Trước khi qua đời tại Việt Nam năm 1967, Bernard Fall, một học giả và nhà báo được giới phê bình đánh giá cao, đã dựa trên tài liệu giải mật từ Bộ Quốc phòng Pháp và các cuộc phỏng vấn với hàng nghìn binh sĩ Pháp và Việt Nam còn sống sót để dệt nên một tường thuật hấp dẫn về trận Điện Biên Phủ. Với nhiều bản đồ chi tiết, ảnh tư liệu cùng những phân tích sâu sắc và thấu đáo của Fall, cuốn sách Hell in a very small place (Điện Biên Phủ – một góc địa ngục) đã trở thành một trong những tác phẩm chuẩn mực thuộc thể loại phóng sự chiến tranh. Tạp chí Phương Đông giới thiệu với bạn đọc trích đoạn Chương XI kể về những gì diễn ra sau trận Điện Biên Phủ với những chi tiết thú vị ít người biết tới.
Ngày 7 tháng 5 năm 1954
Chênh lệch múi giờ giữa Paris và Điện Biên Phủ là bảy tiếng. Vào lúc 10h30 giờ Paris ngày 7/5, lá cờ đỏ được kéo lên trên nóc hầm chỉ huy của De Castries tại Điện Biên Phủ. Tin tức có lẽ được truyền tới Chính phủ Pháp vào khoảng trưa cùng ngày.

Vào lúc 16h30, Chính phủ Pháp thông báo với Quốc hội, cơ quan lập pháp chính của Pháp, rằng Thủ tướng sẽ trình bày một thông báo quan trọng. Vào lúc 16h45, Joseph Laniel, người đàn ông 65 tuổi gốc Norman với dáng vẻ rắn rỏi đã trở thành Thủ tướng vào tháng 6/1953, bước lên bục phát biểu, được hộ tống bởi một số Bộ trưởng trong nội các của ông. Thủ tướng mặc toàn đồ đen. Tin tức về thảm họa đã lan đến Paris và hội trường đã chật kín các nhà lập pháp. Mọi chỗ trong khu vực dành cho khách và khu vực báo chí đều đã có người ngồi.
Thủ tướng nói bằng giọng mà ông đã cố gắng kiểm soát nhưng không được, và ban đầu ông nói nhỏ đến mức hầu như không nghe thấy ngay cả khi có sự hỗ trợ của hệ thống loa phóng thanh:
Chính phủ đã được thông báo rằng cụm cứ điểm trung tâm Điện Biên Phủ đã thất thủ sau 20 giờ giao tranh ác liệt không ngừng nghỉ.
Giọng ông nghẹn lại khi nói những lời đó. Có tiếng thở dài vang lên từ phía khán giả, và trong tiếng lạch cạch xáo trộn của những chiếc ghế, các nhà lập pháp, khách mời và giới báo chí đứng dậy, ngoại trừ 95 người Cộng sản và ông Charles de Chambrun, một nhà lập pháp thuộc Đảng Tiến bộ liên minh với Cộng sản.
Trong bầu không khí im lặng như tờ, một nữ nghị sĩ bỗng bật khóc nức nở. Laniel tiếp tục:
Cứ điểm Isabelle vẫn đứng vững. Kẻ địch muốn Điện Biên Phủ thất thủ trước khi hội nghị về Đông Dương khai mạc. Chúng tin rằng chúng có thể giáng một đòn quyết định vào tinh thần của Pháp. Chúng đã đáp lại thiện chí của chúng ta, ý chí hòa bình của Pháp, bằng cách hy sinh hàng ngàn quân để đè bẹp những người anh hùng, những người trong suốt 55 ngày qua đã khiến thế giới phải ngưỡng mộ…
… Pháp phải nhắc nhở các đồng minh rằng trong suốt bảy năm qua, Quân đội Liên hiệp Pháp đã không ngừng bảo vệ một khu vực trọng yếu của châu Á và là lực lượng duy nhất bảo vệ lợi ích của tất cả các bên. Toàn thể nước Pháp chia sẻ nỗi đau của gia đình các chiến sĩ Điện Biên Phủ. Sự anh dũng của họ đã đạt đến mức độ mà lương tri chung của nhân loại – vì những người bị thương và vì những người có lòng dũng cảm xứng đáng được vinh danh – phải thúc đẩy đối phương đưa ra những quyết định có thể góp phần, hơn bất cứ điều gì khác, vào việc tạo lập một bầu không khí thuận lợi cho hòa bình.
