Hòa giải Việt - Mỹ: Một hành trình trắc trở

Năm 1997, 30 năm sau khi đưa tin về chiến tranh với tư cách là phóng viên chiến trường, David Lamb, nhà báo nổi tiếng của tờ Los Angeles Times, trở lại Việt Nam để đưa tin về thời bình. Ông chuyển đến một căn hộ ở trung tâm Hà Nội và bắt đầu khám phá một Việt Nam mới, một đất nước đang trỗi dậy sau nhiều năm bị cô lập về chính trị và kinh tế. Trong 4 năm, Lamb đã đi khắp Việt Nam, gặp gỡ và phỏng vấn nhiều nhân vật. Cuốn sách Vietnam, Now: A Reporter Returns (Việt Nam hôm nay: Một phóng viên trở lại) xuất bản năm 2002 là kết quả của hành trình đó. Qua những câu chuyện chân thực, ông giải thích lý do tại sao Việt Nam thành công trong việc chôn vùi tàn dư của chiến tranh và tại sao người Việt Nam chào đón các nhà ngoại giao, khách du lịch và doanh nhân Mỹ với sự nồng ấm bất ngờ. Tạp chí Phương Đông giới thiệu với bạn đọc trích đoạn về tiến trình hòa giải Việt – Mỹ đầy chông gai mà tác giả thuật lại trong cuốn sách này. (Ngôn từ trong bài được giữ nguyên so với bản gốc để độc giả tham khảo).

Vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ năm 1975, các cán bộ cộng sản đã đi từ tòa đại sứ này đến tòa đại sứ khác bị bỏ không, giương cao lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Tòa đại sứ duy nhất họ bỏ qua là Tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Nayan Chanda, trưởng phân xã Sài Gòn của Tạp chí Far Eastern Economic Review, một trong số ít nhà báo ở lại sau cuộc di tản bằng trực thăng, đã hỏi một người lính gác Tòa Đại sứ Mỹ tại sao không có lá cờ Việt Cộng nào được treo trên đó. “Chúng tôi không được phép giương cờ”, người lính nói với Chanda. “Chúng tôi không muốn làm bẽ mặt người Mỹ. Họ sẽ quay lại”.

Câu trả lời đó có lẽ phản ánh tính thực dụng nhiều hơn là sự cao thượng. Thật vậy, Hoa Kỳ có các nguồn lực kinh tế và công nghệ mà Liên Xô không có, và việc khai thác chúng sẽ tạo ra một lực đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển của Việt Nam. Nhưng trước hết, Washington muốn đảm bảo Hà Nội phải bị trừng phạt vì đã chiến thắng: Washington đóng băng tài sản của Việt Nam tại Hoa Kỳ (260 triệu đô la) và cấm người Mỹ gửi tiền sang Việt Nam; cắt đứt đường dây thư tín và điện thoại giữa hai nước; từ chối xem xét thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà nước mới thống nhất; không giữ lời hứa của Nixon và Kissinger về việc cung cấp cho Việt Nam 3,3 tỷ đô la viện trợ tái thiết; phủ quyết yêu cầu gia nhập Liên hợp quốc của Việt Nam; chặn các khoản tín dụng và cho vay từ Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á; và áp đặt lệnh cấm vận thương mại mà Nhật Bản và các đồng minh khác bị gây sức ép phải tuân thủ.

Chính sách trừng phạt của Washington đã đẩy Việt Nam đến bờ vực thảm họa… Khi Bùi Tín, nhà báo, sĩ quan của Quân đội Bắc Việt Nam, tham gia tiếp nhận sự đầu hàng của Nam Việt Nam vào ngày 30/4/1975, ông đã nói với các bộ trưởng nội các đang lo lắng của Sài Gòn: “Các ông không có gì phải sợ. Giữa người Việt Nam, không có kẻ thắng người thua. Chỉ có người Mỹ là bị đánh bại. Nếu các ông là những người yêu nước, hãy coi đây là một khoảnh khắc vui mừng. Chiến tranh trên đất nước chúng ta đã kết thúc”. Nhưng nếu chiến tranh đã kết thúc, thì Thời kỳ Đen tối chỉ mới bắt đầu.

