
Dân có sức mạnh như nước, vừa chở thuyền vừa có thể lật thuyền. Người xưa tổng kết “quốc dĩ dân vi bản”. Kế thừa, phát triển và nâng cao các giá trị truyền thống của dân tộc và của các bậc thánh hiền, được ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin rọi chiếu, Hồ Chí Minh truyền một năng lượng mới, chất mới, trình độ mới, sinh khí mới, sinh khí của một học thuyết về dân vào các giá trị truyền thống của dân tộc, cho thấy dân thực sự là gốc, là bức tường đồng vững chắc, vừa bảo vệ, xây dựng Tổ quốc, vừa là điểm tựa trường tồn của Đảng, Nhà nước, lực lượng Công an Nhân dân. Dân và lực lượng Công an Nhân dân có mối quan hệ biện chứng, đều là điểm tựa của nhau.
1. Tổng quan về “giá trị dân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Xuất phát từ thực tiễn, dưới ánh sáng của học thuyết Mác – Lênin, bằng trải nghiệm bản thân, Hồ Chí Minh có tầm nhìn, cách nhìn đặc biệt mang hàm lượng khoa học, cách mạng và nhân văn về “giá trị dân”; về vai trò của dân đối với cách mạng, với Đảng, Nhà nước; về mối quan hệ dân chúng với cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh khai thác sức mạnh của dân không chỉ ở đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn ở sức mạnh vật chất và tinh thần, đặc biệt là những “tố chất dân” trên tất cả mọi phương diện: lực lượng, tài trí, sáng kiến, thông minh; của cải; lòng tốt; nhiệt tình, hăng hái, anh hùng; nhiều kinh nghiệm; nhiều tai mắt; hay so sánh; quyền hành… Những tố chất đó tạo nên cái “gốc”, một tài sản vô cùng quý giá, như Hồ Chí Minh nói “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”[1]; tạo nên “ý dân là ý trời”[2], để “làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành, làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”[3]. Từ đó, Hồ Chí Minh đúc kết mang tính chân lý: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”[4]; “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”[5]; “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”[6]. “Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết”[7]. Vì “ý dân là ý trời” nên “đối với dân, ta đừng làm điều gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”[8]. Đem “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”[9].
Hồ Chí Minh không chỉ nói về đường lối của Đảng mà còn bàn tới “theo đúng đường lối nhân dân”[10] như là một nguyên tắc trong hoạt động của cán bộ, đảng viên và lực lượng Công an Nhân dân. Nguyên tắc đó nói rõ việc đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; liên hệ, bàn bạc, giải thích cho dân; tự phê bình trước nhân dân, hoan nghênh nhân dân phê bình mình; học hỏi và làm gương mẫu cho nhân dân noi theo. Người khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. “Nước lấy dân làm gốc”. Trong cách mạng, kháng chiến kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng chính là ở nơi dân. “Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”[11].
2. Lòng dân, trí dân, lực lượng, quyền dân – điểm tựa vững chắc của lực lượng Công an Nhân dân
Vai trò của dân đối với lực lượng Công an Nhân dân không nằm ngoài cái chung “giá trị dân”. Nhân dân luôn luôn là gốc, là điểm tựa, là sức mạnh trường tồn của Công an Nhân dân. Tuy nhiên, với đặc thù của một lực lượng có sứ mệnh vẻ vang là Công an Nhân dân, vì dân mà phục vụ, dựa vào dân mà làm việc, bảo vệ Đảng, bảo vệ sự nghiệp cách mạng, bảo vệ nhân dân, giữ gìn trật tự, trị an, chống mọi kẻ địch và bọn phản động phá hoại… nên vai trò của nhân dân với Công an Nhân dân cùng với cái chung còn có những điểm riêng.
Công an phải đánh địch cả trong chiến tranh và hòa bình, lúc hòa bình lại càng nhiều việc. Công việc của Công an có lúc nhìn được ở bề nổi, có lúc lại âm thầm, bí mật. Nhiệm vụ của Công an nhiều, rất nặng nề, rất quan trọng và rất khó. Mọi loại kẻ địch của cách mạng đều nguy hiểm, nhưng kẻ địch của Công an có lúc ít nhưng rất nguy hiểm… Nhận thức rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm, tính chất của Công an Nhân dân để thấy rằng Công an Nhân dân phải “thuộc bài” những cái chung về vai trò của nhân dân và phải “đúng vai” Công an Nhân dân đối với nhân dân.