Tin tức về thảm họa bao trùm nước Pháp như một tấm chăn dày. Hồng y Maurice Feltin, Tổng giám mục Paris, đã ra lệnh cử hành một Thánh lễ trọng thể cầu nguyện cho những người đã chết và tù binh của Điện Biên Phủ. Nhà hát Opera Paris, nơi dự kiến đón tiếp Đoàn ba lê Opera Moscow lần đầu tiên kể từ khi kết thúc Thế chiến II, đã hủy bỏ toàn bộ chuỗi buổi diễn của Nga. Truyền hình Pháp (ở Pháp, cả đài phát thanh và truyền hình đều do chính phủ kiểm soát) đã hủy bỏ các chương trình buổi tối và ba đài phát thanh lớn đã hủy bỏ tất cả các chương trình giải trí và thay thế bằng các chương trình nhạc cổ điển Pháp, đặc biệt là bản Requiem (Khúc tưởng niệm) của Hector Berlioz. Đó là bản Requiem duy nhất mà hàng ngàn người đã chết ở Điện Biên Phủ có thể được nghe.
Tại Nice, trên bờ biển Riviera của Pháp, Quốc trưởng của chế độ Việt Nam phi cộng sản, Bảo Đại (tên ông có nghĩa là “Người gìn giữ sự vĩ đại”, nhưng ông lại thích cuộc sống ở vùng Riviera của Pháp hơn là gánh vác cuộc chiến ở Việt Nam), đã đưa ra một tuyên bố riêng, trong đó ông cảm ơn người Pháp vì những hy sinh của họ:
Nay nước Pháp đã công nhận nền độc lập của Việt Nam, không ai còn có thể nghi ngờ về tinh thần mã thượng của nước Pháp, đã chiến đấu cho nước Việt Nam và cho thế giới tự do… Người Pháp có thể tin được rằng nước Việt Nam không bao giờ quên những hy sinh của nước Pháp[1].
Tại Sài Gòn, không khí trở nên gấp gáp hơn bao giờ hết. Một mặt, lệnh gọi nhập ngũ đối với 120.000 thanh niên Việt Nam chỉ đưa đến 7.000 người được gọi nhập ngũ, trong đó có 5.000 người bị kết luận là không đủ điều kiện phục vụ[2]. Mặt khác, tin tức về thất bại đã gây ra một làn sóng ồ ạt các khoản chuyển tiền của người Việt và người Pháp sang Hồng Kông, nơi đồng piaster Việt Nam trên thị trường chợ đen bất ngờ tăng từ khoảng 60 đổi 1 đô la Mỹ lên 85.
Tin Điện Biên Phủ thất thủ đến với Hoa Kỳ quá muộn đối với các tờ báo buổi sáng ngày 7/5 – nhưng chính điều đó lại làm cho chúng trở nên thú vị gấp đôi. Bởi trên thực tế Điện Biên Phủ đã biến mất khỏi trang nhất từ rất lâu trước đó. Trong khi quân Pháp đang chết trên các cứ điểm Eliane, nước Mỹ lại dán mắt vào màn hình tivi, xem vị thượng nghị sĩ trẻ tuổi (nay đã qua đời) của bang Wisconsin chất vấn Bộ trưởng Lục quân và một vị tướng quân đội về lý do tại sao một nha sĩ quân đội ít tên tuổi, được cho là có khuynh hướng cánh tả, lại được thăng chức thường xuyên từ đại úy lên thiếu tá. Ngay vào thời điểm khối bộc phá của Việt Minh nổ tung Eliane 2 (Đồi A1), Điện Biên Phủ xuất hiện trên trang 6 của tờ báo danh tiếng nhất Hoa Kỳ.

