Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thường được nhắc đến như một mẫu mực về nghệ thuật chớp thời cơ. Nhưng nếu chỉ nhìn vào những ngày khởi nghĩa sôi sục của tháng Tám thì chưa thấy hết tầm vóc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò của Mặt trận Việt Minh. Chính quyền có thể được giành trong một thời gian rất ngắn, nhưng để biến thắng lợi cách mạng thành một nhà nước tồn tại vững vàng trước sự chống phá từ bên trong và sức ép từ bên ngoài lại là thử thách khó khăn hơn nhiều.
Trong hai năm 1945 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng thời giải quyết nhiều bài toán: tận dụng sự thất bại của phát-xít Nhật để giành chính quyền; hòa hoãn với Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội và quân đội Tưởng Giới Thạch; cuối cùng, đối phó với âm mưu trở lại của thực dân Pháp. Chính sự kết hợp giữa vai trò lãnh đạo của Hồ Chủ tịch, sức mạnh của Mặt trận Việt Minh và tính chính danh của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới tạo nên khả năng giành và giữ chính quyền.
Từ tháng 9/1940, quân Nhật tiến vào Đông Dương nhưng vẫn sử dụng bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Nhân dân Việt Nam phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Đến ngày 9/3/1945, nhận thấy quân Pháp có thể quay sang chống mình khi phe Trục đang thất bại, Nhật tiến hành đảo chính, loại bỏ bộ máy thống trị của Pháp và độc chiếm Đông Dương.
Ngày 11/3/1945, Bảo Đại tuyên bố “độc lập” và cam kết hợp tác với Nhật. Ngày 17/4, Nội các Trần Trọng Kim được thành lập. Tuy mang danh một chính phủ Việt Nam, bộ máy này không có thực quyền về quân sự, đối ngoại và những vấn đề chiến lược; quyền lực quyết định vẫn nằm trong tay quân đội Nhật. Đây là một chính quyền “bù nhìn thụ động”, nằm trong cấu trúc quyền lực do Nhật kiểm soát.
Trong lúc ấy, trên chính trường Việt Nam tồn tại nhiều tổ chức cùng hướng tới mục tiêu giành quyền lực hoặc tham gia một chính quyền mới. Bên cạnh Việt Minh còn có Việt Nam Quốc dân Đảng, gọi tắt là Việt Quốc; Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, gọi tắt là Việt Cách; các tổ chức Đại Việt và những lực lượng chính trị có xu hướng dựa vào Nhật hoặc Trung Hoa Dân quốc. Phía sau mỗi lực lượng là một nguồn sức mạnh khác nhau.

Chính phủ Trần Trọng Kim có danh nghĩa và một phần bộ máy hành chính cũ nhưng không có cơ sở quần chúng rộng rãi. Việt Quốc và Việt Cách có quan hệ với chính quyền Tưởng Giới Thạch, nhưng ảnh hưởng thực tế trong nước thời điểm trước tháng Tám còn hạn chế. Việt Minh, ngược lại, đã xây dựng được hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương, các đoàn thể cứu quốc, căn cứ địa, lực lượng vũ trang và một chương trình chính trị rõ ràng.
Đặt độc lập dân tộc cao hơn khác biệt đảng phái
Ưu thế của Việt Minh không chỉ hình thành trong tháng Tám năm 1945. Ngay từ Hội nghị Trung ương lần thứ tám tháng 5/1941, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đã được đặt lên hàng đầu. Hồ Chủ tịch xác định mâu thuẫn chủ yếu cần giải quyết trước mắt là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân và phát-xít.
Mặt trận Việt Minh được thành lập nhằm liên hiệp các tầng lớp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo và cá nhân yêu nước, không phân biệt giàu nghèo hay khuynh hướng chính trị, miễn là cùng hướng tới mục tiêu đánh đuổi Pháp – Nhật và giành độc lập. Chương trình Việt Minh còn dự kiến sau khi giải phóng đất nước sẽ thành lập một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính phủ do quốc dân đại hội cử ra.
