Thể chế An Nam (Kỳ 2)

Từ góc nhìn của nhiều học giả và nhân chứng phương Tây đầu thế kỷ XX, người An Nam hiện lên qua những lát cắt vừa quen thuộc vừa mới lạ. Sau bài viết về những nguyên tắc hình thành nên thể chế nước ta hơn 100 năm trước, Tạp chí Phương Đông dịch và giới thiệu phần tiếp theo của chương này trong cuốn L’Indochine d’autrefois et aujourd’hui (Đông Dương xưa và nay) xuất bản năm 1934 của tác giả J.B. Alberti. Các chi tiết và từ ngữ trong bài thể hiện quan điểm của tác giả, chúng tôi giữ nguyên văn để đảm bảo tính khách quan.

1. Đức Hoàng đế

Người An Nam đã luôn công nhận chủ quyền hiện thân ở người thủ lĩnh, tức vua hoặc hoàng đế và rằng vị này nắm giữ thiên mệnh.

“Ý niệm đầu tiên về tôn giáo – Trời phong mệnh, chính là gốc rễ trong quan niệm chính trị của họ. Những hệ thống chính quyền khác chỉ hiện ra với họ như một tình trạng vô chính phủ trái tự nhiên: họ nói rằng không có thủ lĩnh là không xứng đáng với con người, chẳng khác nào loài vật”.

Khổng Tử đã tiếp nhận và phát triển quan niệm về vương quyền này. Người An Nam biết đến học thuyết của triết gia ấy nhờ sự tiếp xúc với Trung Hoa và dần dần học thuyết này thấm sâu vào mọi định chế của họ. Tư tưởng này càng rõ rệt sau năm 1419, khi Vĩnh Lạc đế quyết định rằng các quan lại địa phương ở An Nam phải được tuyển chọn qua khoa cử, theo cùng chương trình như ở Trung Hoa, tức chương trình Nho học. Khi An Nam giành được độc lập, các chương trình này vẫn được duy trì, và nhờ vậy trong nước hình thành một tầng lớp nho sĩ mà từ đó nhà vua sẽ chọn ra những người phò tá mình. Từ thời điểm ấy, học thuyết của Khổng Tử mới có thể vận hành một cách hoàn chỉnh: Hoàng đế nhận thiên mệnh và truyền đạt lại cho dân chúng thông qua các quan lại địa phương. Khi đó, ta phân biệt rõ hai hạng người: một bên là những người cai trị – tức tầng lớp nho sĩ, bên kia là người lao động và là những người bị trị.

Chắc chắn rằng, sau khi nhà Lê chấm dứt ách thống trị của người Trung Hoa, họ đã cố gắng nới lỏng những mối ràng buộc chặt chẽ về trí thức vốn dựa trên và gắn liền với nền văn minh Trung Hoa. Nhưng bộ luật họ lập ra phần lớn vẫn dựa trên những nguyên tắc của Nho giáo.

Do đó, ở An Nam, hoàng đế như chiếc khóa vòm, là trụ cột, điểm tựa chính của toàn bộ cơ cấu xã hội.

Vua Khải Định ngự trên ngai vàng trong điện Thái Hoà những năm 1920. Nguồn: Lưu trữ của Cao uỷ Pháp tại Đông Dương

Luro đã tóm tắt các đặc điểm về Hoàng đế như sau:

“Đức Hoàng đế, vị quân vương tôn nghiêm và thánh thiện – như người An Nam vẫn gọi, vừa là hoàng đế, vừa là thủ lĩnh, vừa là thẩm phán tối cao. Ngài là bậc phụ mẫu của muôn dân. Ngài là nho sĩ bậc nhất của vương quốc, tức là người trung thành nhất trong việc thực hành học thuyết của Khổng Tử. Ngài là người duy nhất thụ mệnh từ Trời. Chỉ riêng ngài mới có quyền thay mặt toàn thể đất nước để dâng lễ tế lên Thượng Đế, vị hoàng đế tối cao của vạn vật và linh hồn. Trong vương quốc, chỉ riêng ngài mới được gọi là Thiên tử – một tước hiệu tượng trưng cho việc tuân theo những tư tưởng tôn giáo truyền thống và đạo hiếu. Danh hiệu này không hề kèm theo một ý niệm kiêu ngạo nào, cũng không có sự đồng nhất với thần linh; đây hoàn toàn là danh xưng thấm đẫm hiếu tâm, thể hiện lòng quy phục đối với Thượng Đế và bổn phận thực hành nhân đức mà ngài chính là khuôn mẫu thiêng liêng. Về phần mình, tác giả của Trung Dung đã nêu bổn phận của một vị quân vương rằng tất cả những người trị vì đế quốc hay vương quốc đều phải tuân theo chín quy tắc bất biến, đó là: tu thân; tôn kính bậc hiền; yêu thương cha mẹ; tôn trọng các đại thần; hòa hợp với mọi quan lại và chức dịch khác; thương dân như con; thu hút các bậc hiền sĩ và nghệ nhân; tiếp đãi niềm nở với khách phương xa – người ngoại quốc; đối xử hữu hảo với tất cả các chư hầu lớn”.

Ngôi Vua được truyền theo nguyên tắc trưởng nam nối dõi, từ cha sang con trai. Cần hiểu con trai trưởng là người con mà Hoàng hậu – vợ chính thất, chính danh – sinh ra.

Các gia quy cũng chi phối hậu cung hoàng đế như đối với dân chúng. Chính ý muốn đưa những người con do các bà vợ thứ sinh ra lên ngai vàng thay cho người thừa kế chính thống – con trai của chính thất – mà các cuộc cách mạng triều đại đã xảy ra. Giống như dưới triều đại xưa của chúng ta áp dụng luật Salic, ở An Nam, người phụ nữ không thể lên ngôi, nhưng họ không bị loại trừ khỏi quyền nhiếp chính. Về nguyên tắc, họ không can dự vào đời sống chính trị. Tuy nhiên, lịch sử vẫn ghi nhớ vai trò mà phụ nữ từng đóng góp trong một số hoàn cảnh nhất định, đặc biệt là trường hợp của Hai Bà Trưng.

Hoàng đế chỉ là một vị quân chủ cha truyền con nối về mặt hình thức. Các sách Nho học dạy rằng: thiên hạ phải thuộc về người xứng đáng nhất, và rằng những vị Hoàng đế tồi tất yếu sẽ bị phế bỏ. Một câu trong Kinh Thi mà trẻ em được học khi tới lớp: “Vui thay người quân tử, là cha mẹ của dân”. Các nho sĩ cũng thường trích trong bài thi câu: được lòng dân thì được thiên hạ, mất lòng dân thì mất thiên hạ. Mạnh Tử cũng nói: “Đời tam đại sở dĩ được thiên hạ là vì làm điều nhân, sở dĩ mất thiên hạ là vì làm điều bất nhân. Nước chư hầu sở sĩ bị phế hay hưng vượng, còn hay mất cũng vì lẽ nhân với bất nhân như thế cả”.

Như vậy, nếu Hoàng đế xa rời bổn phận của mình, phạm lỗi, thất trách với sứ mệnh, thì ông ta sẽ đánh mất Thiên mệnh, mà đánh mất Thiên mệnh tức là đánh mất ngôi báu.

Thật vậy, “mỗi khi quân vương cai trị, lịch sử cho thấy, vào những thời điểm quyết định lại xuất hiện một bậc hiền tài – đại diện cho ý nguyện quần chúng, tuyên bố rằng vị quân vương ấy đã đánh mất Thiên mệnh. Khi đã vang vọng và khắc sâu vào lương tri của công chúng, phán quyết nghiệt ngã ấy cũng đủ để làm cả một triều đại sụp đổ” (Luro).

2. Quan lại

Nếu ngôi Hoàng đế không hẳn mang tính cha truyền con nối, thì quyền lực lại càng không phải tuyệt đối hoàn toàn.

Vua trị vì nhưng trên thực tế dân chúng lại có một phần tự quản.

Quyền lực được thực thi từ trung ương đến địa phương, thông qua các quan lại tuyển chọn từ những kỳ thi cấp địa phương, và tại các tổng, xã thì do những quan lại đại diện nhân dân đảm trách.

Bộ máy hành chính trung ương

Ở cấp hành chính trung ương, bên cạnh hoàng đế có những quan chức cao cấp có thể tương đương với các bộ trưởng trong nhà nước hiện đại. Người ta chia thành 6 cơ quan: Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Hình, Bộ Binh, Bộ Công.

Mỗi bộ đứng đầu bởi một Thượng Thư, có sự giúp đỡ của hai Tham tri và hai quan cố vấn khác gọi là Thị lang. Năm người này cùng bàn bạc, và quyết định chỉ được thông qua khi có sự nhất trí. Nếu có một người bất đồng, thì việc phải tâu lên Vua, thực chất là đưa lên Nội Các – gồm 4 vị đại thần thân cận bên Vua, chịu trách  nhiệm xem xét các công việc được trình để Hoàng đế phê chuẩn.

Mỗi bộ lại được chia thành các nha và phòng. Một hội đồng gọi là Cơ Mật, gồm bốn đại thần chọn ra từ những Thượng thư quan trọng nhất, quyết định những việc quốc gia đại sự và định hướng chính sách của An Nam. Một cơ quan giám sát – Ngự sử đài cùng với một cơ quan thanh tra tối cao – Đô Sát viện, có trách nhiệm kiểm soát việc quản lý trong toàn đất nước.

Bộ máy hành chính địa phương

Tiếp đến là các tổng đốc của tỉnh. Lãnh thổ An Nam chia thành những đơn vị hành chính không đồng đều về quy mô. Các quan đại diện cai quản một tỉnh gọi là Tổng đốc, hay còn gọi là thống đốc. Tổng đốc là quan lại cấp cao, nhân danh ông mà mọi hoạt động hành chính trong tỉnh được tiến hành. Ông có quyền chỉ huy tối cao về hành chính trong phạm vi tỉnh mình. Các chức quan sau phụ giúp Tổng đốc: Bố chánh – phụ trách các công việc hành chính, Án sát – phụ trách các công việc tư pháp, Lãnh binh – chỉ huy quân sự, Đốc học – giám sát việc giáo dục. Ở những tỉnh nhỏ thì chỉ có một vị Bố chánh đứng đầu; những tỉnh trung bình thì do Tuần phủ cai quản, thêm một vị Bố chánh và đôi khi thêm cả một Đốc học trợ giúp các công việc.

Các quan đại thần (Tổng đốc, Bố chánh, Án sát) tỉnh Thái Bình tại Vọng Cung năm 1928. Nguồn: Lưu trữ của Cao uỷ Pháp tại Đông Dương

Dưới thời Hoàng đế Gia Long và Tự Đức, các tỉnh ở Bắc Kỳ và hạ Nam Kỳ, vì ở xa trung tâm triều đình, được giao cho một viên Tổng đốc đại thần mang chức danh Kinh lược sứ, thường được so sánh như vị phó vương.

Mỗi tỉnh lại chia thành phủ và huyện, đứng đầu lần lượt là tri phủ và tri huyện. Các quan chức này vừa nắm quyền hành chính vừa nắm quyền tư pháp.

Quan lại được chia thành hai hạng: quan văn và quan võ. Quan văn chỉ được tuyển chọn trong những nho sĩ đã vượt qua kỳ thi Hương ba năm một lần để lấy các học vị Cử nhân và Tú tài. Những kỳ thi này thu hút đông đảo các thí sinh (đôi khi hơn 10.000 người ở Bắc Kỳ, trong khi số người đỗ chỉ vào khoảng 300). Chỉ ở Huế mới có tổ chức thi để lấy học vị Tiến sĩ.

Đối với quan võ, yêu cầu đơn giản hơn, họ chỉ cần có một vài năng lực thể chất. Khi được tuyển vào quân đội, họ sẽ học về binh pháp. Quan võ thông qua các kì thi để được trao các cấp bậc khác nhau. Quan văn và quan võ đều có chín bậc, mỗi bậc lại chia thành hai cấp.