Vào ngày Điện Biên Phủ thất thủ, Thượng nghị sĩ McCarthy đã thách thức quyền của nhánh hành pháp trong việc giữ bí mật các dữ liệu đối với Quốc hội, và sự kiện Điện Biên Phủ chỉ được nhắc đến ở trang 3. Tuy nhiên, một thượng nghị sĩ đến từ Texas, Lyndon B. Johnson, đã có bài phát biểu trước bữa tối thường niên của đảng Dân chủ nhân ngày Jefferson-Jackson ở Washington, trong đó ông thể hiện rõ sự khởi đầu của mối quan tâm sâu sắc đến Việt Nam. Mối quan tâm này sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn sau khi ông trở thành Tổng thống:
Chính sách của Mỹ đối với Đông Dương là gì?
Tất cả chúng ta đều đã nghe về chuỗi những sự kiện đảo lộn, rối ren, báo động và chệch hướng đáng buồn phát sinh từ Washington trong mấy tuần qua.
Rõ ràng là chính sách đối ngoại của Mỹ chưa bao giờ trải qua một sự đảo chiều ngoạn mục đến vậy trong lịch sử.
Chúng ta đã bị đối phương bắt quả tang khi đang chơi trò lừa gạt, bạn bè và đồng minh của chúng ta cũng đang lo sợ và tự hỏi chúng ta đang đi về đâu.
Chúng ta đang đứng trước nguy cơ bị bỏ rơi trần trụi và đơn độc trong một thế giới thù địch.
… Trên thế giới hiện nay, hình ảnh đất nước chúng ta đang suy yếu một cách không cần thiết. Điều này đau lòng đến mức chúng ta nên ngừng hướng mắt ra nước ngoài, thay vào đó hãy nhìn vào trong nước[3].
Sau hành động can thiệp quan trọng vào ngày 3/4, bài phát biểu ngày 6/5 của vị tổng thống tương lai đã khẳng định lập trường của ông về vấn đề Việt Nam. Khi đã trở thành Tổng thống, Lyndon B. Johnson, trái ngược với ý kiến của những người cho rằng ông không có kiến thức sâu rộng về ngoại giao, đã hành động theo những bài học ông rút ra từ Điện Biên Phủ: Mỹ sẽ không để xảy ra một Điện Biên Phủ thứ hai chừng nào ông còn có thể ngăn chặn được.
Vào lúc 21h30 (giờ miền Đông nước Mỹ), Ngoại trưởng Dulles đã thuật lại cho người dân Mỹ về những sự kiện gần đây, trong đó ông dành lời tri ân ngắn gọn cho De Castries và binh sĩ của ông:
Những người lính Pháp đã chứng tỏ rằng họ không hề đánh mất ý chí hay kỹ năng chiến đấu ngay cả trong những điều kiện khắc nghiệt nhất. Điều này cho thấy Việt Nam sản sinh ra những người lính có đủ phẩm chất để bảo vệ đất nước.
Trong bài phát biểu, Ngoại trưởng Dulles đã khéo léo quy trách nhiệm cho việc Mỹ không hành động, một phần do Thủ tướng Anh Churchill từ chối tham gia hành động tập thể (united action)[4] tại Việt Nam trước Hội nghị Geneva, và phần khác là do chính Quốc hội Mỹ. Một lần nữa, những gì Dulles nói có tầm quan trọng then chốt trong việc định hình cam kết của Mỹ đối với Việt Nam một thập kỷ sau đó:
Quốc hội là một đối tác ngang hàng trong việc đưa ra các cam kết có thể liên quan đến sử dụng vũ lực. Chỉ Quốc hội mới có thể tuyên chiến. Tổng thống Eisenhower đã nhiều lần nhấn mạnh rằng ông sẽ không triển khai hành động quân sự ở Đông Dương nếu không có sự ủng hộ của Quốc hội. Hơn nữa, ông cũng đã nói rõ rằng ông sẽ không theo đuổi điều đó, trừ khi, theo đánh giá của ông, có một nỗ lực tập thể đầy đủ, dựa trên sự thống nhất mục tiêu thực sự trong việc bảo vệ các lợi ích sống còn.
Nói cách khác, thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ sẽ bị coi như sự đã rồi và các cuộc đàm phán tại Geneva sẽ được để diễn ra theo hướng đã định trước.
Rốt cuộc, chỉ còn tạp chí Life là cố tìm cho được đôi chút khía cạnh tích cực trong sự sụp đổ của tập đoàn cứ điểm. “Tia hy vọng duy nhất trên những nấm mồ của Điện Biên Phủ”, tạp chí này viết trong số ra ngày 17/5/1954, “là sự ngoan cường cố chấp của Pháp, một trở ngại đối với hành động tập thể, đã bị loại bỏ”.
Thứ bảy, ngày 8 tháng 5 năm 1954
Ngày 8/5 là kỷ niệm 9 năm ngày Chiến thắng (VE-day) của quân Đồng minh trước Đức Quốc xã, và nay đã trở thành ngày kỷ niệm một thất bại mới của Pháp. Tối hôm trước, tại cụm cứ điểm chính của Điện Biên Phủ, Việt Minh đã tập hợp các tù binh Pháp thành những hàng dài. Họ nhìn Tướng De Castries và một số sĩ quan cấp cao của ông bị đưa đi ngang qua bằng xe jeep với ánh mắt vô hồn. Đại đoàn 308, được mệnh danh “Đại đoàn Thép”, đã nắm quyền kiểm soát chiến trường. Vị tướng chỉ huy của Đại đoàn, ông Vương Thừa Vũ, vóc người rắn rỏi, tóc hoa râm, đã thiết lập sở chỉ huy của mình trong hầm chỉ huy của De Castries.
Lúc 20h00 ngày 7/5, bác sĩ Thái, trưởng ban phẫu thuật của Đại đoàn 308, cùng với bốn bác sĩ trẻ hơn của đơn vị, đến gặp bác sĩ Grauwin. Bác sĩ Thái có vóc dáng cao so với người Việt, rất gầy và nhợt nhạt. Ông đã cùng đơn vị hành quân hơn 600 dặm từ biên giới Trung Quốc và giống như Grauwin, ông đã ở bên bàn mổ cả ngày lẫn đêm trong suốt ba tháng qua. Tốt nghiệp Đại học Bordeaux và Trường Y Montpellier, ông nói tiếng Pháp rất giỏi. Ông đã im lặng đi qua những hầm bệnh viện chật ních, nồng nặc mùi hôi thối của người chết và người đang hấp hối, rồi ngồi xuống một chiếc ghế đẩu nhỏ trong căn phòng nhỏ hẹp của Grauwin, trong khi Grauwin ngồi xuống cái giường tầng của mình. Người bác sĩ Cộng sản nhìn đồng nghiệp người Pháp và nói: “Khi đi qua đây, chúng tôi đã thấy hầm của các ông chật cứng người bị thương. Chúng tôi nhận ra mùi đó. Chúng tôi hiểu những gì các ông đã trải qua, nhưng chúng tôi không thể làm gì được. Đó là tất cả những gì tôi có thể nói với ông”[5].
Grauwin ngước nhìn lên đầy ngạc nhiên: hóa ra kẻ địch cũng là con người. Chỉ trong một thời gian ngắn, các bác sĩ đã nhất trí rằng trước hết, tất cả những người bị thương phải được đưa ra khỏi hầm ngầm và chuyển đến các bệnh viện và trạm cứu thương ngoài trời. Với số lượng lớn dù nylon rải rác khắp trại, việc dựng lều tạm sẽ không khó khăn gì. Các bác sĩ và nhân viên y tế người Pháp có thể tiếp tục công việc của mình dưới sự giám sát của nhân viên y tế Việt Minh. Mặt khác, các nhân viên y tế Việt Minh có thể mượn dụng cụ phẫu thuật và trên hết là thuốc kháng sinh, thứ mà họ hầu như không có. Grauwin đã lường trước được đề nghị này và cẩn thận giấu một phần số thuốc kháng sinh nhỏ nhoi quý giá của mình trong các cống thoát nước được che giấu bên trong các hầm trú ẩn. Tuy nhiên, lúc ấy, ông hết sức nhẹ nhõm về số phận của những người lính bị thương và biết ơn sự cảm thông của những kẻ bắt giữ mình. Mọi chuyện sẽ thay đổi hai ngày sau đó, khi các chính ủy nắm quyền điều hành mọi việc.