Những người biểu tình phản chiến trước đây từng bày tỏ lòng cảm thông với người Việt Nam khi bản thân họ đứng trước nguy cơ phải ra trận. Tuy nhiên, lúc này họ lại không phản ứng gì nhiều trước nỗi đau khổ và bất hạnh của người dân Việt Nam. Tom Hayden đã hoan nghênh sự sụp đổ của Sài Gòn, nói rằng nó sẽ dẫn đến “sự trỗi dậy của Đông Dương”. Thật vậy sao? Một nghìn sinh viên Đại học California đã tuần hành qua các đường phố Berkeley vào ngày 30/4 để ăn mừng. Nhưng họ mừng cho bản thân hay cho người Việt Nam? Jane Fonda ở đâu sau khi chiến tranh kết thúc? Có lẽ khi ấy chỉ còn sự im lặng, bởi các cuộc biểu tình chưa bao giờ liên quan đến hạnh phúc cuối cùng của người dân Việt Nam. Chúng chỉ phục vụ lợi ích cá nhân và nhằm chấm dứt sự can thiệp của Mỹ. Một khi những mục tiêu đó đã đạt được, những gì người Việt làm với nhau không còn quan trọng nữa. Hòa giải có thể chờ đến một ngày khác.

Nhật Bản và Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ ngoại giao 6 năm sau khi Thế chiến II kết thúc. Việt Nam và Hoa Kỳ mất đến 20 năm để thực hiện bước đi tương tự. Nhưng nếu chiến tranh được đặc trưng bởi những cơ hội hòa bình bị bỏ lỡ ở cả hai phía, thì hòa bình lại được định nghĩa bởi những cơ hội bị bỏ lỡ để vạch ra một hướng đi mới và mang tính xây dựng trong quan hệ Mỹ – Việt. Một trong những cơ hội đó đến vào năm 1977, hai năm sau khi Sài Gòn thất thủ, khi Tổng thống Jimmy Carter cử Leonard Woodcock, Trưởng Văn phòng liên lạc của Hoa Kỳ tại Bắc Kinh, đến Hà Nội để mở đường cho việc bình thường hóa quan hệ. “Tôi hiểu mong muốn của Tổng thống Carter là giải quyết các vấn đề của chúng ta trên một tinh thần mới”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói với Woodcock. “Và nếu vậy, tôi thấy không gì ngăn cản chúng ta giải quyết các vấn đề đó”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp Leonard Woodcock, trưởng phái đoàn Hoa Kỳ, tại Hà Nội, ngày 17/3/1977. Ảnh tư liệu
Cuộc đàm phán về bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ đầu tiên được tổ chức tại Paris ngày 3 và 4/5/1977. Thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền (giữa) là người dẫn đầu đoàn ngoại giao Việt Nam. Ảnh: AP

16 tháng sau, vào tháng 9/1978, các cuộc đàm phán bí mật tại New York đã tạo ra bước đột phá khi Việt Nam từ bỏ yêu cầu bồi thường bằng tiền như một điều kiện tiên quyết để bình thường hóa quan hệ. Cả hai bên đều chắc chắn rằng họ đã đạt được thỏa thuận đến mức căn biệt thự bỏ hoang trên phố Hai Bà Trưng ở Hà Nội, nơi từng là Lãnh sự quán Mỹ thời thuộc địa, đã được sơn màu xanh lá cây để chuẩn bị cho sự trở lại của các phái viên Mỹ. Dennis Harter, một viên chức nói tiếng Việt của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ở Washington, đã đến thăm đại sứ quán Việt Nam đóng cửa trên phố R, ngay gần đại lộ Massachusetts. Thảm trải sàn mốc meo, sơn tường bong tróc. Những tờ tạp chí Time và Newsweek xuất bản ba năm trước tường thuật chi tiết về sự sụp đổ của Sài Gòn nằm ngổn ngang khắp nơi. Những chiếc đĩa bẩn từ bữa ăn cuối cùng của các nhà ngoại giao Nam Việt Nam vào ngày họ rời đi và khóa cửa vẫn còn nguyên trên bàn. Harter kết luận rằng có thể dọn dẹp, sửa chữa nơi này để làm chỗ ở cho các phái viên của Hà Nội.