Nhiệm vụ của quan văn, quan võ và các quan chức khác đều được quy định rõ ràng.

Năm 1662, Vua Lê Huyền Tông ban chiếu cải cách phong hóa. Điều đầu tiên liên quan đến các chức vụ công, rất hợp lẽ thường, đầy sáng suốt, hãy xem:

Các quan văn phải chính trực, tuân thủ công bằng và hoàn thành nhiệm vụ với sự hăng hái, kính cẩn. Khi bàn tới công việc, họ phải đề xuất những gì phù hợp và chỉnh sửa những gì không hợp lí, để các quyết định của họ phù hợp với lý trí; họ không được chỉ dựa vào ý kiến của người khác và im lặng mà không bày tỏ sự sáng suốt và tinh tường của mình. Khi xét xử vụ án, họ phải phân biệt người thiện và kẻ ác, để mọi người đều được giải quyết thỏa đáng. Họ không được vì tiền bạc hay tình riêng mà xử án thiên vị nhằm kiếm công ơn hay lập bè phái.

Các quan chức có bổn phận, đoàn kết nỗ lực một lòng và hướng tới mục tiêu chung, giữ yên nội trị và bảo vệ biên cương… Những người làm quan phải thu thuế hợp lý, điều tiết thời gian lao động để dân được hạnh phúc trọn vẹn; không áp bức dân bằng vũ lực, cũng không được lừa gạt bằng mưu mẹo, hay tìm cách thống trị dân bằng những biện pháp phiền toái”. Và thêm nữa: “Nhưng quan viên hành chính phải tuân thủ nghĩa vụ của mình và thực hiện công việc với tinh thần hăng hái. Khi lập sổ sách hay văn kiện, phải cẩn thận để không làm sai sự thật, khi có công việc cần thi hành, phải tránh lười biếng và cẩu thả. Các quan không được vì phần thưởng mà quên bổn phận của mình…”.

3. Làng xã

Các phủ và huyện chia thành tổng và xã.

Những người đứng đầu tổng và xã không phải là các quan chức mà là người đại diện cho nhân dân.

Trong tổ chức chính trị, hành chính và xã hội của An Nam, xã giữ vai trò chủ yếu. Có thể nói, nhà nước tồn tại chủ yếu thông qua xã. Xã là nơi đảm nhận việc duy trì trật tự, đảm bảo các dịch vụ công, thu thuế trực tiếp… Tuy nhiên, trong phạm vi lợi ích địa phương, xã lại độc lập, và do đó người ta ví xã như một “tiểu cộng hòa phụ thuộc” cũng hoàn toàn chính đáng.

Mỗi xã do một hội đồng kỳ mục quản lý, gồm một vài thành viên nhất định. Hội đồng này tự bổ sung thành viên bằng cách tuyển chọn trong dân, những người mà tài sản, nhân cách, học vấn hay công lao đã cống hiến giúp họ xứng đáng nhận được tín nhiệm.

Mọi người đàn ông nếu chứng tỏ được trí tuệ và nghị lực, như nho sinh đỗ đạt trong các kỳ thi, nông dân giàu có nhờ canh tác đất đai, hay người từng làm quan nay trở về quê hương, đều có hy vọng trở thành kỳ mục. Trong tất cả các sinh hoạt, lễ nghi, đặc biệt là những lễ tổ chức ở đình chùa, kỳ mục luôn đứng hàng đầu. Và vì người An Nam rất coi trọng hình thức, địa vị và thứ bậc, nên việc trở thành kỳ mục là một vinh dự nhiều người khao khát.