Trên cứ điểm Isabelle (Hồng Cúm), những giờ đầu tiên của buổi bình minh được dành để tập hợp tù binh Pháp. Trận tử thủ của Isabelle diễn ra trong đêm tối đã lập tức khiến tình hình trở nên khó khăn hơn về mọi mặt. Ngoài ra, Đại đoàn 304 Quân đội Nhân dân Việt Nam, đơn vị chịu trách nhiệm về Isabelle và phần lớn được tuyển mộ từ Đồng bằng sông Hồng, vốn có mối thù dai dẳng với người Pháp, dường như đã quyết định đối xử với kẻ thù một cách cứng rắn hơn. Vào lúc 6 giờ sáng, khi các binh sĩ của Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 1 lính bộ binh Algeria đang ngồi dưới sự canh gác nghiêm ngặt của Việt Minh dọc con đường tiến về phía bắc từ Isabelle, họ thấy Đại tá Lalande và thuộc cấp đang bị áp giải về phía bắc, hai tay bị trói chặt sau lưng.
Nhưng lúc này, Việt Minh bắt đầu công việc vô cùng phức tạp là phân loại gần 10.000 quân địch thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Ngay từ đầu, Việt Minh đã quyết định tách tù binh theo nguồn gốc quốc tịch và chia họ thành từng nhóm 50 người: người Pháp sẽ đi cùng người Pháp; người Algeria, Maroc và Việt Nam cũng sẽ được tập hợp thành các nhóm riêng. Lính Lê dương được chia nhỏ theo nguồn gốc quốc tịch thành các nhóm Đức, Ý, Tây Ban Nha và Đông Âu. Hạ sĩ quan sẽ được tách khỏi binh lính cấp thấp hơn, và sĩ quan sẽ được tách khỏi tất cả các nhóm khác. Bằng cách đó, phần lớn tù binh sẽ trở thành một đám đông hoàn toàn không có người lãnh đạo trong tay những kẻ bắt giữ họ. Quá trình phân loại này mất vài ngày. Chính trong giai đoạn đó, hầu hết các cuộc vượt ngục thành công đã diễn ra.
Các sĩ quan lập tức bị tách riêng và phải đối mặt với những cuộc thẩm vấn kéo dài về mọi chi tiết của việc phòng thủ Điện Biên Phủ. Mọi lời nói của họ đều được ghi chép lại bởi không chỉ một, mà một vài người tốc ký nói tiếng Pháp, đôi khi còn được ghi âm. Thường thì một sĩ quan sẽ bị những người thẩm vấn nói tiếng Pháp thẩm vấn nhiều lần về cùng một chủ đề. Các sĩ quan không phải gốc Pháp, chẳng hạn như người Algeria, được chú ý đặc biệt. Khi Trung úy Belabiche bị đưa đến để thẩm vấn, ông đã rất kinh ngạc khi nhận thấy viên sĩ quan thẩm vấn đang sở hữu một tấm bản đồ tỷ lệ lớn hoàn toàn chính xác về Isabelle, thể hiện vị trí chính xác của mọi đơn vị bên trong cứ điểm của Pháp. Việt Minh không chỉ quan tâm đến những gì người Pháp thực sự đã làm, mà còn cả các tình huống bất ngờ khác nhau có thể nảy sinh: các cuộc phản công có thể xảy ra, các hướng hỏa lực thay thế… Người thẩm vấn của Việt Minh cũng có hồ sơ cá nhân của Belabiche, có lẽ được tìm thấy trong số các giấy tờ mà sở chỉ huy tiểu đoàn của ông đã không kịp tiêu hủy, và đã thấy giấy chứng nhận Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh của ông. Ông ta ngước nhìn Belabiche và nói: “Anh là người Algeria. Anh có muốn ở lại với chúng tôi để chiến đấu giải phóng đất nước mình không?” Khi Trung úy Belabiche từ chối, thái độ của người thẩm vấn thay đổi hẳn. Đối với ông ta, Belabiche chỉ là một “tay sai của đế quốc”. Tám năm sau, Belabiche trở thành Đại úy trong Quân đội Giải phóng Quốc gia Algeria, huấn luyện các sĩ quan trẻ người Algeria tại nơi trước đây từng là trường đào tạo sĩ quan của Pháp ở Cherchell, phía tây Algiers.
Ở Hà Nội, quân đội Pháp, như mọi năm, đã lên kế hoạch tổ chức lễ duyệt binh mừng Ngày Chiến thắng (VE-day). Ngày 7/5, công nhân Việt Nam đã treo quốc kỳ Pháp và quốc kỳ Việt Nam dọc theo đại lộ chính dẫn đến đài tưởng niệm chiến tranh và dựng lên một lễ đài để đón tiếp các vị khách VIP người Việt và người Pháp, trong đó có Tướng Cogny, người sẽ tham dự buổi lễ.
Có lẽ đó là cuộc duyệt binh u ám nhất từng được tổ chức, bởi người tham gia chính là những tàn dư đóng tại Hà Nội của các đơn vị đã bị tiêu diệt một ngày trước đó tại Điện Biên Phủ: sở chỉ huy và các đơn vị hậu cứ của Trung đoàn Lê dương số 3, Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn dù thuộc địa số 1, và một vài lính dù đơn độc đã bỏ lỡ cuộc nhảy dù cuối cùng xuống Điện Biên Phủ vì lý do chính đáng là họ đã bị thương ở nơi khác và vừa mới xuất viện. Một số sĩ quan lính dù bước đi khập khiễng thấy rõ khi họ lần lượt tiến qua lễ đài.
Họ mang đầy đủ trang bị chiến đấu trong đội hình chỉnh tề hoàn hảo, nhưng đối với nhiều người quan sát, họ trông chán nản chẳng kém gì những đồng đội của mình – những người mà ngay chính lúc đó, cách họ 300 km qua núi rừng, cũng đang tập hợp thành từng nhóm bị dẫn giải tới các trại giam của Cộng sản. Ngay cả người Pháp ở Hà Nội cũng đã bỏ mặc quân đội của mình. Trong số nửa triệu người Việt và khoảng 10.000 công dân Pháp ở Hà Nội, chỉ có ba hoặc bốn trăm người đến xem duyệt binh[6].
Giờ đây, gia đình những người mất tích tại Điện Biên Phủ đang mòn mỏi, đau đớn chờ tin. Bà De Castries, người đã nói chuyện ngắn gọn với chồng qua điện thoại vô tuyến chính thức vào lúc 16h00 ngày 7/5, và trước đó vẫn luôn sẵn sàng tiếp xúc với báo giới, nay đã tự nhốt mình trong phòng khách sạn. Sáng ngày 8/5, bà lái xe đến Bệnh viện Quân đội Lanessan để thăm những thương binh từ Điện Biên Phủ, những người đã được đưa về bằng chuyến máy bay cứu thương cuối cùng vào tháng 3. Người ta cũng nhìn thấy một phụ nữ trẻ tóc vàng, rất gầy nhưng rõ ràng đang mang thai, đạp xe vào sở chỉ huy của Tướng Cogny trong thành Hà Nội. Chiếc xe đạp được gắn một ghế nhỏ phía sau để chở một em bé. Người phụ nữ đó là bà Millien, vợ của điện đài viên của De Castries. Các gia đình khác đang lo lắng bám chặt lấy máy thu thanh, nơi máy phát vô tuyến trái phép của đối phương bắt đầu công bố tên của những người sống sót bị bắt. Tuy nhiên, không lâu sau, quân đội Pháp bắt đầu gây nhiễu đường truyền. Người ta cho rằng việc cứ đọc tên liên tục không ngừng nghỉ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần của mọi người.
Nhưng sáng hôm đó, Đài phát thanh Hirondelle [Con Nhạn] cũng đã phát một thông điệp ngắn từ Tướng Navarre đến quân đội của ông. Với tiêu đề “Lệnh trong ngày số 9”, thông điệp nhấn mạnh rằng quân đồn trú đã chiến đấu chống lại lực lượng địch áp đảo 5 chọi 1 và cầm chân 30 tiểu đoàn địch trong 5 tháng, “nhờ đó cứu Thượng Lào khỏi bị xâm lược và bảo vệ Đồng bằng Bắc Kỳ”. Navarre cho rằng Điện Biên Phủ thất thủ là do viện trợ của Trung Quốc Cộng sản, điều “đột nhiên cho phép đối phương mở ra một kiểu chiến tranh hiện đại hoàn toàn mới đối với chiến trường Đông Dương”.
Navarre nói rằng những người bảo vệ Điện Biên Phủ đã viết thêm một trong những “trang sử hào hùng nhất” vào lịch sử lâu đời của lực lượng vũ trang Pháp và đã mang lại cho lực lượng Pháp ở Đông Dương và Quân đội Việt Nam “niềm tự hào mới và lý do mới để chiến đấu, bởi cuộc đấu tranh của các dân tộc tự do chống lại ách nô lệ không kết thúc hôm nay”.
“Cuộc chiến vẫn tiếp tục”.
Về phía Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh chờ đến ngày 13/5 mới ban hành tuyên bố chiến thắng, tiếp theo là nhật lệnh của Tướng Võ Nguyên Giáp. Tuyên bố của Hồ Chí Minh mang phong cách kết hợp giữa quyết tâm và khiêm tốn, đặc trưng mà mọi người thường thấy ở ông:
Trước hết Bác gửi lời thân ái thăm các chú thương binh, toàn thể các chú cũng như cán bộ, chiến sĩ ở toàn quốc…
Bác quyết định khao các chú. Khao thế nào tùy theo điều kiện, nhưng nhất định khao…
Bác và Chính phủ định thưởng cho tất cả các chú huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ”. Các chú tán thành không?
Bác dặn các chú một lần nữa: Chớ vì thắng mà kiêu, chớ chủ quan khinh địch, phải luôn luôn sẵn sàng làm trọn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho các chú.
Bác hôn các chú
Bác
Hồ Chí Minh

Gần một thập kỷ sau, tôi vẫn thấy chiếc huy hiệu bằng đồng hình tròn có ngôi sao đỏ khắc dòng chữ “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” trên rất nhiều tấm áo ở Hà Nội. Người ta vẫn đeo nó đầy tự hào.
Nhật lệnh của Giáp có giọng điệu khác biệt rất nhiều so với của Hồ Chí Minh. Nó cũng giống như chính con người ông, giáo điều và kiêu hãnh:
Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng vĩ đại xưa nay chưa từng có trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta… Chúng ta đã giải phóng toàn bộ căn cứ địa Tây Bắc, củng cố hậu phương rộng lớn của cuộc kháng chiến, góp phần bảo đảm cho cuộc cải cách ruộng đất được thành công…
Chúng ta đã đánh bại kế hoạch Navarre, chúng ta đã đánh một đòn rất nặng vào âm mưu mở rộng chiến tranh của bọn thực dân hiếu chiến Pháp và bọn can thiệp Mỹ…
Quân ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ, đó là nhờ ở sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng và Chính phủ.
Quân ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ, đó là nhờ ở tinh thần chiến đấu dũng cảm, gan dạ, bền bỉ; ở tinh thần chịu đựng gian khổ khắc phục khó khăn của toàn thể cán bộ và chiến sĩ Điện Biên Phủ…
Quân ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ, đó là nhờ ở tinh thần tích cực phục vụ tiền tuyến của anh chị em dân công, của đồng bào Tây Bắc và đồng bào địa phương. Thay mặt bộ đội, tôi xin tỏ lòng biết ơn toàn thể anh chị em dân công, biết ơn toàn thể đồng bào…
Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam
Đại tướng Võ Nguyên Giáp■
Bernard B. Fall
Thanh Trà (dịch)
Chú thích:
[1] Cao ủy Việt Nam tại Pháp, Viet-Nam (bản tin tiếng Pháp phát hành hai tuần một lần) (Paris), 15/5/1954, tr. 18-19.
[2] Paris-Match, 12/5/1956, tr. 26.
[3] New York Times, 7/5/1954.
[4] Hành động tập thể (united action) là đề xuất của Mỹ về một hành động can thiệp quân sự chung với các đồng minh, đặc biệt là Anh, nhằm cứu vãn tình thế của Pháp tại Điện Biên Phủ trước Hội nghị Geneva năm 1954. (ND)
[5] Grauwin, Seulemen médécin, Paris: France-Empire, 1956, tr. 17.
[6] Bodard, Lucien, “Dramatique attente à Hanoi après Dien Bien Phu,” France-Soir, 11/5/1954.