Cuối cùng, cả hai bên đều ra về tay trắng sau các cuộc đàm phán ở New York. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ khi ấy đang thúc đẩy phương án công nhận ngoại giao cùng lúc với Việt Nam và Trung Quốc; Việt Nam thì đang lên kế hoạch tiến đánh Campuchia do Trung Quốc hậu thuẫn. Zbigniew Brzezinski, Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Carter, cho rằng Việt Nam là một “vấn đề thứ yếu” và lo ngại rằng thỏa thuận với Hà Nội sẽ giết chết mọi cơ hội đạt được thỏa thuận với Bắc Kinh. Trong vòng hai tháng sau khi các cuộc đàm phán đổ vỡ, Việt Nam ký hiệp ước hữu nghị 25 năm với Liên Xô và tiến đánh Campuchia. Ngôi biệt thự uy nghi cổ kính trên phố Hai Bà Trưng sẽ bị bỏ trống thêm 16 năm nữa, cho đến khi Tổng thống Clinton dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại vào năm 1994. Khi tôi trở lại Việt Nam, nó đã được tân trang và tái sinh thành Câu lạc bộ Mỹ, một cơ sở cung cấp dịch vụ cho thuê video, hamburger cao cấp và lễ hội kỷ niệm Quốc khánh Hoa Kỳ ngày 4/7 hằng năm cho khoảng 300 người Mỹ sống ở Hà Nội.

Trong số nhiều khúc quanh kỳ lạ trên con đường xích lại gần nhau giữa Hà Nội và Washington, có một điều đáng chú ý là quá trình hòa giải được khởi xướng bởi những người từng tham chiến và kết thúc bởi một người từng né quân dịch, Tổng thống Clinton. Nó bắt đầu với nhóm nhỏ các cựu chiến binh mà Bobby Muller, người lính thủy đánh bộ bị liệt hai chân, đưa trở lại Hà Nội vào năm 1981. Khi trở lại Washington, ông đến gặp Hạ nghị sĩ (nay là Thượng nghị sĩ) John McCain, cựu phi công hải quân năm xưa từng bị bắn rơi và bắt làm tù binh ngay gần căn hộ của tôi ở Hà Nội. McCain run lên vì tức giận và đập bàn, “Chết tiệt, Bobby! Sao anh lại quay lại nói chuyện với kẻ thù?” Nhưng McCain dần dần dịu giọng. Ông tin rằng sự tức giận và thù hận trong lòng sẽ chỉ làm cho quá khứ đeo bám dai dẳng, và mặc dù ông vẫn gọi những kẻ tra tấn mình ở nhà tù Hỏa Lò là “gook” (từ miệt thị chỉ người Đông Á, đặc biệt là người Việt Nam, Philippines, Hàn Quốc/Triều Tiên), ông đã trở thành một trong những người vận động hàng đầu cho tiến trình hòa giải. Ông được các cựu chiến binh khác, cả đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ, cùng tham gia tại Đồi Capitol: Thượng nghị sĩ Bob Kerrey (bang Nebraska), John Kerry (bang Massachusetts), Max Cleland (bang Georgia) và Chuck Robb (bang Virginia); các Hạ nghị sĩ Jay Rhodes và Jim Kolbe (bang Arizona), Tom Carper (bang Delaware), Lane Evans (bang Illinois), David Skaggs (bang Colorado), Wayne Gilchrist (bang Maryland), và người bạn tù chiến tranh Pete Peterson (bang Florida).

Ngày 11/7/1995, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Ảnh: Thư viện Tổng thống Clinton

Clinton đã chính thức hóa tiến trình hòa giải. Ông dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại và thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995. Ông cử Peterson đến Hà Nội năm 1997 với tư cách là Đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam kể từ khi Sài Gòn thất thủ. Năm 2000, Clinton ký một hiệp định thương mại song phương với Việt Nam và đến thăm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ông là Tổng thống Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất Việt Nam kể từ năm 1969, khi trên một cánh đồng lầy lội cách Sài Gòn 12 dặm về phía bắc, Richard Nixon nói với hai đại đội bộ binh thuộc Sư đoàn Bộ binh số 1: “Ở đây trong cuộc chiến khó khăn và ảm đạm này, tôi nghĩ lịch sử sẽ ghi nhận rằng đây có thể là một trong những thời khắc vẻ vang nhất của nước Mỹ, bởi chúng ta đã đảm nhận một nhiệm vụ khó khăn và đã thành công”. Ông tiếp tục nhận xét: “Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta thiếu hiểu biết về lý do tại sao chúng ta lại ở đây, về ý nghĩa thực sự của cuộc chiến này”.

*

Hai người đàn ông, vừa có nhiều điểm chung lại vừa chẳng có gì chung, bỗng ngồi cạnh nhau trong một bữa tiệc tối ở Hà Nội, cố gắng tìm một tiếng nói chung. Một người là Đỗ Mười, năm xưa từng làm thợ sơn rồi gia nhập Đảng Cộng sản vào năm 1939 và trở thành một nhà cách mạng. Chính quyền Pháp kết án ông 10 năm tù khi Thế chiến II bùng nổ, nhưng ông trốn thoát sau khi thụ án chưa đầy một nửa thời gian. Ông thăng tiến đều đặn trong hệ thống cấp bậc của Đảng, luôn là một nhà tư tưởng bảo thủ và giờ đây là một trong những nhân vật quyền lực nhất Việt Nam. Người kia là Pete Peterson, kém Đỗ Mười 18 tuổi. Ông là một Đại tá Không quân Mỹ đã nghỉ hưu, cựu chiến binh từng chiến đấu ở Việt Nam, một nghị sĩ Dân chủ mới đắc cử từ Florida, người đã nếm trải quá nhiều bi kịch sau khi chiến tranh kết thúc: Con trai ông, Doug, mất trong một vụ tai nạn xe hơi năm 1983 khi còn ở tuổi thiếu niên; vợ ông, Carlotta, qua đời vì ung thư năm 1995.

Đỗ Mười ghé sát Peterson và hỏi: “Ngài có bao giờ bị tra tấn không?” Sự thẳng thắn như vậy rất hiếm thấy ở Việt Nam, và Peterson không biết phải nói gì. Nếu muốn, Peterson đã có thể kể cho Đỗ Mười nghe về sáu năm ở nhà tù Hỏa Lò – nơi được các tù binh Mỹ gọi là “Hanoi Hilton” – nhưng ông đã không nói. Chương đó trong cuộc đời ông đã khép lại. Peterson gạt bỏ câu hỏi bằng một cái xua tay. “Tôi muốn nói về tương lai, về những gì chúng ta có thể làm để thúc đẩy quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam tiến lên phía trước”, ông nói.

Nhưng Đỗ Mười vẫn khăng khăng. “Không, tôi muốn biết. Ngài có bị tra tấn không?”

“Có”, Peterson nói. Ông vén tay áo lên. Những vết rộp do dây thừng vẫn còn hằn trên khuỷu tay. Ông giơ bàn tay đôi khi vẫn tê cứng đến nỗi ông thoáng nghĩ liệu có phải nó đã bị rụng khỏi cơ thể. Ban đầu Đỗ Mười không nói gì. Rồi ông kéo một ống quần lên. Vết sẹo dài mà ông để lộ ra trông rất xấu xí và nham nhở. “Tôi cũng bị thực dân Pháp tra tấn”, Đỗ Mười nói, “trong cùng một nhà tù với ngài, Hỏa Lò, nhiều năm trước khi ngài đến đó”.

Cuộc trao đổi đó diễn ra vào năm 1991, trong chuyến đi đầu tiên của Peterson đến Việt Nam kể từ khi được thả khỏi nhà tù Hỏa Lò cùng các tù binh Mỹ khác vào năm 1973. Ông trở lại để vật lộn với một câu hỏi mà người Mỹ chỉ vừa mới bắt đầu đặt ra: Đã đến lúc Hoa Kỳ và Việt Nam nên rũ bỏ quá khứ và hòa giải những khác biệt giữa hai nước chưa? Peterson tìm thấy câu trả lời trên đường phố Hà Nội – trên gương mặt của những sinh viên ông gặp, trong ánh mắt của những đứa trẻ bán rong bản in lậu cuốn Người Mỹ trầm lặng của Graham Greene và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, trong sự nhiệt tình và hòa nhã của những người trẻ tuổi mà ông dừng lại trò chuyện – và câu trả lời là một tiếng “có” đồng thanh.