Nhân dân sinh ra Công an là để bảo vệ chính quyền nhân dân, nếu không làm tròn nhiệm vụ thì dân không cần đến nữa. Phải thấy rõ mối quan hệ biện chứng giữa Công an với nhân dân và nhân dân với Công an, tức là quan hệ giữa “đày tớ” và “người chủ”; giữa “học trò” và “người thầy”. “Đày tớ” muốn “người chủ” giúp đỡ, tạo điều kiện là điểm tựa thì “đày tớ phải ra đày tớ”. “Học trò” muốn thầy dạy dỗ, truyền đạt kiến thức, phương pháp, nâng cao năng lực thì “trò phải ra trò”.
Tách cái chung khỏi cái riêng là khó, không khéo lại siêu hình, nhưng không tách mà cứ để chung thì mọi cái lại chung chung, không thấy rõ, thấy hết vai trò của dân đối với Công an và sứ mệnh vẻ vang của Công an đối với dân. Công an phải thấy rõ người “thầy” nhân dân đã dành “riêng” cho mình lực lượng vô cùng to lớn. Công an muốn có hàng chục triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai thì phải dựa vào dân, không được xa rời dân. Nếu không thế thì sẽ thất bại. Đến thăm Trường Công an trung cấp khóa 2 năm 1951, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”[12].
Khi ta nói dân là gốc, là sức mạnh, là điểm tựa vững chắc của lực lượng Công an Nhân dân cần phải hiểu dân trăm tai nghìn mắt, dân rất tốt, rất thông minh, kinh nghiệm, sáng kiến rất nhiều… Hồ Chí Minh cho thấy một tầm nhìn, cách nhìn độc đáo, đặc sắc về ý nguyện của dân, lòng dân là sức mạnh, một điểm tựa vững chắc cho Đảng, Nhà nước, cách mạng, lực lượng Công an Nhân dân. Đó không chỉ là tư duy về một lực lượng cụ thể mà liên quan đến cả một sự nghiệp và sự phát triển của đất nước. Hồ Chí Minh không sợ bất cứ điều gì, “chỉ sợ lòng dân không yên”[13]. Kết luận Người rút ra là:
“Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được,
Trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”[14].
Nói chuyện với Đoàn Công an Cuba (ngày 09/08/1966), Hồ Chí Minh phân tích sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc dựa vào dân, có được lòng dân; mối quan hệ giữa kỹ thuật và con người – sự giúp đỡ của dân. Người chỉ rõ kẻ địch cũng rút kinh nghiệm, có kinh nghiệm, cải tiến công tác và làm một số việc để lấy lòng dân, nhưng không bao giờ lấy được lòng dân vì bản chất của chúng là chống lại nhân dân. Còn Công an ta có đường lối chính trị của Đảng tức là phải dựa vào dân chúng.
3. Lực lượng Công an Nhân dân phải làm tốt vai trò điểm tựa cho nhân dân
Công an Nhân dân muốn được dân làm điểm tựa, dựa vào dân thì “vấn đề quan trọng nhất là giáo dục, tuyên truyền cho dân, để quản lý tốt tai, mắt, miệng của dân, làm thế nào để dân giúp Công an phát hiện địch và giấu địch những điều của ta. Nói cho địch là phải nói dối, nói cho ta thì phải nói thật. Mắt để phát hiện địch. Tai cũng vậy. Tổ chức tốt quần chúng để giấu không cho địch biết và bảo vệ ta. Cho nên cần có kỹ thuật, nhưng chủ yếu là phải dựa vào dân”[15]. Người kết luận: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác”[16].
Hồ Chủ tịch dạy: “Dựa vào nhân dân thì việc gì, dù khó đến đâu cũng có thể làm được”[17]. Dựa vào dân, một “thiên la địa võng” không phải là dựa dẫm, không phải ỷ lại, không nhờ vả tùy tiện, không huy động nhân lực, vật lực của dân một cách phung phí, càng không được lợi dụng lòng tốt của dân để phục vụ lợi ích cá nhân. Dựa vào dân là phải biết tin dân, quý dân, trọng dân, gần dân, sát dân, giúp đỡ dân, biết “cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”[18]. Phải xóa bỏ triệt để quan niệm cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị lý luận cao xa như mình”[19], mà phải thấy rằng “Dân rất thông minh. Quần chúng kinh nghiệm, sáng kiến rất nhiều. Chỉ cần mình có biết học hay biết lợi dụng mà thôi.”[20].
Lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước, giải phóng dân tộc Việt Nam có đặc điểm riêng, độc đáo, đó là dân sinh thành ra Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang. Nhân dân là nguồn sức mạnh của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an. Hồ Chí Minh đúc kết thành chân lý: “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt”[21]. Cái tốt đó có từng ngàn năm trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, là những giá trị vĩnh hằng của dân tộc. Tuy nhiên cần phải nhận thức rằng cái tốt, tài sản vốn liếng quý báu từ hàng ngàn năm lịch sử để lại và việc thực hành cái tốt đó vào công việc là hai chuyện khác nhau.
Muốn nhân dân là điểm tựa thì vấn đề quyết định là ở chủ thể lực lượng Công an nhân dân. Hồ Chí Minh dạy rằng “chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”[22]. Công an phải làm sao cho dân yêu mến, phải nhớ rằng dân là chủ. “Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết. Phải làm cho dân mến, khi sắp tới dân thương, khi đi dân tiếc, chớ vác mặt làm quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ… Phải làm gương cho đồng bào, phải siêng năng, hăng hái”[23]. Phải “Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”[24].
Chỉ khi Công an nhân dân thực hiện tốt phong cách quần chúng thì nhân dân mới ủng hộ Công an. Chỉ khi Công an tin dân, yêu dân, kính dân, trọng dân thì lòng tốt của nhân dân mới thật sự là gốc, là điểm tựa cho Công an nhân dân. Hồ Chí Minh nói một cách hình ảnh: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”[25].
Hồ Chí Minh chỉ rõ dân rất tốt, dũng cảm, hăng hái, anh hùng. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, trung thành với Đảng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Nhưng họ phải được tổ chức lại. Lực lượng Công an Nhân dân phải giải thích cho dân hiểu. Khi dân đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ. Phải khuyến khích dân phê bình mình. “Nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích”[26].
Tóm lại, dân là gốc, là sức mạnh, điểm tựa vững chắc của lực lượng Công an nhân dân không tự nhiên mà có, mà điều mấu chốt là lực lượng Công an nhân dân phải xác định rõ mình là Công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ, giữ gìn trật tự an ninh cho dân, bảo vệ dân. Chỉ có thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình thì lực lượng Công an nhân dân mới có được điểm tựa là dân và chỉ có dựa vào dân thì mới làm tròn nhiệm vụ. Đảng, cán bộ, đảng viên, lực lượng Công an “phải làm đầy tớ cho quần chúng, học quần chúng, lãnh đạo quần chúng, cái gì lợi cho quần chúng thì phải làm, hại cho quần chúng thì phải tránh. Xa quần chúng là hỏng”[27].
Bài học 80 năm trước cho đến hôm nay và mai sau là chỉ có nhận thức đúng và thực hiện tốt mối quan hệ biện chứng giữa nhân dân với lực lượng Công an nhân dân, tức Công an phải tin yêu, quý trọng, phục vụ dân thì dân mới là tai, mắt, bức tường thành, điểm tựa vững chắc, trường tồn cho lực lượng Công an nhân dân.■
PGS.TS. Bùi Đình Phong
(Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)
Chú thích:
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 10, tr.453.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 10, tr.63.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 10, tr.63.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 5, tr.333.
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 5, tr.335.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 15, tr.280.
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 15, tr.526.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 4, tr.169.
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 5, tr.81.
[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 7, tr.177.
[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 5, tr.502.
[12] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 7, tr.270.
[13] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 15, tr.224.
[14] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 8, tr.163.
[15] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 15, tr.140-141.
[16] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 15, tr.142.
[17] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 10, tr.47.
[18] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 7, tr.50.
[19] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 7, tr.176.
[20] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 8, tr.101.
[21] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 5, tr.286.
[22] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 4, tr.65.
[23] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 4, tr.116-117.
[24] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 5, tr.288.
[25] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 7, tr.38-39.
[26] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 13, tr.421.
[27] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ, tập 6, tr.367.