Bản đánh giá này được Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đưa ra ngay sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết vào tháng 1/1973. Báo cáo phân tích khả năng tuân thủ hiệp định của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, triển vọng tái lập hòa bình tại Lào và Campuchia, cùng các tính toán chiến lược liên quan đến việc rút quân, duy trì hậu cần và những hoạt động quân sự có thể tiếp diễn. Đây là một tài liệu phản ánh cái nhìn thận trọng của giới tình báo Mỹ về triển vọng ổn định ở Đông Dương trong vòng 3–6 tháng sau Hiệp định Paris. Tạp chí Phương Đông trích dịch giới thiệu tới độc giả những nhận định chính của bản báo cáo (Ngôn ngữ trong bài được giữ nguyên so với bản gốc để đảm bảo giá trị tham khảo).
Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ
Bản ghi nhớ Tình báo mật
Ngày 09/02/1973
CÁC Ý ĐỊNH CỦA HÀ NỘI TRONG 3 ĐẾN 6 THÁNG TỚI
1. Bất kỳ đánh giá nào về “các ý định của Hà Nội” vào giữa tháng 2/1973 đều phải được đặt trong một khung thời gian cụ thể. Không có bằng chứng nào cho thấy Bộ Chính trị Đảng Lao Động (“Hà Nội”) đã từ bỏ mục tiêu lâu dài là thống nhất Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Cộng sản, và tương tự, cũng không có dấu hiệu nào – chắc chắn không có dấu hiệu công khai nào – cho thấy Bộ Chính trị sẵn sàng chấp nhận tình trạng “hai miền” vô thời hạn như ở Đức hay Triều Tiên.

2. Cho dù Bộ Chính trị đã âm thầm quyết định tạm hoãn việc tích cực theo đuổi mục tiêu thống nhất và trước mắt tập trung vào việc tái thiết “căn cứ miền Bắc” hay không, thì rất có khả năng họ đã đưa ra một số quyết định về các ưu tiên chiến lược tổng quát trong một hoặc hai năm tới. Tuy nhiên, có lẽ họ vẫn chưa quyết định sẽ phải thực hiện những hành động cụ thể nào. Với những lợi ích đang bị đe dọa và các yếu tố cần cân nhắc, hiện tại vẫn còn quá sớm để đưa ra những quyết định như vậy. Những quyết định đó sẽ phải được xây dựng dựa trên các xu hướng quân sự, chính trị và kinh tế diễn ra ở miền Nam Việt Nam trong khoảng 6 tháng tới – dựa trên tác động của các sự kiện mùa xuân và đầu hè này đối với vận mệnh và triển vọng của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, dựa trên thái độ của Mỹ, Trung Quốc cộng sản, Liên Xô, cùng các diễn biến khu vực và quốc tế khác.
3. Tuy nhiên, bức tranh ngắn hạn thì rõ ràng hơn đôi chút. Nếu chúng ta giới hạn ở khoảng thời gian từ 3 đến 6 tháng tới như yêu cầu, có thể nói một cách khá chắc chắn về lập trường hiện tại của Hà Nội và những yếu tố sẽ định hình các động thái có thể có của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn này: Hà Nội thực sự cần một khoảng thời gian nghỉ ngơi và muốn dành nhiều sự chú ý cũng như công sức cho việc tái thiết miền Bắc. Họ chưa thể có niềm tin rằng nếu bị khiêu khích, Mỹ (tức Tổng thống Nixon) sẽ không đáp trả mạnh mẽ một lần nữa, ít nhất là bằng không quân. Khoảng thời gian 6 tháng vẫn chưa đủ để hoàn tất việc tái thiết cơ sở hạ tầng đã bị tàn phá nặng nề ở phía nam hoặc để thử nghiệm đầy đủ các cơ hội giành lợi thế về chính trị và tâm lý trong tình hình mới đang hình thành ở Nam Việt Nam sau lệnh ngừng bắn. Do đó, trong vài tháng tới, Hà Nội rất có thể sẽ muốn hành động thận trọng – và nhìn chung là lặng lẽ. Hơn nữa, những ràng buộc đối với Hà Nội một phần đến từ mạng lưới quan hệ quốc tế, dù mong manh, nhưng có vẻ đủ vững chắc để kéo dài trong 6 tháng tới.

4. Điều này không có nghĩa là phía Cộng sản định tuân thủ lệnh ngừng bắn một cách tuyệt đối trung thực. Rất có thể sẽ xảy ra những đợt giao tranh ác liệt trở lại khi Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát (ICCS) tỏa ra vùng nông thôn, với lực lượng Việt Cộng và Quân đội Nhân dân Việt Nam (cũng như lực lượng VNCH) tìm cách cải thiện vị trí chiến thuật vào phút chót. Tuy nhiên, hiện tại phía Cộng sản có lẽ không có kế hoạch phát động bất kỳ cuộc tấn công quy mô lớn hay thậm chí trung bình nào trong ngắn hạn, dù tất nhiên các kế hoạch đó vẫn có thể được xem xét lại. Chẳng hạn, nếu vị thế của phía Cộng sản so với VNCH bắt đầu suy giảm một cách nguy hiểm, họ có thể cảm thấy bị thúc ép phải sử dụng đến những biện pháp quyết liệt.
5. Trừ phi xảy ra những diễn biến như vừa nêu ở trên, phía Cộng sản hiện không chịu bất kỳ áp lực cấp bách nào để buộc phải tái diễn các cuộc giao tranh quân sự quy mô lớn. Vị thế của họ ở miền Nam trong hoàn cảnh hiện tại không có gì nghiêm trọng. Hiệp định Paris đã mang lại cho Hà Nội những vị thế thiết yếu tối thiểu: người Mỹ rút đi và các điều khoản cho phép duy trì lực lượng vũ trang đáng kể ở miền Nam nhằm bảo đảm việc bảo vệ và duy trì cơ sở hạ tầng của Cộng sản – hoặc ít nhất là đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp của họ – tại các khu vực an toàn. Từ những khu vực an toàn này, Đảng có thể cử các đặc vụ thực hiện các nhiệm vụ chính trị, tâm lý và khủng bố trên khắp miền Nam Việt Nam mà không gây rủi ro lớn cho sự tồn tại của chính họ. Hà Nội rất có thể sẽ tận dụng khoảng thời gian ngừng bắn để cho quân nghỉ ngơi và bổ sung trang bị, tái thiết và cải thiện bộ máy chính trị Cộng sản ở miền Nam, đồng thời đánh giá rõ hơn về tác động của hiệp định đối với quyết tâm và khả năng tồn tại của Chính phủ VNCH.
6. Chắc chắn sẽ có sự nhấn mạnh quyết liệt hơn rất nhiều vào hành động chính trị so với những năm gần đây. Những người cộng sản sẽ sử dụng chiến thuật mặt trận dân tộc, giảm nhẹ yếu tố cộng sản để cố gắng làm mới lại hình ảnh đã bị tổn hại nghiêm trọng bởi vụ thảm sát Huế và những hành động tàn bạo tương tự. Họ sẽ tự miêu tả mình là đại diện cho hòa bình và hòa giải, đối lập với một VNCH vẫn hiếu chiến; họ sẽ tấn công vào các điểm yếu của VNCH như tham nhũng và bất công xã hội, đồng thời chủ trương giải tán các lực lượng của VNCH, đưa người tị nạn trở về quê cha đất tổ, và thả tất cả tù chính trị. Họ khó có khả năng chấp nhận các cuộc bầu cử do chính phủ VNCH hiện tại tổ chức – chắc chắn không phải kiểu trưng cầu dân ý hay tổng tuyển cử “a hoặc b” – nhưng họ sẽ cố gắng đổ hết trách nhiệm lên đầu VNCH về việc hai bên ở miền Nam (VNCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ND) có lẽ sẽ không đạt được thỏa thuận tổ chức bầu cử. Những lập trường này dường như được tính toán rất khéo để thu hút những thành phần dân chúng – tiêu biểu là Phật giáo Ấn Quang – vốn không thực sự trung thành với bên nào, dù trong những năm gần đây họ có xu hướng coi VNCH là “đỡ ác hơn”.