Quang cảnh rước kiệu trong ngày hội làng ở Hà Đông những năm 1920. Nguồn: Lưu trữ của Cao uỷ Pháp ở Đông Dương

Hội đồng kỳ mục hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc quản lý xã. Hội đồng phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về hành vi tập thể của dân làng và về việc bắt giữ những kẻ phạm tội hoặc tội ác cá nhân rồi giao nộp cho quan lại để xét xử. Hội đồng còn có bổn phận lo việc cứu trợ cộng đồng, đảm bảo việc học hành cho trẻ em, phân bổ thuế khóa giữa dân làng… Lý trưởng là người hỗ trợ hội đồng. Lý trưởng không phải là người đứng đầu chính quyền xã như trong các xã của Pháp, mà chỉ là người thi hành những quyết định của hội đồng và là đại diện của hội đồng trước bộ máy hành chính nhà nước. Nếu lý trưởng hoàn thành tốt nhiệm vụ, giành được sự tín nhiệm của dân làng thì một ngày nào đó sẽ được thăng lên hàng kỳ mục. Vị kỳ mục đứng đầu trong xã vừa là chủ tế trong các buổi lễ thờ thành hoàng vừa là người phân xử các tranh chấp nảy sinh giữa các thành viên trong làng.

4. Gia đình

Gia đình tạo thành nền tảng của xã hội An Nam. Tổ chức gia đình lấy cảm hứng từ Trung Hoa, được quy định tỉ mỉ bởi pháp luật và tập tục.

Như đã từng đề cập, việc thờ cúng tổ tiên gắn kết người sống với người đã khuất biến gia đình thành một cơ quan ổn định, “một sự tiếp nối lâu dài về thời gian”. Để đảm bảo sự ổn định ấy, cần một người chủ gia đình có đạo đức, phẩm chất chính trực, biết tự kiềm chế và có uy tín lớn đối với các thành viên trong gia đình.

Nhà lập pháp quy định rõ ràng bổn phận của cha mẹ:

“Cha mẹ phải tự hoàn thiện bản thân để có thể quản lý gia đình. Cần phải dạy con trai các nguyên tắc về công bằng và đạo lý, đồng thời dạy con gái các việc thủ công và những bổn phận phù hợp với địa vị của mình. Bậc phụ mẫu không được buông thả trong trụy lạc rượu chè, không được ham mê cờ bạc, hay đắm chìm trong những thú vui và khoái lạc trái với phong tục lành mạnh và đạo lý. Người chủ gia đình không được nêu gương xấu, tự mình phá vỡ những quy tắc ứng xử… Những ai không có khả năng giáo dục các thành viên trong gia đình sẽ bị trừng phạt”.

Người chủ gia đình là người đảm nhiệm việc thờ cúng tổ tiên, chịu trách nhiệm cúng tế. Ông có uy quyền lớn nhất đối với tất cả con cái, những người con phải dành cho ông niềm kính trọng tuyệt đối, và biểu hiện của lòng kính trọng này đều được đảm bảo bởi những quy định. Ông cũng là người phân xử các tranh chấp nảy sinh trong nội bộ gia đình.

Quyền lực gần như tuyệt đối mà ông nắm giữ thuở ban đầu đối với mọi việc trong gia đình, mà về sau luật pháp và tập tục đã giảm bớt, vẫn còn để lại một vài dấu tích.

Ông có thể có nhiều vợ, ngay cả khi đã có con trai nối dõi để duy trì việc thờ cúng tổ tiên sau khi ông qua đời.

Thực tế, đàn ông trong dân gian thường có một người vợ, và chỉ khi không có con trai với người vợ cả thì họ mới tìm tới chế độ đa thê. “Còn các quan lại cấp cao, để gia tăng uy tín bằng cách mở rộng các mối quan hệ, thường lấy nhiều vợ mà không có lý do chính đáng. Người giàu bắt chước theo chỉ để trông giống như giới quyền quý. Riêng vua An Nam thì vì lý do chính trị mà buộc phải có hậu cung. Chỉ ở đó mới xuất hiện thái giám canh chừng cung nữ – một tầng lớp mưu mô, thường dính líu đến những cuộc tranh đấu cung đình, và đôi khi còn nắm giữ những chức vụ cao nhất” (Luro).