Đây là điểm khác biệt có ý nghĩa quyết định. Việt Minh không xuất hiện trước nhân dân đơn thuần như một lực lượng muốn giành chính quyền cho riêng một đảng, mà như một mặt trận đặt quyền lợi dân tộc lên trên những khác biệt về giai cấp và ý thức hệ. Chính nền tảng ấy về sau cho phép Chủ tịch Hồ Chí Minh mời những nhân sĩ, trí thức, quan lại cũ và đại diện các chính đảng khác cùng tham gia chính quyền mà không làm mất phương hướng chiến lược.
Đến giữa tháng 8/1945, tình hình thay đổi căn bản. Liên Xô tiến công quân Nhật ở Đông Bắc Á; Nhật Bản chấp nhận đầu hàng Đồng minh ngày 15/8. Quân Nhật ở Đông Dương hoang mang, Chính phủ Trần Trọng Kim tê liệt, trong khi quân Đồng minh chưa kịp kéo vào. Đây là thời cơ rất ngắn: nếu không giành chính quyền trước khi quân Anh và quân Tưởng xuất hiện, vấn đề Việt Nam có thể bị các nước lớn sắp đặt mà không có sự tham gia của người Việt Nam.
Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào quyết định Tổng khởi nghĩa. Quốc dân Đại hội ngày 16–17/8 thông qua chủ trương khởi nghĩa, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Như vậy, trước khi tiến vào các thành phố lớn, Việt Minh đã chủ động tạo ra một thiết chế đại diện và một chính phủ cách mạng ở dạng sơ khai. Khởi nghĩa không chỉ nhằm đánh đổ bộ máy cũ mà còn chuẩn bị ngay lực lượng thay thế nó.
Trong những ngày Tổng khởi nghĩa, quân Nhật vẫn còn hàng vạn binh sĩ có vũ khí trên lãnh thổ Việt Nam. Nếu Nhật can thiệp quyết liệt, lực lượng cách mạng có thể phải chịu tổn thất rất lớn. Bởi vậy, phương thức giành chính quyền được lựa chọn là kết hợp sức mạnh áp đảo của quần chúng với việc tránh kích động quân Nhật mở một cuộc đàn áp quân sự. Đây là một cách xử lý hết sức thực tế. Việt Minh không chờ quân Nhật chính thức giao lại quyền lực, nhưng cũng không biến cuộc tiếp quản thành một trận đánh trực diện không cần thiết. Sức mạnh quần chúng tạo ra cuộc Cách mạng mang lại độc lập dân tộc.
Đối với Chính phủ Trần Trọng Kim, bộ máy này bị giải thể khi cách mạng giành chính quyền tại Hà Nội, Huế và các địa phương khác.
Tuy nhiên, việc xóa bỏ thiết chế không đồng nghĩa với truy bức tất cả những người từng làm việc trong thiết chế đó. Những cá nhân có lòng yêu nước, có năng lực chuyên môn và sẵn sàng phục vụ đất nước mới vẫn được trân trọng. Luật sư Phan Anh, từng giữ chức Bộ trưởng Thanh niên trong Nội các Trần Trọng Kim, sau này được giao giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Nhiều trí thức không phải đảng viên cộng sản như Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Đình Hòe, Huỳnh Thúc Kháng cũng được mời tham gia và giữ trọng trách trong bộ máy nhà nước mới.
Cách giải quyết với Bảo Đại là một biểu hiện đặc sắc khác. Thay vì bắt giữ hoặc trừng phạt vị vua cuối cùng, Chính phủ cách mạng tiếp nhận sự thoái vị và việc trao ấn kiếm ngày 30/8/1945, chấm dứt chế độ quân chủ trong hòa bình. Bảo Đại trở thành công dân Vĩnh Thụy và được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm Cố vấn tối cao. Biện pháp ấy vừa tước bỏ biểu tượng quyền lực của chế độ cũ, vừa hóa giải khả năng Hoàng gia trở thành trung tâm tập hợp lực lượng đối lập. Bước đi này còn gửi đi thông điệp rằng chính quyền mới không nhằm trả thù cá nhân mà muốn quy tụ mọi người Việt Nam quanh nền độc lập.
Cuối tháng 8/1945, Ủy ban Dân tộc giải phóng được cải tổ thành Chính phủ lâm thời. Một số thành viên Việt Minh tự nguyện rút lui để nhường chỗ cho trí thức và người ngoài Việt Minh. Chính phủ mới vì thế không mang hình ảnh một chính phủ riêng của một đảng, mà là một chính phủ quốc gia thống nhất. Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tuyên bố thành lập trước khi quân Đồng minh triển khai đầy đủ việc giải giáp quân Nhật.
Hòa hoãn với quân Tưởng và Việt Quốc, Việt Cách
Giành được chính quyền chưa có nghĩa là nguy cơ đã qua. Theo quyết định của Hội nghị Potsdam, quân Trung Hoa Dân quốc được giao giải giáp quân Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16, còn quân Anh đảm nhiệm khu vực phía nam. Cuối tháng 8 và đầu tháng 9/1945, gần 20 vạn quân Tưởng kéo vào miền Bắc. Việt Quốc và Việt Cách đi theo hoặc dựa vào sự hậu thuẫn của lực lượng này, đòi cải tổ Chính phủ, chia ghế và hạn chế vai trò của Việt Minh.
Trong khi đó, ngày 23/9/1945, quân Pháp được quân Anh giúp sức đã nổ súng tái chiếm Sài Gòn. Chính quyền cách mạng đứng trước nguy cơ phải cùng lúc đối phó với quân Pháp ở miền Nam, quân Tưởng ở miền Bắc và các tổ chức chính trị có vũ trang ở trong nước. Chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc này là tuyệt đối tránh xung đột quân sự với quân Tưởng, thực hiện “Hoa – Việt thân thiện”, tranh thủ thời gian và tập trung mũi nhọn vào thực dân Pháp.

Những nhượng bộ được đưa ra là thực chất chứ không chỉ mang tính tượng trưng. Chính phủ cung cấp và tạo điều kiện mua lương thực cho quân Tưởng, chấp nhận một số yêu sách kinh tế, duy trì những quyền lợi nhất định của Hoa kiều; đồng thời nhiều lần trực tiếp gặp gỡ các tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc. Ngày 11/11/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán, tổ chức Đảng rút vào hoạt động bí mật. Đây là một quyết định sách lược rất lớn nhằm loại bỏ cái cớ “diệt cộng” mà quân Tưởng và các lực lượng đối lập thường sử dụng.
Đối với Việt Quốc và Việt Cách, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì đàm phán. Cuộc Tổng tuyển cử dự kiến tổ chức ngày 23/12/1945 được lùi đến ngày 6/1/1946 để các lực lượng này có thêm thời gian tham gia. Ngày 24/12/1945, Việt Minh, Việt Quốc và Việt Cách ký bản “Biện pháp đoàn kết” gồm 14 điều chính và 4 điều phụ, xác định nguyên tắc “Độc lập trên hết, đoàn kết trên hết”, ủng hộ Tổng tuyển cử và kháng chiến, và cam kết không sử dụng vũ lực.
Việt Quốc và Việt Cách được đặc cách 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử, trong đó Việt Quốc 50 ghế và Việt Cách 20 ghế. Nhìn thuần túy theo thủ tục dân chủ, đây là một sự nhân nhượng đặc biệt. Nhưng trong hoàn cảnh quân Tưởng đang hiện diện, quyết định ấy đã tước bỏ lý do để các tổ chức này tẩy chay bầu cử, thành lập một chính phủ riêng hoặc kêu gọi quân Tưởng can thiệp.
Ngày 1/1/1946, Chính phủ Liên hiệp lâm thời ra mắt, Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Nguyễn Hải Thần của Việt Cách làm Phó Chủ tịch. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1 bầu được 333 đại biểu; cùng 70 đại biểu Việt Quốc, Việt Cách được bổ sung, Quốc hội khóa I có 403 đại biểu. Ngày 2/3/1946, Quốc hội thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Việt Minh chỉ giữ một số vị trí, trong khi Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch, Nguyễn Tường Tam của Việt Quốc làm Bộ trưởng Ngoại giao, Huỳnh Thúc Kháng – một nhân sĩ không đảng phái – làm Bộ trưởng Nội vụ.
Sự khéo léo nằm ở chỗ Việt Minh chấp nhận chia sẻ chức vụ nhưng không đánh đổi nguồn gốc quyền lực của nhà nước. Quốc hội vẫn được hình thành bằng phổ thông đầu phiếu; chính quyền các cấp, các đoàn thể quần chúng và lực lượng bảo vệ đất nước vẫn dựa vào sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân. Những đại diện Việt Quốc và Việt Cách được mời tham gia, nhưng phải hoạt động trong một thiết chế quốc gia đã được xác lập, thay vì dựa vào quân đội nước ngoài để dựng nên một chính quyền khác.

Đoàn kết rộng rãi nhưng không dung thứ bạo lực lật đổ
Chính sách hòa hoãn không có nghĩa là chính quyền cách mạng từ bỏ nguyên tắc hoặc dung thứ mọi hoạt động chống phá. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ phân biệt rõ những người có quan điểm khác nhưng thực tâm yêu nước với những lực lượng dựa vào ngoại bang, tổ chức vũ trang, bắt cóc, ám sát hoặc âm mưu đảo chính.
Khi quân Tưởng còn hiện diện, Chính phủ chủ yếu kiềm chế, thương lượng và tránh xung đột. Sau khi quân Tưởng rút dần, một số lãnh đạo Việt Quốc, Việt Cách đi theo quân Tưởng sang Trung Quốc; một số khác tiếp tục hoạt động chống chính quyền hoặc tìm chỗ dựa mới từ Pháp. Ngày 12/7/1946, lực lượng an ninh khám xét các cơ sở của Quốc dân Đảng, trong đó có số 7 phố Ôn Như Hầu, thu được tài liệu về một kế hoạch gây rối và đảo chính Chính phủ. Vụ án được xử lý như một hoạt động bạo lực chống nhà nước chứ không phải một cuộc tranh luận chính trị thông thường.
Cùng lúc kiên quyết bảo vệ an ninh, chính quyền vẫn tiếp tục mở rộng mặt trận đoàn kết. Ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam – gọi tắt là Liên Việt – được thành lập để thu hút những tổ chức và cá nhân yêu nước còn đứng ngoài Việt Minh, kể cả một số đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự, các nhà lãnh đạo như Huỳnh Thúc Kháng làm Hội trưởng và Tôn Đức Thắng làm Phó Hội trưởng.
Hai quá trình diễn ra song song cho thấy nguyên tắc nhất quán: cánh cửa hợp tác luôn rộng mở đối với những người đặt độc lập dân tộc lên trên quyền lợi đảng phái; nhưng khi hoạt động chính trị chuyển thành bạo lực, khủng bố hoặc câu kết với ngoại lực để lật đổ chính quyền thì nhà nước phải sử dụng pháp luật và lực lượng bảo vệ an ninh. Hòa hoãn vì thế không phải là yếu đuối; kiên quyết cũng không đồng nghĩa với hẹp hòi. Đó là hai mặt của cùng một chiến lược bảo vệ chính quyền non trẻ của Hồ Chủ tịch và Việt Minh.
Sự tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính quyền cách mạng không nằm ở một bước đi riêng lẻ, mà ở khả năng liên tục chuyển hóa tình thế. Trong toàn bộ quá trình ấy, cái bất biến là độc lập, thống nhất và quyền tự quyết của dân tộc. Những vấn đề có thể thay đổi là cơ cấu chính phủ, số ghế bộ trưởng, thành phần Quốc hội, hình thức hoạt động công khai của Đảng hoặc những nhượng bộ tạm thời về kinh tế và ngoại giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh sẵn sàng nhân nhượng về vị trí và hình thức, nhưng không nhân nhượng mục tiêu tồn tại của một nước Việt Nam độc lập.
Nhờ những quyết sách ấy, Việt Minh và Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ giành được chính quyền trong mùa thu năm 1945, mà còn giữ được chính quyền qua thời điểm hiểm nghèo nhất của nền độc lập non trẻ, chuẩn bị cho dân tộc bước vào cuộc kháng chiến lâu dài với tư cách một quốc gia có chủ quyền, một nhà nước có tổ chức và quần chúng nhân dân đã thực sự trở thành người làm chủ vận mệnh của mình.■
PHƯƠNG ĐÔNG