7. Vấn đề có nhiều khả năng làm lung lay cam kết ngừng bắn của Hà Nội nhất chính là câu hỏi trung tâm – cố ý được để mơ hồ trong hiệp định – về tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam. Trong 3 đến 6 tháng tới, việc giải quyết vấn đề này khó có khả năng tiến xa đến mức buộc Hà Nội phải đưa ra quyết định cơ bản về việc can dự trực tiếp trở lại miền Nam. Tuy nhiên về dài hạn, nếu đàm phán giữa hai bên ở miền Nam hoàn toàn đổ vỡ, Bắc Việt có thể cho rằng cần phải can thiệp vào miền Nam theo cách vi phạm hiệp định. Nếu chính quyền Thiệu mở một chiến dịch truy quét nhằm triệt phá các tài sản quan trọng của Việt Cộng và thành công, thì cũng có thể gây ra phản ứng tương tự. Hành động của Hà Nội trong những trường hợp như vậy sẽ bị ảnh hưởng bởi rất nhiều biến số, chẳng hạn như nhận thức của họ về cán cân lực lượng giữa Sài Gòn và Việt Cộng (và do đó là mức độ cần thiết phải can thiệp), hiệu quả của cơ chế giám sát, các điểm bất đồng cụ thể giữa hai bên ở miền Nam, và những tín hiệu nhận được từ các nước lớn…
8. Một lĩnh vực mà Hà Nội gần như chắc chắn sẽ tập trung rất nhiều công sức là quan hệ với Washington. Những người Cộng sản có lẽ tin rằng họ chẳng mất gì mà còn có thể thu được nhiều lợi ích trong lĩnh vực này. Đặc biệt, họ có thể hy vọng làm xáo trộn quan hệ giữa Washington và Sài Gòn; họ nghĩ rằng vun đắp quan hệ với Mỹ sẽ có thể giúp họ có thêm lợi thế trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc.
9. Nếu bản thân Hà Nội ngay từ đầu tương đối kiên quyết trong việc tuân thủ các điều khoản ngừng bắn của Hiệp định, thì câu hỏi tự nhiên được đặt ra là liệu Việt Cộng có thể tự ý “phá rào” hay không. Dĩ nhiên, trong vài tháng gần đây rõ ràng là Bắc Việt còn do dự hơn Moscow và Bắc Kinh trong việc đi đến một dàn xếp, và Chính phủ Cách mạng Lâm thời thì còn do dự hơn cả ban lãnh đạo ở Hà Nội. Các diễn biến ở Nam Việt Nam có thể tiến triển đến mức Việt Cộng cảm thấy rằng nối lại chiến sự là lựa chọn tốt nhất của họ (hoặc thậm chí là lựa chọn thiết yếu). Tuy nhiên, điều này có vẻ khó xảy ra trong 6 tháng tới. Việt Cộng gần như chắc chắn tin rằng nhiệm vụ cấp bách nhất của họ là tái xây dựng lực lượng, cả về quân sự lẫn chính trị; họ cũng có thể nghĩ rằng cơ hội thành công của mình sẽ tăng dần theo thời gian. Do đó, giả sử rằng đánh giá của chúng tôi về khả năng hiện tại của họ là đúng, và giả sử rằng các diễn biến không dồn họ vào chân tường, thì khả năng Việt Cộng đơn phương vi phạm hiệp định trên quy mô lớn trong 6 tháng tới nhìn chung là thấp.

10. Chuyển sang Lào, các hoạt động tấn công mạnh mẽ hiện nay của Quân đội Bắc Việt tại đây dường như nhằm cải thiện vị thế đàm phán của Pathet Lào. Khi các bên đạt được một thỏa thuận ngừng bắn tại Lào, chúng tôi dự đoán hoạt động quân sự sẽ giảm mạnh. Có thể có một đợt giao tranh tăng vọt vào phút chót, nhưng trong 6 tháng tiếp theo, nhiều khả năng sẽ có rất ít – hoặc không có – các cuộc tấn công lớn tại Lào.
11. Tuy nhiên, về vấn đề rút quân, ở nhiều nơi – bao gồm hầu hết báo chí phương Tây – đang có sự nhầm lẫn khá rõ rệt giữa khái niệm “ngừng bắn” và hiểu biết về những gì Hiệp định Paris yêu cầu. “Ngừng bắn” và rút quân Mỹ dường như đang bị xem là hai thành tố lớn duy nhất của hiệp định. Phía cộng sản chắc chắn sẽ kiên quyết đòi rút quân Mỹ và có lẽ nhìn chung sẽ tuân thủ các điều khoản ngừng bắn của hiệp định, ít nhất là trong 3-6 tháng tới. Tuy nhiên, về việc rút quân của lực lượng cộng sản, Bắc Việt khó có khả năng thực hiện đầy đủ các điều khoản của Hiệp định Paris yêu cầu rút toàn bộ lực lượng quân sự khỏi Lào (và Campuchia), dù một số đơn vị chiến đấu có thể được kéo khỏi tiền tuyến hoặc rút về miền Bắc. Họ cũng không có ý định dỡ bỏ Đường mòn Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, cũng có thể sẽ có một số đợt rút quân – thậm chí rút đáng kể – vì phía cộng sản không còn cần lượng vận chuyển hậu cần lớn như hiện nay và không còn phải đối phó với các cuộc ném bom nữa. Dù vậy, Hà Nội gần như chắc chắn sẽ giữ lại đủ lực lượng trong khu vực để duy trì sự hiện diện quân sự đáng kể và đảm bảo mạng lưới xâm nhập – hậu cần tiếp tục hoạt động.
12. Có nhiều lý do để Hà Nội duy trì lực lượng quân sự mạnh tại Lào và Campuchia, cũng như phớt lờ các giới hạn về tái trang bị theo quy định “một đổi một” (thay thế thiết bị cũ/hỏng) của Hiệp định Paris.
a. Nếu rút toàn bộ lực lượng khỏi Lào và Campuchia, Hà Nội sẽ bị suy giảm nghiêm trọng khả năng lựa chọn các phương án hành động tương lai trên toàn Nam Việt Nam, bao gồm khả năng nhanh chóng nối lại chiến tranh quy mô lớn.
b. Việc rút quân – hoặc nghiêm túc hạn chế tiếp tế theo mức hợp lệ mà Hiệp định Paris cho phép – có thể gây tác động nặng nề lên tinh thần của Việt Cộng và Chính phủ Cách mạng Lâm thời.
c. Hà Nội chắc chắn nhận thức rằng việc tuân thủ chặt chẽ các quy định của hiệp định về rút quân và tiếp tế sẽ làm suy yếu nghiêm trọng các triển vọng của Việt Cộng/Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Lịch sử hành vi của phe cộng sản trong hai thập kỷ qua cho thấy họ sẽ không nhất thiết cảm thấy bị ràng buộc bởi ngôn từ (hoặc tinh thần) của Hiệp định Paris trong lĩnh vực này; thay vào đó, họ sẽ thử nghiệm và dò xét xem họ có thể đi xa đến đâu mà không khiến Mỹ có phản ứng trả đũa.
13. Tình hình ở Campuchia phức tạp hơn ở Việt Nam hoặc thậm chí ở Lào. Hà Nội có thể xem một lệnh ngừng bắn tại Campuchia là chấp nhận được. Nhưng lực lượng Khmer Đỏ, hiện đang thực hiện phần lớn chiến sự, lại không có dấu hiệu muốn đạt được thỏa thuận. Tuy nhiên, điều này có thể thay đổi, vì Khmer Đỏ vẫn phụ thuộc nặng nề vào Bắc Việt về hậu cần. Dù thế nào, Khmer Đỏ hiện không đủ mạnh để có thể tự mình lật đổ Chính phủ Cộng hòa Khmer (GKR), do đó tình hình tương tự hiện nay – hoặc có thể một lệnh ngừng bắn mong manh – có vẻ là viễn cảnh khả dĩ nhất cho Campuchia trong 3 đến 6 tháng tới. Bất kể các thỏa thuận giữa người Campuchia ra sao, Hà Nội gần như chắc chắn sẽ duy trì, như ở Lào, một mức độ hiện diện nào đó ở phía đông Campuchia.■
Minh Thư dịch