Dù sao đi nữa, trong gia đình chỉ có một người vợ giữ địa vị chính thất – bà chủ nhà và là người mẹ của gia đình. Bà chỉ đạo những người vợ lẽ, thường do chính bà chọn lựa, và con cái của những người này cũng là con hợp pháp của bà và các người con ngang hàng với nhau.

Người chủ gia đình còn có quyền lập chúc thư, tự do định đoạt tài sản của mình theo ý muốn, thậm chí nếu muốn thì không để lại gì cho con cái.

Con cháu trong một gia đình khá giả tại Hà Đông tới chúc Tết ông – người chủ gia đình những năm 1920. Nguồn: Bảo tàng Quai Branly

Nếu xã hội dựa trên nền tảng gia đình, thì hôn nhân hợp pháp và chính thức lại là nền móng của một gia đình. Nhà lập pháp nhấn mạnh tầm quan trọng của hôn nhân khi nói rằng: “Sự kết hợp giữa người đàn ông và người đàn bà tạo thành một trong những nền tảng thiết yếu của các quan hệ xã hội”.

Vừa công khai vừa riêng tư, vừa mang tính xã hội vừa mang tính cá nhân, hôn nhân không chỉ kết hợp hai con người mà còn gắn kết gia đình, hai tín ngưỡng. Nó tác động đến cả thế giới của người sống lẫn cõi của người đã khuất. Vì thế, luật pháp và phong tục bao bọc nó bởi những bảo đảm nghiêm ngặt nhất.

Hôn nhân do cha mẹ quyết định, bởi vậy người ta nói rằng: “trong luật lệ An Nam, tất cả các cuộc hôn nhân đều do cha mẹ định đoạt thay”, và rằng: “chủ nghĩa vị lợi xã hội và lợi ích gia đình đã bóp nghẹt hạnh phúc cá nhân” (Nguyễn Mạnh Tường).

Khổng Tử từng nói: “Có điều hành được gia đình, rồi sau mới có cai quản được đất nước”. Theo tinh thần đó, luật pháp quy định: “Vợ chồng phải yêu thương nhau, tôn trọng lẫn nhau và cố gắng hoàn thành bổn phận của mỗi người. Người vợ không được trái ý chồng, cũng không được buông thả vào sự ghen tuông. Người chồng phải lo giữ nề nếp, hạnh kiểm trong gia đình và dẫn dắt bằng tấm gương đức hạnh của mình”.

Người cha nắm quyền tối cao trong việc giáo dục con cái. Nhưng hơn người cha, người mẹ có khả năng thuyết phục và khiến con trẻ vâng lời, nên chính bà là người gieo vào lòng con cái ý thức về những bổn phận gần gũi nhất từ thuở nhỏ.

Luật An Nam công nhận ly hôn. Trong số những nguyên nhân dẫn đến ly hôn có cả lý do “tình cảm đã cạn”. Một khi vợ chồng không còn yêu thương nhau thì lợi ích của gia đình và xã hội đòi hỏi cuộc hôn nhân đó phải chấm dứt. Nói cách khác, đó chính là việc kết thúc hôn nhân do hai bên cùng thuận tình, điều mà pháp luật ở Pháp đến nay vẫn chưa chấp nhận.

Nhiều gia đình hợp thành một làng. Nhà nước gần như chỉ tồn tại nhờ có các làng xã, vì vậy nhà lập pháp buộc phải quan tâm đến đời sống của các thành viên trong gia đình cũng như người dân các làng, vừa vì lợi ích của họ vừa vì lợi ích của chính nước nhà. Luật khuyến khích lao động, tiết kiệm, giúp đỡ lẫn nhau, hiếu khách, và trên cả là luôn đặt đạo đức làm nền tảng cho mọi sự can thiệp.

“Tất cả mọi người phải chuyên tâm và siêng năng trong công việc mưu sinh để có được nhiều hơn nhu cầu tối thiểu cho ăn mặc, đồng thời có thể phụng dưỡng cha mẹ, nuôi nấng gia đình và gánh vác các khoản sưu thuế; không được buông lỏng chân tay đến nỗi rơi vào cảnh nghèo túng rồi phải làm những việc hèn hạ hoặc trở thành kẻ cướp, khiến mình phải chịu những hình phạt mà pháp luật quy định.

Mỗi người cần coi tiết kiệm là điều quan trọng hàng đầu, dù là trong dịp hội làng, cưới xin hay tang ma; đồ ăn, thức uống trong yến tiệc không được vượt quá mức và phải chừng mực hợp lý. Không nên ganh đua phô trương xa hoa. Người nghèo lại muốn sánh ngang người giàu, đến nỗi phải bán đất đai, tài sản, cuối cùng mất đi kế sinh nhai và lâm vào cảnh khốn cùng.

Ở làng xã, các gia đình phải biết giúp đỡ lẫn nhau khi gặp cảnh thiếu thốn, khốn khố hay đau ốm. Trong tang ma, chôn cất cũng phải tương trợ nhau, để mỗi người tùy sức mà làm, không được ép buộc phải dâng cúng mâm cao cỗ đầy”.

Khi gặp lũ lụt, hỏa hoạn hay cướp bóc cũng cần tới cứu trợ.

Về lòng hiếu khách, đã có quy định “người dân các làng, thôn nằm gần đường sá, lối đi, chỗ thường có người qua lại, có thể dựng nhà trọ tạm theo điều kiện của mình để khách bộ hành dừng chân nghỉ đêm. Những nhà ở ven đường không được xua đuổi ai trong đêm khuya đến xin tạm trú. Chủ nhà cùng hàng xóm phải kiểm tra kỹ lưỡng những người ấy để phòng kẻ xấu. Nếu có phụ nữ đến xin nương nhờ thì phải coi việc bảo vệ, che chở họ là nghĩa vụ tuyệt đối; không được buông thả theo tà tâm, cũng không được để người thân hay kẻ ngoài dùng bạo lực mà làm điều ô nhục với họ. Đó đều là những hành vi phải chịu hình phạt nghiêm khắc”.

5. Quyền sở hữu

Ở trên, ta đã đề cập tới vị trí đặc biệt của đất đai trong luật pháp An Nam. Từ xưa, các bậc quân vương luôn quan tâm đến việc khai khẩn đất đai trong nước và giao cho dân chúng phần họ cần để sinh sống.

Họ từng sai các tù nhân đi khai phá đất hoang ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Về sau, khi các Chúa Nguyễn tiến tới vùng hạ Nam Kỳ, họ dùng những kẻ lang thang và phạm nhân trong nước để khai thác các vùng lãnh thổ mới sáp nhập.

Nhà vua là người sở hữu đất đai. Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc canh tác, ông đã sáng tạo ra hình thức sở hữu cá nhân. Ông công nhận rằng đất thuộc về người đang sinh sống, canh tác và nộp thuế. Nếu chủ sở hữu ngừng nộp khoản thuế đã quy định thì đất ấy sẽ trở lại thành ruộng công của triều đình. Như vậy, việc sở hữu đất công được xác lập miễn phí chỉ bằng việc đăng ký vào sổ thuế.

Khi dân chúng tiến dần xuống phía Nam, họ lập nên các làng mới, nhà vua chính thức công nhận và ban cho diện tích đất nhất định, đổi lại họ phải nộp cho triều đình một khoản tô.

Một làng có cả đất không thể chuyển nhượng và đất có thể chuyển nhượng. Loại đất không chuyển nhượng là những phần đất vua giao cho làng. Một phần trong đó dùng để nuôi sống các gia đình có người đang đi lính, phần còn lại được chia đều cho những người có tên trong sổ định kỳ ba năm một lần. Những loại đất này được gọi là công điền và công thổ. Ngoài ra còn những loại đất không thể chuyển nhượng khác như: hương hỏa – đất dành cho việc thờ cúng, nghĩa điền – đất để lập quỹ từ thiện trợ giúp người nghèo hoặc nuôi dạy trẻ em, tuyết điền – đất dùng để duy trì việc cúng tế cho những người đã khuất mà không có con cháu và lập bàn thờ cho các vong hồn, thêm nữa là đất dùng làm nghĩa trang, mồ mả. Triều đình không thể tịch thu những thửa ruộng công điền, công thổ này, chúng có tính vĩnh viễn. Tuy nhiên, trong trường hợp thiên tai, đói kém, luật pháp cho phép và dưới sự chấp thuận của nhà vua, đem sản phẩm của công điền, công thổ ra cầm cố trong thời hạn ba năm.

Bên cạnh những loại ruộng đất ấy, còn có bổn thôn điền và bổn thôn thổ, tức là đất mà làng xã đã mua lại của tư nhân bằng quỹ công, hoặc đã chiếm hữu khi đất đáng lẽ phải trở về công điền nhưng người sở hữu trước đó không còn nộp thuế. Những loại đất này có thể chuyển nhượng được. Chúng được ghi vào sổ thuế và chịu thuế điền thổ. Việc “trưng dụng đất” thì không tồn tại, nhưng luật quy định rằng khi triều đình cần thu hồi đất vì mục đích công cộng thì chủ đất sẽ được bồi thường.

Người dân Phú Thọ dùng nơm bắt cá khi ruộng chưa cấy lúa những năm 1920 – 1929. Nguồn: Bảo tàng Quai Branly

Ruộng lúa đóng vai trò trọng yếu trong xã hội An Nam, người nông dân sẽ làm đủ mọi cách để giữ đất: “Mất đi mảnh ruộng hẹp nơi con trâu xám to lớn của mình lội bì bõm trong bùn phù sa, không còn thu hoạch mấy gánh thóc nuôi sống cả năm, cùng với cá bắt ngay trên ruộng, không còn mỗi ngày đi dọc bờ đê nhỏ nơi trâu gặm cỏ, trên lưng lúc nào cũng có con quạ đen, ấy là điều mà người nông dân An Nam không thể nào chấp nhận” (Pierre Pasquier).

Tuy vậy, đôi khi họ vẫn cần đến tiền. Làm sao có thể xoay sở nếu không có tài sản gì khác ngoài đất, mà lại không muốn bán đứt đi?

Việc thế chấp không tồn tại ở An Nam. Về phương diện này, các thiết chế cũng phù hợp với tâm lý dân chúng. Chủ đất có thể bán đất với điều kiện chuộc lại. Tức là, ông ta giao đất cho người cho vay, nhưng có quyền lấy lại nếu hoàn trả số tiền đã vay. Người ta lập một hợp đồng, trong đó ghi rõ điều kiện chuộc, số tiền vay và thời điểm hoàn trả. Nếu không quy định thời hạn thì bất cứ khi nào có khả năng hoàn trả, chủ đất có quyền đòi lại ruộng.

Việc trả không đúng hạn không làm mất quyền sở hữu của chủ đất. Trong trường hợp đó, người cho vay không trở thành chủ đất, mà chỉ tiếp tục được hưởng lợi từ thửa đất và có thể chuyển giao quyền cầm đất cho người khác với cùng số tiền. Về phần mình, chủ đất cũng có thể trao quyền cầm cố sang một người cho vay mới để tất toán cho người cũ. Tuy nhiên, hợp đồng có thể quy định rằng nếu đến hạn vẫn không hoàn trả thì người cho vay trở thành chủ đất. Trong trường hợp này, đó gọi là bán đứt nhưng có quyền chuộc.

Do người An Nam gắn bó sâu sắc với đất đai, bộ luật không công nhận thời gian hiệu lực. Việc bán lậu một mảnh đất hay nhà cửa trong luật An Nam là hành vi phạm tội. Bán bất động sản của người khác bị coi như ăn cắp. Luật ở Pháp lại không trừng phạt điều này.

Các triều đại khác nhau đều chú trọng đến việc lập sổ địa chính (địa bạ). Vua Gia Long từng cho sửa đổi. Nhờ đó mà quyền lợi của những người sở hữu trước kia được duy trì và bảo lưu.■ (Hết)

J.B. Alberti

Lê Hằng Nga dịch

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN