Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào thời kỳ xây dựng chính quyền mới và thi hành các chính sách cải tổ đời sống xã hội. Tạp chí Phương Đông trích dịch chương VII cuốn Lịch sử Việt Nam từ 1940 – 1952 (Histoire du Vietnam de 1940 à 1952) của nhà sử học người Pháp Philippe Devillers, trình bày những chính sách đầu tiên nhà nước ta thực hiện ngay sau ngày tuyên bố độc lập 2/9/1945. Các từ ngữ trong bài thể hiện ý kiến của tác giả, chúng tôi giữ nguyên văn nhằm bảo đảm giá trị nghiên cứu, tham khảo. Tiêu đề bài viết do BBT đặt.
Cách mạng tháng Tám, hay nói cách khác là tổng khởi nghĩa giành lại chính quyền, đã diễn ra thuận lợi đến kinh ngạc. Nhìn ở các thành phố lớn, người ta có thể thấy niềm say mê mãnh liệt, điều này hoàn toàn dễ hiểu. Mọi ước mong đã trở thành hiện thực trong cùng một lúc: chiến tranh kết thúc, quân Nhật đầu hàng, lãnh thổ thống nhất, giành lại được nền độc lập (chắc chắn rằng các nước Đồng minh sẽ sớm công nhận nền độc lập này), và cuối cùng là một chế độ thống nhất trong toàn dân mà dù trước đây chưa ai hay biết nhưng đầy hứa hẹn mở ra một tương lai tươi sáng đã xuất hiện.
Những ước nguyện, nỗi oán hờn, cả những đam mê dồn nén mấy chục năm đã qua bỗng nhiên ùa về trong bầu không khí nhiệt tình phi thường, đây là niềm vui dân tộc mà lịch sử hiếm khi nào chứng kiến. Toàn thể nhân dân hòa mình trong niềm tin mới mang tên Độc Lập. Họ khám phá ra sức mạnh, năng lực, lòng đoàn kết của chính mình. Dường như chẳng có điều gì là bất khả thi với họ. Quả đúng như lời ông Sogny – một trong những người Pháp am hiểu nhất về An Nam, từng nói, đây quả là “cơn sóng ngầm cuộn trào từ lòng dân”.

Sau khi cách mạng thành công, thời kỳ xây dựng chính quyền mới bắt đầu. Ủy ban giải phóng dần hình thành ba nhóm lập trường. Trước hết là những người “kì cựu”, đội ngũ tiên phong của Đảng, những đồng chí kề vai sát cánh cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ thời kỳ đầu tiên. Đây là những đồng chí đã trải qua nhiều năm hoạt động ở Trung Quốc, Liên Xô, hoạt động bí mật tại Đông Dương hoặc trong các nhà tù của Pháp. Phần lớn họ đều có thái độ chống Pháp quyết liệt. Có thể kể đến như Hồ Tùng Mậu, Hà Bá Cang (sau là Hoàng Quốc Việt), hay Trần Huy Liệu. Những đồng chí trở về từ Moscow vào thời điểm đó ước tính khoảng 60 người.
Tiếp đến là đội ngũ đồng chí từng là giáo viên của trường Tư thục Thăng Long (Võ Nguyên Giáp, Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai) và các cán bộ của Đảng hoạt động công khai trong thời kỳ Mặt trận Bình dân 1936 – 1939 (Phạm Văn Đồng, Đặng Xuân Khu…). Những người này có ý thức về tình hình thực tế ở Việt Nam sâu sắc hơn. Phần lớn họ chỉ từng hoạt động trong thời gian ngắn ở nước ngoài, chủ yếu tại Trung Quốc trong thời kỳ chiến tranh và vì không hoạt động bí mật một thời gian dài nên quan điểm chưa trở nên quá cứng nhắc. Tất cả đều theo chủ nghĩa Marx lại đồng thời có ảnh hưởng từ văn hóa nước Pháp. Trí tuệ và tinh thần cởi mở của họ vẫn tiếp nhận và thích ứng những điều mới. Họ không nhìn nước Pháp như kẻ thù truyền kiếp và không thể hòa giải, mà, mặc dù quyết liệt chống chủ nghĩa thực dân, họ không coi hoạt động đó đồng nghĩa với việc phải cắt đứt hoàn toàn với nước Pháp nếu mối quan hệ đó được đặt trong chừng mực hợp lý.
Cuối cùng, nhóm thứ ba là những người “đi theo ủng hộ” sau khi cách mạng thành công, gồm Cù Huy Cận, Dương Đức Hiền, Hoàng Văn Đức – những người là nòng cốt của Đảng Dân chủ Việt Nam. Đây là đội ngũ từng theo học tại các trường Cao đẳng nhưng trước đó chưa thể phát huy hết sức năng lực của mình. Nhóm này còn gồm cả những thanh niên Công giáo tiến hành, có thể kể đến như Nguyễn Mạnh Hà.
Tương quan giữa ba nhóm này không hoàn toàn giống nhau. Trên thực tế, các quyết định chính yếu đều do Ủy ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Tổng bộ Việt Minh đưa ra. Trong đó, hai nhóm đầu tiên có số lượng đại biểu gần ngang bằng nhau. Khi phân công nhiệm vụ, những người có lập trường cứng rắn sẽ đảm nhiệm việc tuyên truyền và công tác quân đội; những người với lập trường hiểu sâu tình hình thực tế thì phụ trách công việc của Chính phủ và các vấn đề hành chính. Ngay từ những hoạt động đầu tiên, quyết tâm thay đổi trật tự cũ trên cơ sở triển khai chương trình đề ra từ năm 1941 đã thể hiện rõ.
Trên phương diện chính trị, nhiệm vụ trước tiên là nắm bắt tình hình các tổ chức chính trị với khuynh hướng đối lập. Ngay từ ngày 1/9, các đảng phái dân tộc chủ nghĩa thân Nhật đã giải tán. Đài phát thanh Bạch Mai, nhà in và nguồn giấy dự trữ được Việt Minh tiếp quản. Các tờ báo như Cứu Quốc – cơ quan ngôn luận chính của Việt Nam Độc lập Đồng minh hội hay tờ Độc Lập – cơ quan tuyên truyền và vận động cách mạng của Đảng Dân chủ Việt Nam lần lượt nhanh chóng xuất bản các số mới. Đội ngũ nhà báo, nhà văn mà phần lớn chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa Marx được tập hợp, đồng thời các quyết định về tổ chức những lớp đào tạo tuyên truyền viên và các bộ vận động quần chúng cũng được thực hiện. Chỉ trong vài tuần, Bộ trưởng Thông tin Tuyên truyền Trần Huy Liệu cùng các cộng sự và cố vấn đã tạo được một bộ phận làm công tác tuyên tuyền có sức lan tỏa đáng kể. Đối với chế độ thuộc địa và những biểu tượng thuộc về chế độ này, chủ trương là xóa bỏ những dấu tích cũ.
Về hành chính, Chính phủ quyết định tạm duy trì cơ cấu trước đó gồm các cơ quan và đơn vị hành chính lãnh thổ. Dù vậy, một trật tự mới trên phạm vi cả nước nhanh chóng được thiết lập. Theo chỉ thị ngày 5/9, chế độ kì hào, hào lí ở địa phương bị bãi bỏ, thay vào đó là Ủy ban Nhân dân được bầu theo hình thức phổ thông đầu phiếu. Ngày 12/9, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ban hành quyết định xóa bỏ hệ thống quan lại trong bộ máy hành chính và tư pháp. Các viên quan trước đây được yêu cầu ngay lập tức chấm dứt nhiệm vụ. Hệ thống mới hình thành từ các Ủy ban Nhân dân sẽ thay thế cho hệ thống cấp bậc và cơ cấu quản lý cũ. Hệ thống hành chính trong cả nước được tổ chức thành các xã, huyện, tỉnh và bộ.
Ngày 8/9, Sắc lệnh số 14 đã quy định việc tổ chức bầu cử Quốc dân Đại hội – tức Quốc hội lập hiến trong thời hạn hai tháng. Tổng tuyển cử sẽ được thực hiện theo hình thức phổ thông đầu phiếu áp dụng với tất cả công dân trên 18 tuổi, không phân biệt nam nữ. Theo đúng chương trình đề ra, việc bình đẳng nam nữ đã chính thức được tuyên bố. Đồng thời, một chính sách mới với các dân tộc thiểu số cũng được đưa ra, các dân tộc như Thổ, Mường, Mán, H’mong, dân tộc vùng Tây Nguyên, v.v, sẽ có đại biểu trong Quốc dân Đại hội và từ nay được đối xử bình đẳng.
Ở phương diện xã hội, trọng tâm được đưa vào các quy định như ngày làm việc 8 giờ, tiền lương tối thiểu, trách nhiệm của chủ sử dụng lao động và chủ sở hữu… Chủ trương khác đáng chú ý là phát động phong trào đẩy lùi nạn mù chữ. Các cuộc khảo sát tiến hành vào mùa thu năm đó cho thấy, trải qua hơn 80 năm thuộc địa, có hơn 90% dân số không biết chữ. Ba sắc lệnh kí ngày 8/9 quy định việc tổ chức các lớp Bình dân học vụ vào buổi tối, đồng thời quy định chữ Quốc ngữ là nội dung bắt buộc, giáo dục được miễn phí cho tất cả mọi người. Toàn thể người dân Việt Nam trên 8 tuổi sẽ có một năm để học đọc và viết. Công tác giáo dục bình dân đặt dưới sự quản lý của Bộ Quốc gia Giáo dục và tổ chức dưới hình thức các hội quần chúng. Đơn vị tổ chức cơ sở là khu phố hoặc xã. Một hệ thống Ủy ban được tổ chức theo từng cấp từ các bộ đến tận thôn xóm chịu trách nhiệm chỉ đạo hoạt động.

Ba bộ phận được thành lập. Đầu tiên là bộ phận giảng dạy và kiểm tra, có nhiệm vụ nghiên cứu, phổ biến các phương pháp giảng dạy phù hợp với từng hoàn cảnh, từng vùng, từng nhóm tuổi và từng phong trào. Thứ hai là bộ phận tuyên truyền, có nhiệm vụ tạo dựng không khí học tập, khơi dậy nhu cầu học tập và tiếp thu tri thức, đồng thời phổ biến những kiến thức cơ bản thông qua sân khấu, tranh ảnh và các buổi sinh hoạt, hội họp. Thứ ba là bộ phận biên soạn giáo trình, chuyên chuẩn bị những tài liệu rõ ràng, dễ hiểu và có giá thành thấp, nhằm phổ biến kiến thức cơ bản đến đông đảo người dân.
Trong lĩnh vực kinh tế và tài chính, hệ thống thuế khóa hiện hành nhanh chóng được thay thế, chủ trương là xóa bỏ hoàn toàn các loại thuế cũ và đưa ra những khoản thuế công bằng và nhân đạo. Ngày 7/9, thuế thân, loại thuế còn hay gọi là “thuế nô lệ” được bãi bỏ, tiếp đó là thuế môn bài vào ngày 14/9. Ngày 21/9, các chủ đất nhỏ, sở hữu dưới 5 mẫu đất được miễn thuế điền thổ. Chính phủ giao cho các tỉnh và thành phố tự quyết định việc duy trì hay bãi bỏ các khoản thuế chợ. Những khoản thuế nông nghiệp cũng được miễn trừ nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nông dân, đồng thời, ngay từ 1/9, Chính phủ ban hành quyết định tự do lưu thông thóc gạo hoàn toàn.
Mỗi ngày đều có một sắc lệnh, một nghị định hoặc một thông tư mới, các quy định được ban hành liên tục để điều hành đất nước. Đó là một cuộc cải tổ từ trên xuống dưới, tiến hành bằng pháp luật.
[…]
Trong nỗ lực củng cố khối đoàn kết toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới đồng bào Công giáo. Người Công giáo là một trong những lực lượng đầu tiên nhiệt liệt ủng hộ chế đội mới. Ngoài những lý do mà người Việt Nam thuộc bất kỳ tầng lớp hay khuynh hướng chính trị nào đòi hỏi giành lấy nền độc lập, họ còn có những động lực xuất phát từ đức tin của mình.
Quả thật, liệu họ có thể quên những điều kiện lịch sử khi Kitô giáo phát triển ở An Nam? Trong suốt hai thế kỷ, dưới triều đại nhà Lê và Nguyễn của một vương quốc độc lập, Kitô giáo đã phát triển mà không gặp nhiều trở ngại. Nhưng dưới thời Tự Đức, khi các giáo sĩ bắt đầu can dự vào chính trị cùng với hoạt động tôn giáo, người Công giáo đột nhiên trở thành đối tượng nghi ngờ và cần cảnh giác trong mắt giới Nho sĩ và dân chúng. Những cuộc đàn áp diễn ra sau đó xuất phát từ nhận định của triều đình Huế rằng các giáo sĩ là những người mở đường cho ngoại xâm. Thái độ của các cộng đồng Công giáo bị lôi kéo và hiểu nhầm, hai cuộc kháng chiến tại Nam Kỳ năm 1860 – 1867 và kháng chiến ở Bắc Kỳ – phong trào Cần Vương năm 1882 – 1896 lại càng tăng thêm cơ sở cho nhận định này. Tuy vậy, kể từ đó, cộng đồng Công giáo Việt Nam vẫn không ngừng phát triển và bén rễ sâu trong xã hội. Họ có khoảng 2 triệu người, chiếm khoảng 10% tổng dân số, tập trung chủ yếu tại các vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Tại các thành phố như Hải Phòng, Vinh hay Hà Nội, lực lượng thanh niên Công giáo cũng đông đảo và hoạt động tích cực. Những người đứng đầu cộng đồng này luôn thể hiện lòng tận tâm cao độ với sự nghiệp độc lập của dân tộc.
Giáo hội Việt Nam không còn muốn bị hoài nghi về lòng trung thành với tổ quốc. Những người Công giáo trẻ tuổi nhanh chóng tham gia vào phong trào mới. Họ tổ chức thành các đơn vị, từ đại đội rồi tiến lên các đơn vị cấp trung đoàn, đồng thời chú trọng đặc biệt công tác tổ chức kỷ luật và giáo dục chính trị, tư tưởng. Lòng nhiệt thành của tuổi trẻ, tận tâm đối với sự nghiệp chung, tinh thần chủ động và ý chí không ngại hi sinh đem lại hi vọng rằng chỉ trong vài tháng có thể xây dựng được lực lượng đủ khả năng ứng phó với mọi tình huống. Tuy nhiên, việc cung cấp vũ khí, đạn dược và tình trạng thiếu người có đủ khả năng huấn luyện vẫn đặt ra những vấn đề hết sức khó khăn.
Về lương thực, nạn đói vốn đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm nghìn người vào mùa xuân, lại đe dọa đất nước một lần nữa. Những trận lũ lụt thảm khốc trong mùa hè đã nhấn chìm hơn một phần ba diện tích ruộng lúa ở đồng bằng, sau đó lại xảy ra một đợt hạn hán nghiêm trọng. Vụ mùa tháng 10, thu hoạch vào tháng 11 tại cả vùng đồng bằng và khu vực miền núi phía Bắc Bắc Bộ, được dự báo sẽ mất mùa nghiêm trọng. Tại Bắc Trung Bộ, ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, những trận lũ bất ngờ liên tục phá hủy một phần mùa màng. Tổng mức thiếu hụt lên tới gần 50%. Thay vì khoảng 1 triệu tấn thóc, mức sản lượng trung bình của vụ mùa tháng Mười, vụ thu hoạch tháng 11 chỉ đạt hơn 500.000 tấn.
Với mức khẩu phần vốn đã rất thấp, nguồn gạo dự trữ sẽ cạn kiệt vào tháng 2 năm sau. Nếu không có một nỗ lực đặc biệt nhằm tiết kiệm hoặc tăng sản lượng, đất nước sẽ một lần nữa phải đối mặt với một nạn đói khủng khiếp. Khi đó, số người nghèo đói và thiếu dinh dưỡng lên tới gần 3 triệu người. Ngay từ những ngày cuối tháng 9, Chính phủ phát động khẩu hiệu: “Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó để cứu dân nghèo”.
Tuy vậy, phong trào trên chỉ giải quyết vấn đề trước mắt, vì thế Chính phủ chuyển trọng tâm sang việc tạo thêm nguồn lương thực. Từ tháng 11 đến tháng 2, những loại cây lương thực có thể canh tác chủ yếu là khoai, ngô và đậu tương, là những cây trồng phụ mà trong điều kiện bình thường chỉ bổ sung một phần nhỏ cho sản xuất lúa, khoảng 10 – 15%. Chủ trương được đặt ra là huy động toàn dân để tăng gấp ba sản lượng các loại cây này, bằng cách mở rộng diện tích gieo trồng và nâng cao năng suất. Mục tiêu là sản xuất được khoảng 350.000 – 400.000 tấn lương thực quy thóc, đủ để duy trì nguồn cung cho đến tháng 5.
Ngày 19/11/1945, Ủy ban Trung ương phụ trách vấn đề sản xuất được thành lập. Tất cả các tổ chức đều được huy động. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người dân tăng gia sản xuất. Tấc đất tấc vàng, không một tấc đất nào được để hoang. Chính phủ quy định mọi thửa ruộng bỏ hoang sẽ coi như bị phá hoại, chủ sở hữu và người thuê ruộng để đất bỏ hoang cũng giống như hành vi xâm phạm tài sản. Thuế đất năm 1945 được giảm 20% và được miễn hoàn toàn đối với những diện tích bị ngập lụt. Thanh niên được kêu gọi tham gia hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, báo chí nhanh chóng cảnh báo về những hậu quả mà tình trạng rối loạn chính trị có thể gây ra đối với sản xuất.

Tờ Quyết Chiến ở Huế số ra ngày 6/10 nêu lên tình trạng tổ chức quá nhiều cuộc diễu hành khiến người dân không thể làm việc, qua đó gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế. Tờ báo cho rằng ý nghĩa của các cuộc biểu tình, mít tinh đang dần bị mai một. Báo viết: “Chúng ta phải làm thất bại mọi mưu kế quỷ quyệt của thực dân Pháp”. Vì vậy, việc bố trí các ca trực và các cuộc diễu hành phải được tổ chức sao cho không gây cản trở công việc của nông dân. Tuy nhiên, không ai biết chiến dịch này sẽ đạt được kết quả ra sao, cũng không ai biết mùa xuân sắp tới sẽ diễn ra thế nào. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang bước vào một cuộc chạy đua với thời gian.
Trên phương diện tài chính, tình hình cũng nghiêm trọng không kém. Chính phủ tiếp quản một ngân khố trống rỗng và một hệ thống tài chính rối ren. Trong khi đó, phần lớn các loại thuế đã được bãi bỏ. Chính phủ vẫn cần có nguồn lực để duy trì hoạt động ngay lập tức.
Phản ứng đầu tiên là kêu gọi đóng góp tự nguyện. Chính phủ cho tổ chức “Tuần lễ vàng”. Toàn thể người dân Việt Nam được kêu gọi trao vàng cho Chính phủ để trang trải chi phí trang bị cho quân đội nhân dân. Tinh thần thi đua yêu nước được phát động nhằm vận động nhân dân đóng góp. Tuy nhiên, vấn đề thu thuế vẫn khiến Chính phủ đặc biệt lo ngại. Việc áp dụng những loại thuế mới được xem là không thể thực hiện ngay trong thời điểm này. Trong khi đó, thuế thân, vốn đã bị bãi bỏ, từng chiếm tới 50% nguồn thu trực tiếp; còn nguồn thu gián tiếp, do tình hình kinh tế khó khăn, gần như đã giảm xuống bằng không.
Chính phủ yêu cầu người dân nhanh chóng nộp những khoản còn nợ. Tờ Quyết Chiến ngày 19/11 viết: “Nếu một số loại thuế do người Pháp đặt ra nhằm bóc lột chúng ta, thì trong hoàn cảnh hiện nay, thuế khóa có một ý nghĩa khác: bổ sung cho ngân khố quốc gia. Vì vậy, cũng như mọi sự hy sinh khác, cần phải chấp hành”. Cuối tháng 11, một loại thuế quốc phòng được áp dụng, ở mức 1% đối với mọi giao dịch có giá trị trên 20 đồng bạc Đông Dương. Tuy nhiên, tất cả những biện pháp đó vẫn hoàn toàn chưa đủ. Chính phủ buộc phải tạm thời xoay xở bằng nhiều biện pháp tình thế.
Trước đó, chính phủ đã quyết định các bộ trưởng và quan chức cấp cao sẽ làm việc không hưởng lương. Nhưng vẫn phải bảo đảm đời sống cho đội ngũ công chức và đáp ứng những khoản chi tiêu công thiết yếu. Những người khác được trả công bằng hiện vật, chủ yếu là một phần khẩu phần gạo cùng một số khoản phụ cấp nhỏ. Tuy nhiên, nhiều người bắt đầu bỏ nhiệm sở. Đến ngày 8/12, Chính phủ buộc phải ban hành quyết định trưng dụng họ trở lại làm việc. Một quyết định khác quy định ngân khố của từng tỉnh sẽ được vận hành tương đối độc lập, và Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh sẽ trang trải các khoản chi của địa phương bằng những khoản tiền thu được thông qua đóng góp, tịch thu và tiền phạt. Trước đó, một “Quỹ Độc lập” cũng đã được thành lập.
Những vấn đề mới tiếp tục xuất hiện từng ngày. Tại Hà Nội, giá lương thực đã tăng gấp đôi từ tháng 5 đến tháng 11. Đời sống của người dân ngày càng trở nên khó khăn. Nhưng tất cả những nỗ lực nhằm giành lại quyền kiểm soát tình hình tài chính, dù đôi khi phải sử dụng những biện pháp quyết liệt, giờ đây lại đứng trước một yếu tố mới và có ý nghĩa quyết định. Yếu tố này sẽ làm đảo lộn toàn bộ tình hình, cả về chính trị lẫn kinh tế: đó là quân đội Trung Hoa tiến vào Việt Nam.
Quân Trung Hoa Dân Quốc (của Tưởng Giới Thạch) tiến vào miền Bắc bằng đường bộ trong những ngày cuối tháng 8. Trước hết là bốn “đạo quân”: đạo quân Vân Nam 93 từ Lào Cai tiến vào, men theo thung lũng sông Hồng xuống Hà Nội và đóng quân tại đây; đạo quân Trung ương 62 từ Lạng Sơn – Cao Bằng cũng tiến về Hà Nội; tiếp đó là đạo quân Trung ương 52, với mục tiêu là Hải Phòng và vùng duyên hải; cuối cùng là đạo quân Vân Nam 60 tiến vào miền Trung, chiếm đóng khu vực từ Vinh đến Đà Nẵng. Tổng cộng có khoảng 200.000 quân, dưới quyền chỉ huy tối cao của tướng Vân Nam Lư Hán.
Những lực lượng này vào miền Bắc như đang tiến quân vào một tỉnh vừa bị chinh phục. Các đoàn quân dài dằng dặc mang nhiều đặc điểm của đoàn người di cư hơn là một đội quân chính quy. Binh lính thường ăn mặc lôi thôi, khoác những bộ quân phục kỳ lạ và quấn những chiếc xà cạp trông khá khôi hài, đi cùng là cả một đoàn người gồm phu khuân vác, phụ nữ và trẻ em. Đối với những người Vân Nam và Quảng Đông đến từ vùng đất nghèo khó hoặc đã bị chiến tranh tàn phá, nơi đây dường như là một kho hàng đầy ắp mọi thứ, dù họ vẫn được yêu cầu phải trả tiền. Ngay khi đến đồng bằng, họ áp đặt tỉ giá giữa đồng Piastre và đồng Quan Kim theo hướng có lợi cho mình, nhờ đó họ có thể mua hầu hết mọi thứ mình muốn với giá rất rẻ. Quân Trung Hoa ồ ạt chiếm các thành phố, sử dụng những tòa nhà và cơ sở tiện lợi nhất, khang trang nhất, đồng thời áp đặt luật lệ và quy định của mình.
Các nhà lãnh đạo phía Việt Minh đã hiểu quá rõ Trung Hoa Dân Quốc và quyết định sẽ tạm thời hòa hoãn với đối phương bằng cách đưa ra những thỏa thuận xoa dịu. Các tờ báo đăng bài với nội dung như quân đội Trung Hoa Dân Quốc tiến vào làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, chưa thể hiện rõ ý đồ thù địch với chủ quyền của nước ta. Trên thực tế, người Trung Hoa trước mắt gây ra những lo ngại về kinh tế. […] Tuy vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy mối nguy hiểm. Vấn đề cấp thiết đặt ra là cần có một biện pháp kiềm chế mới. Do đó, vào ngày 11/11/1945 tại Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra thông cáo tuyên bố “tự giải thể”. Đây là nước đi táo bạo và đầy quyết liệt, đưa ra cùng những lời kêu gọi huy động mọi nguồn lực, tài năng cho chính sách đối ngoại, kinh tế, quân sự nhằm đảm bảo tính dân chủ của mặt trận Việt Minh, đã bác bỏ các thông tin tuyên truyền của phe đối lập đồng thời hướng tới mục tiêu củng cố nhà nước vững vàng trước mối hiểm nguy từ quân Tưởng Giới Thạch đang chực chờ gây tổn hại cho Việt Nam.■
Philippe Devillers
Lê Hằng Nga dịch