“Chỉ một phần nhỏ những người tôi gặp từng tham gia chiến tranh”, Peterson nói. “Hầu hết họ sinh ra sau khi chúng ta rút đi. Và tôi tự nhủ: “Tại sao chúng ta lại không để họ có được cuộc sống tốt đẹp hơn mà họ hằng mong muốn và xứng đáng? Tại sao chúng ta lại tước đoạt của họ sự thịnh vượng của Việt Nam?”.

Năm 1966, trong nhiệm vụ thứ 67, một cuộc ném bom ban đêm nhằm vào tuyến đường sắt phía bắc Hà Nội, Peterson bị bắn hạ bởi hỏa lực phòng không. Tay chân bị gãy, máy bay bốc cháy, Peterson nhảy dù xuống thôn An Đoài phía đông Hà Nội. Ông nghe thấy tiếng la hét giận dữ của dân làng đang tiến đến từ những cánh đồng lúa. Ông rút khẩu súng lục cỡ 38 ra khỏi bao và định tự sát. “Tất cả bà con tập hợp!”, dân quân Do The Dong, người phụ trách loa phóng thanh của thôn hôm đó, hét lên. “Tìm tên Mỹ!” Mắt lờ đờ, nheo lại, Peterson có thể nhìn thấy hình ảnh mờ mờ của một đám đông nông dân đang tiến đến gần với súng trường, gậy gộc và dao. Kẻ thù ở khắp mọi nơi, không một bóng người thân thiện nào trong phạm vi hàng triệu dặm. Chưa bao giờ ông cảm thấy cô đơn đến thế. Nhiều người dân làng muốn đánh hoặc giết tên Mỹ, Do The Dong sau này nhớ lại, nhưng họ không làm vậy vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói phải giao những người Mỹ bị bắt cho chính quyền chứ không được giết. Sau một đêm ở An Đoài, Peterson bị ném vào thùng xe máy và diễu qua các làng mạc, bị nông dân ném đá. Phải mất vài giờ mới đến được Hà Nội. Tại nhà tù cũ do Pháp xây dựng trên đường Hai Bà Trưng, ​​Peterson bắt đầu “sự kiện khủng khiếp, ghê tởm và đau buồn nhất trong cuộc đời tôi” – sáu năm làm tù binh chiến tranh.

31 năm sau ngày bị bắn rơi, Peterson trở lại An Đoài. Tôi cũng đến đó để gặp ông, nhưng tôi bị lạc trên quãng đường lái xe 90 phút từ Hà Nội. Tôi dừng lại ở các làng dọc đường để hỏi đường. Những người nông dân tươi cười chỉ trỏ lung tung, thường đưa ra những chỉ dẫn hoàn toàn trái ngược nhau. Cuối cùng, tôi tình cờ đến một thị trấn nơi các cán bộ địa phương đang tụ tập trong sân đất của trụ sở Ủy ban Nhân dân, và tôi biết mình đã đến đúng nơi. Một giờ sau, Đại sứ đến An Đoài trên chiếc Toyota Land Cruiser gắn cờ Mỹ. Ông bước xuống xe, mỉm cười, đưa tay phải ra và chào những người cựu thù bằng tiếng Việt. Nếu sự kiện ấy chưa hẳn là một cuộc trở về đúng nghĩa, thì ít nhất nó cũng là biểu tượng của hòa giải – điều sau này trở thành dấu ấn riêng của Peterson trên cương vị Đại sứ.

Peterson bước dọc theo con đê đất và đứng cạnh cây xoài nơi ông và đồng đội, Bernard Talley (người bị bắt giữ, không bị thương, một ngày sau Peterson, nay là phi công lái máy bay DC-10 cho hãng American Airlines), đã đáp xuống bằng dù. Lúc đầu, ông không nói nhiều. Hầu hết dân làng đã tụ tập quanh ông, và ông hỏi xem có ai tìm thấy khẩu súng lục mà ông đã vứt xuống ruộng lúa khi lực lượng dân quân tiến đến hay không. “Tôi thấy”, ông Nguyễn Danh Sính, 70 tuổi, nói. “Tôi đã tìm thấy nó và nộp cho Ủy ban Nhân dân. Nó vẫn còn đủ 6 viên đạn”.

“Còn sợi dây chuyền của tôi nữa. Ông có thấy nó không?”, ông hỏi, ý nói đến mặt dây chuyền hình Chúa Kitô mà ông đã đeo từ khi ông và Carlotta mua nó ở một cửa hàng nhà thờ ở Florida nhiều năm về trước. Sính nói rằng sợi dây chuyền cũng đã được tìm thấy, nhưng không ai biết nó ở đâu nữa. Peterson thất vọng thấy rõ, rồi bỏ qua chuyện đó.

Ông Nguyễn Danh Sính, một trong những người bắt giữ Pete Peterson năm 1966, nồng nhiệt đón tiếp ông tại thôn An Đoài (Hải Dương) năm 1997. Ảnh: Báo Hải Dương

Ông Nguyễn Viết Chộp, một trong những dân quân đầu tiên tiếp cận viên Đại úy Không quân Mỹ bị bắn rơi, đã gọi ba cô con gái và bốn đứa cháu của mình đến để đón chào sự trở về của Peterson. Nay đã 70 tuổi và là một chủ cửa hàng, ông Chộp đưa cả hai tay nắm lấy tay phải của Đại sứ. Ông dẫn Peterson đi qua một cái chuồng trâu và bước vào căn nhà chỉ có một phòng của mình. Nho và trà được bày trên bàn, hương trầm đang cháy trên bàn thờ. Không khí đặc lại vì nóng ẩm. Chộp và Peterson đến từ những thế giới khác nhau đến mức không có nhiều điều để nói hay nhiều kỷ niệm để chia sẻ. Nhưng Chộp nói rằng Peterson là vị khách nước ngoài quan trọng nhất từng đến An Đoài, và nhà ông sẽ luôn chào đón ngài Đại sứ. Peterson nói về tiến trình hòa giải và bảo Chộp lúc nào đến Hà Nội hãy ghé qua Đại sứ quán Mỹ (tưởng rằng ông Chộp không phải là người thường xuyên rời khỏi làng quê, nhưng vài tháng sau, một lính gác Đại sứ quán thuộc lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ gọi cho Thư ký của Peterson và nói, giọng bối rối: “Có một ông tên là Chộp ở dưới này. Ông nói ông quen biết Đại sứ và muốn chào hỏi”. Peterson xuống sảnh và họ trò chuyện khoảng 15 phút).

Trong hơn bốn năm ở Việt Nam, Peterson trở thành “một tấm biển quảng bá” sống động cho sự hòa giải. Ông có thể nuôi dưỡng lòng thù hận nhưng ông đã không làm vậy. Ông có thể trở thành “tù binh chiến tranh” suốt đời nhưng ông đã không chọn con đường đó. Ông chưa bao giờ xin lỗi về chiến tranh hay sự tham gia của mình vào đó – các quan chức Việt Nam chưa bao giờ yêu cầu ông làm vậy – nhưng ông chưa bao giờ ngừng tin tưởng rằng một tình bạn bền chặt nằm trong tầm tay của Việt Nam và Hoa Kỳ…

Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội, Việt Nam, ngày 7/5/1997. Ảnh: Hoang Dinh Nam / AFP

Vào ngày Quốc khánh Việt Nam năm 1997, lần đầu tiên trên cương vị Đại sứ Mỹ, Peterson đã cùng các nhà ngoại giao khác tham dự lễ viếng trang trọng trên bậc thang trải thảm đỏ của Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bên hòm kính đặt thi hài Bác, mỗi vị Đại sứ đều phải quay sang trái và cúi đầu tỏ lòng kính trọng. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về Peterson. Liệu người cựu tù binh chiến tranh này có cúi đầu như ông từng bị buộc phải làm trước những kẻ tra tấn tàn bạo trong tù? Liệu vị Đại sứ mới có thể hiện sự tôn kính đối với người từng là kẻ thù không đội trời chung của đất nước ông suốt cả một thế hệ?

Bên trong lăng, nhiệt độ được kiểm soát ở mức 20°C. Ánh sáng mờ ảo và có phần kỳ lạ. Trước hòm kính, Peterson quay sang trái, dừng lại với hai tay duỗi thẳng và hơi cúi người về phía trước. “Tôi thực sự không gặp khó khăn gì khi viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh”, sau này ông nhớ lại. “Đặc biệt là khi tôi nhớ đến chính sách của Hồ Chí Minh rằng không được giết tù binh ngay tại chỗ. Nếu không có chính sách đó, có lẽ tôi đã không còn ở đây ngày hôm nay”.■

David Lamb

Anh Dũng (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN