Thể chế An Nam (kỳ 1)

Từ góc nhìn của nhiều học giả và nhân chứng phương Tây đầu thế kỷ XX, người An Nam hiện lên qua những lát cắt vừa quen thuộc vừa mới lạ. Ở An Nam xưa, các thiết chế pháp lý được xây dựng trên nền tảng của tôn giáo, đạo đức và tư tưởng Khổng giáo, nơi bình đẳng xã hội được coi là nguyên tắc cốt lõi. Tạp chí Phương Đông trích dịch và giới thiệu tới độc giả chương viết về thể chế An Nam trong cuốn L’Indochine d’autrefois et aujourd’hui (Đông Dương xưa và nay) xuất bản năm 1934 của tác giả Jean Baptiste Alberti. Các chi tiết, từ ngữ trong bài thể hiện quan điểm của tác giả, chúng tôi giữ nguyên văn để đảm bảo tính khách quan.

Luật pháp là tấm gương phản chiếu nền văn minh. Chính trong các thiết chế pháp lý mà tinh thần, tâm thức của một dân tộc được thể hiện rõ nét nhất. Tuy nhiên, để làm sáng tỏ hơn các thiết chế chủ yếu, trước khi đi sâu vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng, cần rút ra những nguyên tắc có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới toàn bộ hệ thống. Hơn nữa, các thiết chế An Nam bổ sung cho nhau, đan xen vào nhau để tạo thành một chỉnh thể.

Những nguyên tắc nền tảng cho các thiết chế An Nam

Có thể nói rằng, gốc rễ của tất cả các thiết chế An Nam chính là niềm tin tôn giáo và đạo đức. Dù là trong việc tổ chức cả vương quốc, làng xã, gia đình, quyền sở hữu, hay tư pháp… ở đâu tôn giáo, tín ngưỡng và đạo đức cũng đều có ảnh hưởng.

Các quy tắc điều chỉnh thiết chế này không phải lúc nào cũng được ghi thành văn. Hiến pháp của đất nước và luật dân sự phần lớn lan rộng theo tập quán truyền miệng. Tuy nhiên, một số nguyên tắc lại được ghi thành văn và được tìm thấy trong các bộ luật hình sự hoặc trong những đầu sách kinh điển. Những nguyên tắc đạo đức được lồng ghép trong những bộ luật đồ sộ.

Một trong những nguyên tắc cần được nhắc tới trước tiên là nguyên tắc bình đẳng. Thực vậy, bình đẳng chính là nền tảng của xã hội An Nam. Xã hội này được tổ chức theo những quan niệm của Khổng Tử. Bề trên là Hoàng đế, rồi dưới quyền cai quản của ông: một bên là quan lại – tức là những người có tri thức, và với tư cách đó, được giao nhiệm vụ phụ giúp việc cai trị và quản lý đất nước; bên kia là quần chúng nhân dân.

Tuy nhiên ngoại trừ vị quân vương là con của Trời, những người khác đều sinh ra bình đẳng về quyền lợi, bởi các quan lại được tuyển chọn thông qua thi cử, xuất thân từ dân chúng, và con đường bước vào quan trường mở ra cho tất cả mọi người. Như de Lanessan đã viết: “… quan lại xuất thân từ nhân dân qua việc tuyển chọn không ngừng những cá nhân thông minh nhất, chăm chỉ nhất, nhiệt thành nhất, học vấn cao nhất, giỏi giang nhất trong nghệ thuật quản trị và cai trị; không phân biệt nguồn gốc, những người tài năng nhất có thể dần dần thăng tiến đến những địa vị cao nhất trong bộ máy chính quyền”.

Như vậy, đội ngũ quan lại được bồi dưỡng từ chính nhân dân. Mọi đứa trẻ theo học ở trường, về nguyên tắc, đều có thể là một vị quan tương lai. Mọi tú tài đều có thể tin rằng chiếc mũ đen viền bạc của mình đang che chở cho bộ óc của một vị Thượng thư tương lai”[1].

Các quan lại trong buổi lễ Tứ tuần Đại khánh của vua Khải Định ở điện Thái Hòa năm 1924. Nguồn: Lưu trữ của Cao ủy Pháp tại Đông Dương

Do đó, ở An Nam không tồn tại sự phân biệt xã hội nào khác ngoài sự phân biệt dựa trên tài năng. Thực ra một số đặc quyền được ban cho quan lại, và trong một số trường hợp, cho cả gia đình họ (miễn thuế thân, miễn nghĩa vụ quân dịch, miễn lao dịch). Nhưng những đặc quyền ấy không nhằm tạo ra bất bình đẳng, mà để khuyến khích việc học hành và để triều đình tìm ra những tài năng cần dùng cho sứ mệnh cai trị (Nguyễn Mạnh Tường).

Tuy nhiên, về nguyên tắc, bình đẳng tồn tại giữa người An Nam với nhau, nó lại không được thừa nhận giữa người An Nam và những người ngoại quốc. Những người này có thể bị bắt làm nô lệ. Người Lào, người Cao Miên trong quan hệ hôn nhân bị coi là hèn kém. Ngược lại, người Hoa được xem là khách quý, do về mặt di truyền họ đã được thừa nhận là hòa hợp, và do đó hôn nhân với người Hoa là hợp pháp. Khi chúng ta đến, chế độ nô lệ vẫn còn tồn tại ở các tỉnh miền tây Nam Kỳ.

Trong pháp luật An Nam, Hoàng đế – với tư cách là đại diện cho Trời – hiện thân cho lợi ích chung và đồng nhất với quốc gia. Vì thế, nhu cầu của nhà nước cũng chính là nhu cầu của Hoàng đế.

Mặt khác, đạo đức đã thấm nhuần vào luật pháp. Nhà lập pháp áp đặt các nghĩa vụ đạo đức cho cá nhân và trừng phạt việc vi phạm bằng những hình phạt nghiêm khắc. Bởi nhiều vấn đề trong đời sống xã hội, pháp lý, trí tuệ, tình cảm được đặt trên bình diện đạo đức, có thể nói rằng hầu như mọi hành vi và cử chỉ của cá nhân đều rơi vào phạm vi của luật hình sự – cả những việc vốn thuộc tòa án thông thường trong các nền văn minh phương Tây, lẫn những việc mà ở đó chỉ thuộc về tự vấn lương tâm. Đây là một đặc điểm cơ bản mà pháp luật An Nam có điểm chung với các nền văn minh Viễn Đông khác. Đó là nét độc đáo, nhưng cũng cần thấy ở đó nỗi lo ngại của các vị quân vương – lo rằng mình không thể bắt buộc thần dân tuân thủ, nếu không phải là tự giác, thì ít nhất cũng là dưới sự cưỡng chế, những giáo huấn của Khổng Tử hay sao?

Từ góc nhìn của các vua chúa An Nam, sự lo ngại ấy hoàn toàn dễ hiểu, khi mà thần dân vốn nhẹ dạ, dễ thay đổi và sẵn sàng nổi loạn. Với tính khí của dân chúng như vậy, Hoàng đế hiểu rằng ông chỉ có thể duy trì trật tự bằng cách đưa các giáo huấn của Khổng Tử vào trong luật pháp, và kèm theo đó là những hình phạt nghiêm khắc.

Khổng Tử đã đặt ra cách thức để tuân thủ các giáo huấn, ông tạo ra lễ nghi. Noi theo tấm gương ấy, nhà lập pháp cho rằng để khiến cá nhân không chỉ công bằng, chính trực mà còn biết thiện lương và đạo hạnh, cần phải buộc con người chỉ được bộc lộ tư tưởng của mình thông qua những khuôn thức chặt chẽ, những nghi lễ cụ thể. Quyển Lễ luật đã xác định cách cá nhân phải cư xử trong những tình huống khác nhau của đời sống công cộng, cũng như cách tiến hành các nghi lễ và tế tự. Bộ luật này giúp cá nhân hoàn thành bổn phận của mình. Nhưng, theo tư tưởng của cả Khổng Tử lẫn nhà lập pháp, nó còn nhằm rèn luyện cho con người luôn ở trong chính đạo. Như ông Nguyễn Mạnh Tường đã viết rất xác đáng: “Việc lặp đi lặp lại những cử chỉ giống nhau, sự tái diễn của các hành vi tương tự nhau, việc thường xuyên thực hiện nghi lễ – một hình thức để bộc lộ cảm xúc nội tâm, tất cả những điều đó đều có khả năng nuôi dưỡng cảm xúc nếu nó đã tồn tại, hoặc tạo ra cảm xúc nếu như chưa từng có”.

Như vậy, cá nhân hầu như không còn có thể để lại một chút sáng kiến nào, vì người ta đã nói với anh rằng: “Đây là bổn phận của ngươi và đây là cách ngươi phải thực hiện”. Nhưng trong cùng trật tự tư tưởng ấy, nhà lập pháp còn đi xa hơn nữa, bắt tư tưởng phục vụ cho lợi ích của quốc gia.

Cá nhân không thể phê phán triều đình: họ bị cấm đưa ra những lời khiển trách hay chỉ trích nghiêm trọng nhắm vào chính sách của chính quyền. Luật pháp thậm chí điều chỉnh cả những hình thức khác nhau của tính tò mò và các hoạt động giải trí tinh thần: “Những kẻ lén lút cất giữ trong nhà các vật dụng hay dụng cụ tượng trưng cho Trời, cũng như những sách bị cấm, chẳng hạn như sách có hình bùa chú, sách bói toán, lịch của bảy vì tinh tú, hay những sách dạy cách đoán định điềm lành dữ bằng quan sát sao và hiện tượng thiên nhiên, sẽ bị trừng phạt lưu đày tới vùng xa xôi”. Chỉ những sách kinh điển, sách lịch sử, các sách triết học và các tác phẩm văn học có ích cho việc học tập những tri thức về thế giới mới được phép khắc in và phổ biến.

“Đối với những sách viết về Đạo giáo, Phật giáo, các tà thuyết, cũng như tài liệu có nội dung phản nghịch, các tiểu thuyết viết bằng ngôn ngữ bản xứ và những bài ca vần có tính dung tục thì không được phép in, bày bán hay mua, vì chúng làm tổn hại đến thuần phong mỹ tục”.

Chắc chắn là, những quy định ấy được ban hành “nhằm tiêu diệt mầm mống những hạt giống hoài nghi, vốn nguy hiểm gấp đôi cho sự yên ổn của tâm hồn cá nhân và đối với sự ổn định của quốc gia”.

Và cũng không nghi ngờ gì rằng “tinh thần bị teo tóp, không thể hoạt động trong cõi thuần khiết của tư duy lý thuyết, thì nó sẽ hướng tới việc giải mã những ẩn số của con tim, khai mở ý nghĩa đạo đức của đời sống”; và từ sự tập trung ấy sẽ nảy sinh “một nền luân lý, vốn là tước hiệu vinh quang rực rỡ nhất của nền văn minh phương Đông” (Nguyễn Mạnh Tường). Thế nhưng, phương diện khoa học nghèo nàn nào là kết quả cho việc trí tuệ bị bóp nghẹt? Và việc nô lệ hóa tinh thần ấy sẽ giáng đòn ra sao vào tự do? Ở trên, ta đã nói rằng trên nguyên tắc, tồn tại bình đẳng giữa các công dân trong xã hội An Nam; nhưng bình đẳng ấy sẽ ra sao trong một hệ thống chính quyền không thừa nhận tự do ý kiến? Thêm nữa, phải chăng chính tình trạng ấy sẽ gây ra và khuyến khích thói giả dối – một thói xấu mà ngay cả các vị vua An Nam cũng đã thừa nhận, mà người châu Âu thường xuyên trách cứ ở người dân An Nam?

Người An Nam thậm chí cũng không thể hưởng lợi từ kiến thức của các dân tộc khác để khắc phục thiếu sót về tri thức của mình, bởi lẽ về nguyên tắc, mọi tiếp xúc với họ đều bị cấm. Nhằm ngăn chặn sự khống chế của người ngoại quốc đối với nền kinh tế quốc gia, những bộ luật đầu tiên đã cấm hôn nhân giữa người An Nam và người ngoại quốc cũng như việc nhượng lại quyền sở hữu đất đai cho người ngoại quốc. Một chỉ dụ năm 1754 còn cấm người bản xứ buôn bán với nước ngoài.

“Ở các chợ làng và các bến thuyền, chỉ được phép bán dược liệu Trung Hoa; không được bán bất cứ hàng hóa, vật dụng hay sản phẩm nào có xuất xứ từ Trung Hoa. Dân làng ven biển không được để thương nhân ngoại quốc buôn bán; không được để họ trú ngụ hay cho phép tích trữ tiền tệ”.

Về sau, tuy đã có một số biện pháp nới lỏng đối với những quy định này, nhưng nguyên tắc ấy vẫn luôn được duy trì.

Tính bài ngoại của pháp luật đặc biệt nhắm vào người Hoa. Họ đã từng đến vùng đất của người Giao Chỉ với tư cách của kẻ chinh phục. Uy thế mà họ từng có được trên vùng này thôi thúc họ quay trở lại. Hơn nữa, người Hoa đoàn kết và tiết kiệm, những phẩm chất khiến họ trở thành những đối thủ đáng gờm trong cạnh tranh kinh tế, đặc biệt là thương mại. Người ta dễ hiểu rằng các vị quân vương An Nam đã tìm cách bảo vệ lãnh thổ của mình trước “cuộc xâm lăng hòa bình” của những láng giềng ấy, vốn càng đáng sợ hơn bởi họ di cư ồ ạt vì nhu cầu cấp bách từ chính quê hương đang ngày càng đông đúc.

Người ta còn nhớ rằng chính người Hoa đã khai hoang ruộng đất; rằng vào thời miền Nam yên bình, nhiều người trong số họ đã định cư ở đó như những người khai khẩn; rằng về sau, khi nhà Minh sụp đổ, hàng ngàn người Hoa đã đến xin khai hoang đất của chúa Nguyễn và được cho phép đi khai thác những vùng đất ở Campuchia; rằng vào năm 1712, Mạc Cửu – người khai khẩn vùng Hà Tiên, đã quy phục dưới quyền chúa Nguyễn.

Các nho sĩ và thông ngôn ở tòa Công sứ Hà Nội những năm 1883 – 1886. Ảnh chụp bởi Charles Edouard Hocquard.

Dường như những sự kiện này khiến ta nghĩ rằng người Hoa có quyền sở hữu đất đai ở xứ An Nam. Thực tế không phải vậy, dù có những ngoại lệ được đưa ra vì các lý do đặc biệt, thì nguyên tắc cấm sở hữu đất đai – áp dụng cho mọi người ngoại quốc, cũng được áp dụng đối với người Hoa.

Dù sao đi nữa, chính việc các vua chúa An Nam kiên quyết áp đặt sự cô lập lên đất nước mình đã không tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển. Và như ta sẽ thấy sau này, đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc người Pháp xâm lược.

Nhưng sự tiến bộ còn bị kìm hãm bởi một nguyên nhân khác nữa: tư tưởng truyền thống. Người ta chỉ ra rằng việc thờ cúng tổ tiên buộc con cháu phải giữ gìn ký ức về cha mẹ đã khuất và không được xa rời hành vi, lối sống của họ, nếu không thì sẽ là thiếu tôn kính, thiếu ngưỡng vọng và thiếu lòng hiếu đạo.

Khổng Tử từng nói: “Khi người cha còn sống thì quan sát chí hướng của người con, khi người cha chết thì quan sát hành vi của người con. Nếu ba năm sau khi cha mất, người con không thay đổi những quy tắc của đạo làm con đối với cha, như vậy được coi là người con có hiếu vậy”.

Cũng như vậy, mỗi cá nhân sẽ không chỉ hết sức cẩn trọng trong việc noi theo hành vi của tổ tiên mà còn thuận theo những ý chí giả định và chủ đích phỏng đoán của họ. Nhờ đó, người ấy sẽ nhận được sự chấp thuận vĩnh cửu của tổ tiên, chính nhờ vậy mà tâm hồn sẽ đạt tới sự thanh thản mà hạnh phúc con người trú ngụ, đó chính là nguồn gốc và nền tảng của tư tưởng truyền thống.

Thật vậy, bởi xã hội không chỉ bao gồm những người đang sống mà còn tồn tại cả đoàn quân vô số những người đã từng sống trên mảnh đất quốc gia vào một thời điểm nào đó, đã đóng góp vào công cuộc chung bằng cách này hay cách khác; vì gia tộc được tiếp nối xuyên thời gian cũng như không gian; vì con người phải tôn trọng cuộc sống đã qua của những người đã khuất, do đó họ không được xa rời những nghĩa cử cùng lời dạy của tổ tiên. Nên tại An Nam, chủ nghĩa truyền thống đã trở thành “một học thuyết sống, trong cuộc sống gia đình riêng cũng như nơi công cộng”.

Tất nhiên rằng, hướng về quá khứ là một điều tốt, bởi quá khứ đầy ắp những bài học, thậm chí có nhiều chỉ dẫn hữu ích để hoàn thiện bản thân. Nhưng chỉ biết đến quá khứ, giam hãm tinh thần để chiêm ngưỡng những gì đã qua thì có nghĩa là thừa nhận rằng không có tiến bộ nào khả dĩ, và như vậy là không còn chút niềm tin nào vào trí tuệ sáng tạo.

Người con của một gia đình tại Hà Nội những năm 1920 đang quỳ trước bàn thờ gia tiên. Nguồn: Lưu trữ của Toàn quyền Đông Dương

Luật pháp An Nam còn mang tính căn bản khác, một đặc tính kinh tế, thể hiện qua vị trí trung tâm của tất cả những điều liên quan đến đất đai. Vì ở xứ này, đất là tài sản vật chất số một. Một dân tộc đông đúc như người An Nam, nếu không có đất sẽ còn biết sống thế nào? Ở các đồng bằng, từng mảnh ruộng nhỏ nhất cũng được canh tác, và ai nấy đều gắn bó với thửa ruộng của mình như gắn bó với chính sự sống. Há chẳng phải nhờ có hương hỏa mà linh hồn người mất mới có thể nhận được những nghi lễ thờ kính và hưởng niềm thanh thản nơi mộ phần? Há chẳng phải chính trên thửa ruộng tổ tiên mà linh hồn được an nghỉ vĩnh hằng? Há chẳng phải cũng chính từ đất đai, từ ruộng lúa mà sinh ra thóc gạo để nấu thành rượu dùng trong các lễ tế tổ tiên?

Và các làng xã làm sao có thể trường tồn nếu không có ruộng lúa? Người ta dễ hiểu tại sao đất đai và nguồn nước tưới lại chiếm một vị trí quan trọng khi nhắc tới trong các sách kinh điển cũng như trong tập quán. Nông nghiệp, quyền sở hữu đất, việc chia ruộng phù sa ở đồng bằng và sông ngòi đều là những vấn đề sống còn đối với dân tộc. Chúng ta sẽ còn quay trở lại vấn đề này khi bàn đến chế độ sở hữu và nông nghiệp.■ (Còn nữa)

Jean Baptiste Alberti

Lê Hằng Nga (dịch)

Chú thích:

[1] De Lanessan, La colonisation francaise en Indochine, Paris, Alcan, 1895

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN