói trại của từ “trào” (trào phúng). Theo giáo sư Hà Văn Cầu, nhà nghiên cứu lỗi lạc về hát chèo, thì nguồn gốc của chữ “chèo” là cách phát âm biến đổi từ chữ “trò” – vốn mang nghĩa là một cảnh, hài kịch và rộng hơn là một trích đoạn sân khấu. Các văn thư cổ có nhắc tới vở “Kim Nham trò” mà ngày nay ta còn biết tới dưới tên là “Chèo Kim Nham”. Dù sao chăng nữa, ta vẫn thấy tồn tại một vài trích đoạn chèo sử dụng hình ảnh mái chèo. Chẳng hạn như vở Mục Liên cứu mẹ, người mẹ trong vở này sau khi mất bị đày xuống địa ngục và sống ở Huyết Hồ vì những tội ác bà đã làm khi còn sống; Mục Liên đã tích đức, tuân theo tất cả những giáo lý của đạo Phật để có thể gặp lại linh hồn của người mẹ đã khuất. Cậu phải lênh đênh trên thuyền, trải qua hành trình đằng đẵng giữa biển cả bao la – ranh giới giữa cõi âm và trần thế, đến Huyết Hồ để cứu mẹ ra.

Trong một vở chèo khác tên Tuần Ty – Đào Huế, Tuần Ty phải chèo thuyền để đưa người vợ từ phương Bắc trở về Huế. Người diễn vai Tuần Ty và vợ chàng mô phỏng lại hành động chèo thuyền và ca những điệu hệt như phong cách những người lái đò, kèm theo đó là những câu “hò khoan” hồi đáp của dàn đồng ca mà ta luôn thấy trong những điệu hò của người đưa đò.

Trong nghệ thuật sân khấu cổ truyền, Châu Sáng qua sông là vở có nhiều cảnh thể hiện hình ảnh sông nước nhất. Châu Sáng, một viên mãnh tướng, giúp một vị quân tử thoát khỏi sự truy lùng của tướng cướp. Phân cảnh diễn ra ở bờ sông, chẳng thể tìm thuyền, cũng chẳng một bóng người qua lại, Châu Sáng dùng chiếc thúng làm thuyền sang sông. Với bảo kiếm mượn trong một ngôi đền, chàng đã cứu được người quân tử, bỏ lại tên cướp ở phía sau.

Trong một trích đoạn khác từ vở Triệu Tử đoạt ấu chúa, công chúa nước Ngô, kết hôn và trở thành hoàng hậu nước Hàn, hay tin mật báo rằng vương huynh và mẫu hậu của mình mắc bạo bệnh. Trong cơn hốt hoảng, nàng quyết định trở về quê hương cùng thái tử mới ra đời cách đó không lâu. Thực chất, đó là kế do phu nhân của vương huynh bày ra hòng đưa ấu chúa về làm con tin. Triệu Tử – một viên tướng dũng mãnh, được giao nhiệm vụ giải cứu thái tử. Khi biết tin thuyền của hoàng hậu đã ra khơi xa, ông liền đi khắp nơi tìm một chiếc thuyền để đuổi cho kịp. Trong lúc vội vã, ông dắt cả ngựa xuống thuyền nhưng chiếc này vô cùng mỏng manh và đã bị lật. Cảnh người lái đò già cố cho thuyền không chao đảo và ra sức đuổi kịp hoàng hậu là một lớp diễn rất được yêu thích, đồng thời là một minh hoạ đẹp cho hình ảnh nước trên sân khấu kịch truyền thống.

Tuy vậy, loại hình nghệ thuật biểu diễn mà nước đóng vai trò tối quan trọng chắc chắn là múa rối nước. Loại hình này không giống như loại rối bao tay diễn tại Pháp và Ý, cũng không phải rối que như Indonesia hay rối dây của Ấn Độ, càng không phải những con rối khổng lồ của Nhật Bản. Rối nước là những loại đặc biệt điều khiển bằng sào đơn, hoặc bằng sào kết hợp với que hoặc dây, tất cả đều chuyển động trên mặt nước của hồ, ao, sông ngòi. Người ta thấy múa rối nước tại miền Bắc Việt Nam, gần đây, người ta diễn múa rối nước trong những bể nước (15x10m) xây riêng cho các buổi diễn tổ chức ngoài phạm vi làng xã.

Mỗi con rối gồm hai phần: phần thân chuyển động trên mặt nước và phần đế chìm dưới nước, vừa để giữ thăng bằng cho con rối vừa để đóng vai trò như chiếc phao nổi. Phần thân gắn liền với giá đỡ thành một khối. Chúng được làm từ các loại gỗ nhẹ như gỗ vông, gỗ sung, hoặc bằng vải với những hình tượng như rắn hoặc rồng, được phủ bên ngoài một lớp sơn bảo vệ.

Các con rối tái hiện hình ảnh người nông dân cày ruộng hay đánh cá; mục đồng chăn trâu; các đô vật lực lưỡng; những tên cướp hung hãn, những chiến binh quả cảm; các cô thôn nữ chăm chỉ cấy lúa, các tiên nữ duyên dáng múa hát; những con trâu cày ruộng hay trâu chọi; từng đàn cá, vịt tung tăng dưới nước; cả những con cáo đang rình mồi; cùng các linh vật như rồng phun lửa, phun nước, phượng hoàng và kỳ lân. Tất cả nhảy múa trong tiếng trống rộn ràng.

[…]

Nước có vai trò vô cùng quan trọng ở Việt Nam, cả trong đời sống thường nhật lẫn trong suy tư của người Việt. Đó là yếu tố quyết định của nền văn minh lúa nước, nền tảng cho ẩm thực Việt Nam, nước cũng có thể gây ra những thảm hoạ khủng khiếp, dù bắt nguồn từ trên trời, biển cả hay sông ngòi với những trận lũ tàn phá dữ dội. Nước còn hiện diện trong nhiều loại hình nghệ thuật biểu diễn và chính là nguồn gốc ra đời của múa rối nước – một nghệ thuật đã tồn tại hàng nghìn năm.■

Trần Văn Khê

Lê Hằng Nga (dịch)

Chú thích:

[1] Lư Nhật Vũ, Lê Giang (1981). Dân ca Bến Tre (tr. 27 – 42). Ty Văn hoá và Thông tin Bến Tre

[2] Nguyễn Văn Bổn và cộng sự (1983). Văn nghệ dân gian Quảng Nam, Đà Nẵng (tr. 360 – 390). Sở Văn hoá và Thông tin Đà Nẵng

[3] Trần Việt Ngữ, Nguyễn Thành Duy (1967). Dân ca Bình Trị Thiên (tr. 20 – 23). Hà Nội: NXB Văn hoá

[4] Nhóm Lamson (1965). Dân ca Thanh Hoá (tr.13 – 18). Hà Nội: NXB Văn hoá

[5] Lâm Tô Lộc (1979). Nghệ thuật múa dân tộc Việt Nam (tr. 24 – 25). Hà Nội: NXB Văn hoá

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN