Tín ngưỡng thờ thần cây ở An Nam

Các tín ngưỡng bản địa của người Việt vốn mang tính giao thoa nhịp nhàng với các tôn giáo du nhập khác. Tạp chí Phương Đông dịch và giới thiệu bài viết Tín ngưỡng thờ thần cây ở An Nam của nhà nghiên cứu người Pháp Jean Przyluski đăng trên Tập san viện Viễn Đông Bác Cổ (Bulletins de l’École française d’Extrême-Orient) số 9, xuất bản năm 1909. Qua bài viết, tác giả phân tích về tín ngưỡng thờ thần cây, từ đó đưa ra nguồn gốc của hai kiến trúc đình và miếu, đồng thời chỉ ra một vài yếu tố hoà hợp giữa tín ngưỡng này với các tôn giáo khác phổ biến ở nước ta từ hơn 100 năm trước.

Ở Bắc Kỳ, người ta thường thấy dưới gốc cây đặt các bình đựng sứt mẻ. Những chiếc bình này là đồ dùng hiện diện trong mọi gia đình người An Nam, chúng được dùng để đựng vôi – một nguyên liệu người ta dùng khi ăn trầu. Khi chiếc bình này bị vỡ, người ta phải đem phần còn lại đặt dưới gốc cây, bởi nếu vứt nó chung vào các loại rác khác thì sẽ bị coi là bất kính.

Có ý giải thích tập tục này bằng cách cho rằng chiếc bình dùng để dâng cúng cho một vị thần ngụ trong cây. Nhưng giả thuyết này là chưa chính xác. Đúng là việc dâng đồ lễ cho một linh hồn trong tiếng An Nam gọi là cúng. Thế nhưng người bản địa không khi nào dùng từ này để chỉ hành động đặt một bình vôi dưới gốc cây.

Những bình vôi đặt dưới gốc cây trước cổng đền thờ ở Thanh Hoá đầu thế kỷ XX. Nguồn: Sách “The Peoples of French Indochina” xuất bản năm 1944

Thực ra, việc làm này mang tính mê tín nhiều hơn là tôn giáo. Bình vôi được coi là nơi có một lực huyền bí và có liên hệ mật thiết với vận mệnh của gia đình sở hữu nó. Nếu vôi tích tụ quanh miệng bình thành một vòng dài, gia đình sẽ thịnh vượng; nếu bình vỡ, đó là điềm xấu. Do đó, người ta hiểu rằng nếu vứt chiếc bình đã hỏng theo cách qua loa thì đó là việc làm nguy hiểm. Làm vậy có thể khiến chiếc bình ô uế và những người chủ cũ có thể phải gánh lấy hậu quả. Bởi vậy, cần tìm một nơi thích hợp cho những mảnh vỡ “thiêng” ấy, và cây cối là nơi trú ẩn phù hợp, vì cây cũng mang sức mạnh thần bí, chứa đựng “nguồn năng lượng”.

Theo quan niệm của người bản địa, cây cối nào cũng có thể là nơi cư ngụ cho các bình vôi, vì tất cả đều có một lực lượng huyền bí bên trong khiến chúng trở thành những thực thể đặc biệt. Có lẽ ý niệm cổ xưa này đã tạo điều kiện để hệ thống tín ngưỡng rất đa dạng và phức tạp ở Bắc Kỳ phát triển.

Ngoài những cây chỉ để đặt bình vôi, còn có những cây thật sự nhận được đồ lễ. Người ta dâng những lễ vật này cho một linh hồn, và hành động này được gọi là cúng. Ở đây ta không đề cập đến việc làm mê tín đơn thuần nữa, mà đây là hành động mang tính tôn giáo đúng nghĩa. Nếu quan sát kỹ các lễ vật và hỏi người dân, ta sẽ thấy rằng những cây được thờ chia thành hai loại lớn: những cây do linh hồn nam cư ngụ, và những cây do linh hồn nữ cư ngụ. Vì bản chất của cây hoà lẫn với bản chất của vị thần sống trong đó, nên ta có thể gọi cây theo cách phân loại như vậy.

I. Tục thờ thần cây do linh hồn nam cư ngụ

Giữa các cánh đồng lúa, người ta thường thấy có một mô đất nhỏ ở trên có một cây lớn che bóng, trên đó người ta lại xây một dạng bàn thờ bằng gạch gọi là nền. Nông dân trong vùng tới mô đất này để dâng lễ vật. Đây được xem là nơi cư ngụ của thổ thần. Việc chặt bỏ cây này là bất kính, và mô đất đặt nền cũng cấm không được canh tác. Đôi khi không có nền bằng gạch; trong một vài trường hợp khác cây và nền lại nằm ngang với mặt ruộng xung quanh. Vì vậy, ta có thể chia nơi ở của thổ thần thành ba dạng:

1. Một gò đất có cây mọc ở trên.

2. Một gò đất có cây và có nền.

3. Một cây và một nền, không có gò đất rõ rệt.

Dạng thứ nhất có lẽ là tàn dư của hình thức sơ khai. Về sau, người ta xây thêm nền tạo thành dạng hoàn chỉnh có 3 yếu tố. Dạng thứ hai là phổ biến nhất hiện nay, còn dạng thứ ba có lẽ là hình thức suy thoái từ dạng thứ hai.

Những lễ vật dâng dưới gốc cây thần hoặc đặt trên nền gồm: nhang, vàng mã, trái cây, cháo gạo, đôi khi có cả chân heo. Người dâng lễ sẽ quỳ lạy, lầm rầm một lời khấn để xin thần ban ơn. Người ta có thể đến nền vào bất kỳ ngày nào, nhưng thường là vào mùng 1 hoặc ngày rằm hàng tháng. Điều đáng chú ý là hầu như chỉ có đàn ông thực hiện nghi lễ thờ cúng này. Một người phụ nữ khi được hỏi tại sao không bao giờ mang lễ vật đến đã trả lời rằng vì bà không biết cách khấn. Vì vậy, dù vẫn có vài ngoại lệ, đây là hình thức do người đàn ông thực hiện, hướng đến các linh hồn mang tính nam.

Những vị thổ thần ngụ trong các cây thiêng này đều cai quản một “lãnh địa” nhỏ. Người nông dân nói rằng các thần trong coi một khu đất nhất định. Mảnh đất này thường có quy mô nhỏ hơn phạm vi của làng nên trong một xã An Nam có thể tồn tại nhiều thổ thần khác nhau.

Tuy nhiên, các lễ vật dâng dưới cây thiêng không chỉ dành riêng cho thổ thần. Một phần để dành cho chúng sinh. Những vong hồn này là những người qua đời mà không có con cháu hoặc người mất khi đang xa quê mà không thể trở về làng. Không có ai thực hiện các nghi lễ cúng bái thông thường cho họ nên họ phải lang thang và không được nhận vào bất cứ gia đình nào. Vì vậy, họ tìm đến nương náu dưới sự che chở của thần đất, như thể họ là những “chư hầu” của vị thần này. Những linh hồn không nơi nương tựa này rất đáng sợ vì họ có thể gây ra những tai hoạ to lớn. Khi một trận bệnh dịch bùng phát trong làng, người ta cho rằng đó là do có một nhóm vong hồn xâm nhập. Trong những đợt nắng nóng của tháng 5, cũng là khi dịch bệnh hoành hành, người ta còn tin rằng có thể nhìn thấy nhóm này lang thang trên đường vào ban đêm. Cách duy nhất để tránh họ là cầu đến vị “chúa tể”, tức thổ thần. Vì thế, tại nhiều làng, cứ mỗi năm vào đầu mùa nắng nóng, người dân tổ chức rước lễ đến nền để cầu xin thổ thần bảo vệ làng mình khỏi dịch bệnh.

Các vị thành hoàng bảo vệ cho làng cũng là những vị thần. Tương tự các thổ thần, họ có thể được xem là vị “lãnh chúa phong kiến”, thực thi quyền lực trên một phần đất nhất định – phần đất này chính là cả một ngôi làng. Người ta thờ thành hoàng trong đình làng – một ngôi nhà chung. Tuy nhiên, chính xác hơn thì gọi đó là “nhà chung của đàn ông” vì chỉ có nam giới trong làng tụ họp tại đây. Điều này cũng xác nhận nguyên tắc đã nêu trước đó rằng việc thờ thần là do người đàn ông đảm nhiệm.

Thông thường, ở gần đình làng có một hoặc nhiều cây thiêng mà người ta cấm chặt và không được báng bổ, trẻ con cũng không dám trèo leo. Tuy nhiên, người ta không bao giờ dâng lễ dưới những cây này, vì đơn giản, các nghi lễ đã thực hiện trong đình. Như vậy, kiến trúc này đã thay thế cho nền, thay vì đặt lễ vật trên một bàn thờ ngoài trời thì giờ đây chúng được đặt trong ngôi đình có mái che. Ở giai đoạn phát triển này, niềm tin xa xưa khi cho rằng thần linh ngụ trong cây cối đã lu mờ phần nào. Kiến trúc đình ngày càng giữ vai trò quan trọng khiến vai trò của cây thiêng tụt xuống hàng thứ yếu. Những cây này vẫn thiêng liêng vì chúng thuộc về thần, nhưng thành hoàng đã chuyển sang cư ngụ trong những bài vị bằng gỗ sơn son thếp vàng đặt trong đình và được rước đi long trọng trong các dịp lễ.

Một điều nữa càng cho thấy nét tương đồng giữa thổ thần và thành hoàng là các vị thành hoàng cũng có quyền “chúa tể” với các chúng sinh trong phạm vi của mình. Mỗi năm hai lần, ở mỗi làng, người ta dâng lễ chúng sinh ở ngoài cổng đình. Nghi lễ thực hiện ở đó vì người ta tin rằng các vong hồn này quá thấp kém để được bước chân vào nơi ở của thành hoàng.

Các thổ thần và thành hoàng đều thuộc hàng thần, việc thờ cúng họ thực hiện ở quy mô địa phương. Nếu nhìn lên trên trong hệ thống thần linh, ta sẽ thấy những nhân vật quyền lực hơn nhiều, đó là các đức thánh. Quyền lực của họ trải rộng khắp Bắc Kỳ, người ta thờ cúng họ ở khắp mọi nơi và việc này có quy mô toàn vùng, gần như cả quốc gia. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa những tín ngưỡng thực sự phổ biến trong dân gian và những tín ngưỡng du nhập từ Trung Hoa những không ăn sâu vào đời sống quần chúng. Một số vị “đức thánh”, đặc biệt là những vị chủ về các kỳ thi văn chương do giới nho sĩ mượn từ Trung Hoa thì ngay cả tên của họ người nông dân đa số đều không biết đến.

Trong số các thánh mà tín ngưỡng ở Bắc Kỳ tôn thờ, không có vị nào được kính trọng hơn Đức Thánh Trần. Quyền uy của ông trải dài từ Lạng Sơn đến các tỉnh Bắc Trung Kỳ. Có thể coi ông là “vua của các vị thần”. Vị thánh này vốn là một anh hùng dân tộc với nhiều chiến công ghi trong sử sách[1]. Ông sống ở triều nhà Trần và thuộc dòng dõi hoàng tộc, điều này cũng giải thích cho danh hiệu của ông. Ông đã giao chiến với quân Nguyên gần vùng Bảy Chùa và thắng lợi. Sau đó, ông lui về nơi này và qua đời tại đây.

Đò đưa người dân qua sông Thái Bình – 1 trong những địa danh thuộc vùng Bảy Chùa những năm đầu thế kỷ XX. Nguồn: Bảo tàng Quai Branly

Người ta dựng một ngôi đền gần nơi ông an nghỉ, và nơi này trở thành địa điểm cúng bái nổi tiếng. Ngày 15/8 hằng năm, người từ khắp các tỉnh đổ về đây và lễ hội diễn ra suốt 5 ngày. Từ xa, người ta nhận ra ngôi đền nhờ những cây cổ thụ lớn trồng trong sân. Người dân tin rằng những cây này linh thiêng, tức là mang sức mạnh siêu nhiên. Thời nhà Lê, Vua Thái Tông đã ban lệnh cấm chặt những cây này[2]; người ta tin rằng chỉ cần bứt một chiếc lá cũng đủ khiến người đó lăn ra bệnh ngay lập tức. Các cây này thiêng liêng vì thuộc về Thánh Trần, có thể nói một phần linh lực của thần ngự trong đó. Mặt khác, đám đông tới cúng bái ở Bảy Chùa có rất nhiều người là phụ nữ. Khi tín ngưỡng thờ thần nam trở thành tín ngưỡng ở quy mô toàn vùng, nó đã mất đi đặc điểm ban đầu, không chỉ có nam giới mới thực hành tín ngưỡng nữa.

Vì Đức Thánh Trần cai quản toàn bộ vùng Bắc Kỳ nên tất cả chúng sinh đều nằm dưới quyền của ông. Đây là sự phát triển tự nhiên của quan niệm mỗi vị thần cai trị các linh hồn trong phạm vi của mình đã được nêu ra trước đó. Những linh hồn không nơi nương tựa này gây ra rất nhiều bệnh tật nên Đức Thánh Trần được xem là một vị thần chữa bách bệnh, đặc biệt hiệu nghiệm trong việc ngăn ngừa dịch bệnh.

Mỗi năm, vào dịp đại lễ, người ta chứng kiến hàng trăm ca “chữa bệnh diệu kỳ”, những người bị thế lực xấu đeo bám được giải thoát ngay lập tức, các linh hồn xấu bị xua đuổi. Điều làm cho đại lễ này trở nên kỳ lạ nhất chính là vị Đức Thánh Trần này nhập vào rất nhiều thầy đồng. Khi đó, họ trở thành hiện thân sống của Thánh Trần. Họ xuyên qua má những thanh sắt lớn mà không tỏ ra đau đớn. Thánh Trần cũng nhập vào cơ thể của nhiều bà đồng. Khi bị nhập, họ dường như tin rằng họ đã biến thành đàn ông. Các ông bà đồng thường mặc những trang phục màu sặc sỡ so với đám đông. Sau lễ hội, họ trở về làng và người dân tìm đến họ để chữa bệnh và trừ tà.

Chỉ cần xét trường hợp cụ thể là đủ để hiểu vai trò của các thầy đồng này. Ngày 31/5/1908 (tức mùng 2/5 âm lịch), tại Hà Nội, người ta tổ chức một lễ rước để xua dịch bệnh khỏi thành phố. Nhiều thầy đồng đã xuyên những thanh sắt qua mà và rạch lưỡi bằng dao, máu chảy ra được thấm vào những tờ giấy trắng mỏng và sau đó họ phát cho dân chúng để làm bùa hộ mệnh. Ý nghĩa của việc làm này rất rõ ràng: Đức Thánh Trần có quyền năng xua đuổi những ảnh hưởng xấu. Ông truyền sức mạnh của mình cho thầy đồng mà ông nhập vào, máu thấm vào những lá bùa thiêng như đó chính là máu của Đức Thánh Trần.

Như vậy, ta đã xem xét xong các loại linh hồn nam có liên hệ với cây thiêng. Các thổ thần, thành hoàng, đức thánh tạo thành ba cấp bậc trong hệ thống phân cấp, trong đó vô số tín ngưỡng địa phương nhỏ lẻ dần sắp xếp lại thành một trật tự.

II. Tục thờ cây do linh hồn nữ cư ngụ

Những cây thiêng có linh hồn nữ trú ngụ thường luôn treo các đồ lễ bằng giấy như những đôi giày làm thô sơ, các loại nón phụ nữ làm bằng bìa. Người ta cũng mang đến hoa quả, nhang… Một bông hoa đã bị người ta ngửi qua thì không thể dâng cúng nữa, vì như vậy hoa đã “mất hồn”. Người ta nói rằng hít mùi hoa cũng giống như ăn trái cây, sau đó không còn gì để dâng nữa. Những lễ vật này thường do người phụ nữ mang đến. Họ tới dưới gốc cây, nhất là vào ngày mùng 1 và ngày rằm, lạy 3, 4, hoặc 5 lần, rồi lầm rầm khấn. Đôi khi cũng có đàn ông tới khấn vái, nhưng đó là trường hợp ngoại lệ, giống như khi chữa bệnh và người bệnh đã thử mọi cách cứu chữa. Nói chung có thể khẳng định việc thờ cúng các cây có linh hồn nữ là do nữ giới đảm nhiệm.

Khi một cây thiêng mới được thờ cúng chưa lâu, nó thường đứng một mình mà không đi kèm ban thờ nào dưới gốc. Điều này cho phép ta suy luận rằng ban đầu cây nào cũng diễn ra như vậy. Hiện nay vẫn có thể thấy những cây thiêng mới được thờ. Ví dụ tại một làng ở vùng ngoại ô Hà Nội, có một cây thiêng mới được thờ chỉ khoảng 5-6 năm. Số người cúng bái tăng nhanh nhưng vẫn chưa có ban thờ nào ở đó. Sau cùng, đến một thời điểm, người dân quanh vùng sẽ dựng dưới gốc cây một chòi nho nhỏ bằng rơm hoặc một hốc gạch hẹp để che chắn cho lễ vật. Hốc này cao khoảng mét rưỡi, gọi là miếu. Hình thức này rất phổ biến và đáng chú ý, nó khởi nguồn cho một chuỗi hình thức phát triển tiếp theo.

Khi cây thiêng ở trong một làng giàu có, hoặc khi những tin đồn về độ linh thiêng của cây lan sang nhiều nơi hay vì những lý do khác, người ta sẽ mở rộng miếu này. Dù vẫn gọi là miếu và vẫn là hình vuông, giờ mỗi cạnh sẽ có kích thước khoảng 4 – 5 mét. Kiến trúc này chỉ chứa được số lượng người ít ỏi nên phụ nữ lần lượt vào trong để lạy.

Cây đa cổ thụ trước đền thờ công chúa Mỵ Châu ở Đông Anh năm 1909. Nguồn: Lưu trữ của viện Viễn Đông Bác Cổ

Miếu lớn không chỉ chứa lễ vật mà còn đặt bài vị của thần. Trong các dịp lễ, người ta rước bài vị này và đây được coi là nơi tập trung quyền lực của vị thần. Như vậy, cũng giống trường hợp các thần nam, ta thấy rằng công trình kiến trúc dần thay thế cây và cây chuyển xuống vị trí thứ yếu. Cuối cùng, khi ngày càng có nhiều phép lạ xảy ra ở một nơi thờ cúng, người từ nhiều tỉnh sẽ kéo đến, hình thành một lễ hội quy mô toàn vùng. Với lễ vật và tiền bạc đổ về, ngôi miếu mở rộng dần thành một ngôi đền. Tuy nhiên, hình thức thờ cúng vẫn mang tính cá nhân, tức là từng người một vào cúng; và nghi thức vẫn rất đơn giản giống khi chỉ có một cây thiêng riêng lẻ.

Trong tất cả các đền thờ linh hồn nữ, nổi tiếng và quan trọng nhất là đền Phủ Dầy, thuộc tỉnh Nam Định. Nơi này nổi tiếng khắp vùng Bắc Kỳ, và mỗi năm có rất nhiều người đổ về dự lễ trong suốt 7 ngày, bắt đầu từ Tết Thanh Minh (mùng 3/3 âm lịch).

Trong khu vực Phủ Dầy, người ta cho xây dựng rất nhiều đền. Ngôi đền chính là nơi có hai cây cổ thụ khổng lồ đứng hai bên cổng vào. Dưới gốc mỗi cây này đều có một miếu nhỏ. Ở đây, quần thể đền phát triển theo cách đặc biệt, vì ngoài công trình chính còn có thêm hai kiến trúc phụ[3].

Rất nhiều phụ nữ đến dự lễ hội ở Phủ Dầy, mặc dù việc thờ cúng ở đây không chỉ định riêng cho nữ giới đảm nhiệm nữa. Cũng giống như ở nơi thờ Đức Thánh Trần, việc phân biệt giới tính trong tôn giáo đã xoá nhoà khi tín ngưỡng có quy mô lớn hơn. Ngoài ra, tại lễ hội Phủ Dầy, người ta cũng thấy nhiều bà đồng và ông đồng, những người có “hai nhân cách” giống các thầy đồng trong tín ngưỡng Thánh Trần, nhưng các nghi thức của họ ít đổ máu hơn.

Người dân tập trung đông đúc trước đền Phủ Dầy những năm 1920. Nguồn: Bảo tàng Quai Branly

Tóm lại, các cây thiêng có linh hồn nữ trú ngụ có thể được phân loại theo các dạng sau:

1. Cây đứng đơn lẻ.

2. Cây kèm một miếu nhỏ.

3. Cây kèm một miếu lớn.

4. Cây kèm một đền.

5. Cây kèm một đền và miếu nhỏ.

Trong chuỗi này, các dạng nối tiếp nhau theo trật tự logic, và những hình thức phức tạp là sự phát triển tự nhiên từ những hình thức cơ bản. Nhưng không chỉ nơi cư ngụ khác nhau mà chính bản thân những linh hồn cũng có sự khác biệt về địa vị. Người dân không hình dung vị thần trong cây đơn lẻ và vị thần được thờ trong đền lớn ở Phủ Dầy giống nhau. Giữa họ có sự khác biệt như nữ hoàng và những người hầu cận. Như vậy một hệ thống thứ bậc đã được hình thành, tương tự như hệ thống các thần nam, nhưng chưa rõ ràng bằng.

Số lượng thần nữ được chia thành ba loại: (thiếu nữ), (phụ nữ lớn tuổi, đáng kính), đức bà (có thể hiểu là công chúa). Tất cả những linh hồn này đều là những người phụ nữ đã từng sống ở trần gian. Sự linh thiêng và quyền năng của họ xuất phát từ việc họ giữ mình thanh sạch cho đến khi qua đời. Các cô, thường còn gọi là nàng, là những cô gái qua đời trước khi kết hôn. Còn Đức Bà Phủ Dầy dù đã kết hôn vẫn được coi là đã cả một đời liêm khiết.

Cần tránh không nhầm lẫn các linh hồn ngụ trong cây thiêng với các chúng sinh. Những vong hồn lang thang này có địa vị thấp hơn nhiều so với các linh hồn nữ kia. Cứ hai hoặc ba lần mỗi năm, người ta dâng lễ chúng sinh trước cửa các miếu, nghi lễ này cũng tương tự với những gì diễn ra trước cửa đình làng.

Mỗi cũng như mỗi thần đều có một vài chúng sinh đi theo và phục vụ. Các có đoàn tuỳ tùng số lượng lớn hơn, còn các đức bà thì có hẳn một “triều đình”, thậm chí có cả hổ làm thuộc hạ. Những con vật này được phong danh quan tướng và các chúng sinh phục vụ đức bà được gọi là quan, giống với hệ thống quan chức ở dương gian.

Đến đây, ta đã nghiên cứu việc thờ cúng các linh hồn nữ như thể họ tách biệt khỏi mọi yếu tố bên ngoài. Giờ đây ta cần phân tích những trường hợp phức tạp hơn, trong đó có niềm tin cổ xưa về tục thờ cây kết hợp trong thực hành Phật giáo và mang màu sắc của tư tưởng Đạo giáo.

Nếu đến thăm chùa của một ngôi làng tại Bắc Kỳ, ta thường thấy kiến trúc này chia thành hai phần không đều nhau và bên ngoài thì có một hoặc nhiều cây thiêng. Gian chính đặt tượng Phật. Trong gian còn lại, có ba pho tượng phụ nữ trên bàn thờ, phía dưới thường vẽ hình một con hổ. Ba người phụ nữ này được tôn thờ là Đức Bà/Thánh Bà, và con hổ – quan tướng – là kẻ hầu của họ. Như vậy, ta đang đứng trước một hình thức thờ thần nữ. Và rất có thể những cây bao quanh ngôi chùa này cũng không khác gì cây xuất hiện gần các miếu và đền.

Tóm lại, việc thờ cúng trong các ngôi chùa ở Bắc Kỳ và kết quả của sự pha trộn giữa hai yếu tố khác nhau: một là yếu tố Phật giáo, du nhập từ bên ngoài; hai là yếu tố bản địa, gắn liền với tín ngưỡng thờ cây thiêng mang tính nữ.

Ba Đức Bà trong các ngôi chùa đảm nhận vai trò riêng biệt: vị ngồi giữa cai quản bầu trời, vị bên phải trị vì mặt đất, vị bên trái giám sát bầu trời. Ở đây, ta có thể nhận ra rõ sự phân chia theo tư tưởng Đạo giáo về tam phủ: phủ trời, phủ đất và phủ nước. Điều làm nổi bật rõ thêm ảnh hưởng của Đạo giáo là theo một truyền thuyết của người An Nam, Ngọc Hoàng đã phân công cho mỗi Đức Bà một phần để cai quản. Mà Ngọc Hoàng lại chính là vị thần tối cao được tôn thờ trong Đạo giáo.

Tuy nhiên, dù chịu những ảnh hưởng từ bên ngoài như vậy, việc thờ cúng ba Đức Bà vẫn giữ được nhiều đặc điểm cơ bản và có từ xa xưa. Trong gian nhỏ của chùa, nghi lễ diễn ra hệt như trong các miếu: từng người tới một, thực hiện lạy vài lần, họ mang theo những lễ vật nhỏ và thầm khấn lời cầu nguyện. Thêm một chi tiết đặc trưng cuối cùng nữa là những người đến chùa chủ yếu là phụ nữ. Nam giới chỉ chiếm thiểu số. Phụ nữ lớn tuổi đặc biệt được tôn trọng. Họ tạo thành một nhóm bà vãi, và vào ngài mùng 1 lẫn ngày rằm, họ tới chùa để cùng nhau ăn chay (không mỡ, không thịt). Những bữa ăn này sánh ngang với các bữa cỗ ở đình làng, nơi các bậc chức sắc ngồi ở vị trí danh dự. Nếu các bậc chức sắc đứng đầu trong xã hội của nam giới thì các bà vãi lại giữ vị trí ưu tiên trong xã hội nữ giới.

Kết luận

Tóm lại, việc thờ cúng cây thiêng ở Bắc Kỳ biểu hiện dưới hai hình thức rất rõ rệt: một bên là nghi lễ do nam giới thực hiện, thờ các linh hồn nam; một bên là nghi lễ do nữ giới thực hiện, thờ các linh hồn nữ. Dường như dân cư trong mỗi làng được phân chia thành hai cộng đồng tôn giáo riêng biệt và tính nhị nguyên này có lẽ là một trong những đặc điểm tiêu biểu của nền văn minh Bắc Kỳ. Ban đầu, các biểu hiện của tín ngưỡng chỉ là những lần viếng thăm định kỳ tới các cây linh thiêng. Về sau, người ta cho xây dựng gần các tán cây này những công trình ngày một quy mô hơn, nơi những người đến cúng bái có thể tập trung đến. Nhờ đó, cộng đồng nam giới và nữ giới đều trở nên gắn kết hơn. Có lẽ từ đây đã hình thành sự phân hoá một bên là hội đồng kỳ mục và một bên là bà vãi, đình làng và chùa làng vì thế trở thành hai “cực”, tương tự như cực âm và dương của cộng đồng làng xã An Nam.■

Przyluski

Mai Vân Kỳ (dịch)

Chú thích:

[1] Xem Khâm định Việt sử Cương mục Thông Giám, quyển VI, tờ 35 v°, 41 v°; quyển VII, tờ 28 v°, 31 r°, 41 v°; quyển VIII, tờ 6 r°, 36 r°. Truyền thuyết về Thánh Trần. Xem Rược sơn kỷ tích toàn biên. Cuộc đời của Thánh Trần được kể trong đó từ trang 4 – 15.

[2] Xem Cương mục, quyển XIV, tờ 1 vo

[3] Người ta kể rằng vào thời Hậu Lê, ở Phủ Dầy, có một người phụ nữ dù đã kết hôn nhiều năm nhưng vẫn giữ mình và đạt đến mức linh thiêng phi thường. Một ngày nọ, bà vào rừng lấy củi rồi không trở về nữa, sau đó người ta tìm thấy y phục của bà treo trên một cái cây. Bà đã biến mất hoàn toàn. Người ta cho rằng bà đã hoá thành cây. Sau này, một ngôi đền lớn được dựng ngay gần cây đó.

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN