Tết Hà Nội gần 150 năm trước dưới mắt một người Pháp[1]

Tạp chí Phương Đông xin giới thiệu tới bạn đọc bài viết “Tết Hà Nội 90 năm trước dưới mắt một người Pháp” đăng trên Tạp chí Bách Khoa số 402-403 (năm 1974), một tư liệu đặc sắc về đời sống và phong tục Tết của người Việt cuối thế kỷ XIX. Qua hai bức thư riêng gửi gia đình của một viên chức Pháp viết tại Hà Nội năm 1884, bản dịch và chú giải của Bình Nguyên Lộc giúp người đọc thấy được một cái nhìn ngoại quốc vừa tò mò, vừa phiến diện nhưng giàu chi tiết về sinh hoạt Tết, nếp ở, y phục và tập tục xã hội của người Annam trong bối cảnh giao thời đầy biến động. Dù còn nhiều mô tả chưa đúng, nhưng bản văn này là minh chứng sinh động cho cách người phương Tây quan sát và ghi chép về Việt Nam trong buổi đầu thuộc địa.

         Nếu tính đến mùng một tháng Giêng của Tết năm nay [1974] thì văn kiện dưới đây cũ đúng 90 năm, không thiếu ngày nào hết. Đây là hai bức thư riêng của một công chức người Pháp gởi về cho gia đình còn ở bên Tây. Một ông Tây đời nay đã xin phép gia đình người quá cố để công bố hai bức thư nầy trong tạp chí B.S.E.I. Chúng tôi không có xin phép ai hết vì khi một tài liệu cũ quá 50 năm mà lại được gia đình có tài liệu cho phép công bố thì tài liệu đã rơi vào địa hạt công cộng. Vào ngày bức thư này được viết ra thì miền Trung chưa bị chiếm, miền Nam thì đã bị chiếm rồi, còn Bắc Việt thì chỉ mới bị chiếm có vài tỉnh thôi, và quân Pháp sắp sửa chiếm Bắc Ninh…

Hà nội, ngày 28 tháng Giêng 1884[2]

Chúng tôi đang ở vào mùa lễ đầu năm của người Annam, gọi là lễ Tết.

Hôm nay đúng vào ngày đầu năm (của họ) nên nhà nhà đều đóng cửa kín mịt và đường phố gần như là vắng tanh. Thỉnh thoảng người ta thấy vài người Tàu mặc đồ lớn (thường là áo dài màu, nhứt là màu xanh) đi thăm nhau, có đầy tớ mang thiếp của họ đi trước họ.

Tết trong gia đình một người Việt xưa. Tranh vẽ trong sách “Annamites et extreme-occidentaux” xuất bản tại Paris năm 1894.

Suốt 8 hay 10 hôm, hoặc nhiều hơn nữa, người Annam chẳng làm gì hết và tuyệt đối chẳng tìm được một người làm công nào cả. Hôm qua, khi tôi định đưa y phục tới hiệu giặt thì người bồi của tôi (hắn cũng nghỉ để ăn Tết, nhưng tôi gặp hắn tình cờ) thì hắn bảo rằng là vô ích vì thợ giặt sẽ không làm việc trước tám ngày tới đâu[3].

Người Annam đặt bàn thờ ở buồng thứ nhứt mà nơi đó họ tiếp khách. Trên bàn thờ họ đặt một tấm hình Phật nhỏ. Hương đăng được thắp lên. Phần diện tích bàn thờ còn lại được một thứ hộp chia ra thành nhiều ô choán chỗ[4]. Trong hộp họ để các thứ của ngọt mà họ rất ưa thích.

Bắt đầu giữa khuya của ngày thứ nhì, thì pháo nổ không dứt giây phút nào cả[5]. Người Annam làm ra những hộp pháo mỗi hộp đựng độ một trăm cây pháo, và họ sắp xếp cách nào mà pháo kế tiếp nhau mà nổ (chớ không phải là cả một trăm cây đều nổ cùng lúc với nhau).

Phần lớn pháo được đốt trong nhà, mỗi lần có khách đến. Hễ pháo nổ lâu dài chừng nào là người ta xem trọng người khách chừng ấy.

Số pháo còn lại, được đốt để đuổi tà. Những chữ viết treo ở mái nhà cũng có mục đích đó. Trước thềm, người ta thấy những vòng tròn hoặc vòng bán nguyệt mỗi vòng có cây tên để bắn đuổi quỉ. Nhiều biểu chương khác viết trên giấy Tàu (màu hồng đơn) lấm tấm những vết bạc hay vàng, được dùng để quyến rũ tiền bạc vào nhà[6].

Đốt pháo ngày Tết tại một làng ở Hà Đông đầu thế kỷ XX. Nguồn: Bảo tàng Quai Branly

Tóm lại, ít lắm là trong một tuần lễ, tất cả đời sống thương mại và chính trị của người Annam đều hoàn toàn dừng lại. Thế nên khi quan Đề đốc từ Hải Dương trở về đây thì vấn đề thừa dịp này để thử tấn công một nơi nào đó, vì có thể người Annam sẽ bối rối lắm, thì vấn đề này được đặt ra và bàn tán đến rất nhiều[7].

Bức thư chấm dứt tại đây. Nhưng trong bức thư thứ nhì lại không nghe nói đến sự thừa dịp dân ta ăn Tết Giáp Thân, Pháp có tấn công nơi nào cả. Chắc là ta đã có đề phòng, nên họ không dám đánh. Dưới đây là bức thư thứ ba, nhưng cũng chỉ nói đến thói ăn nếp ở của người mình mà không hề ám chỉ đến trận đánh lén nào cả.

Vài tục của người Annam cũng đáng được nói đến. Nhà chánh hiệu của người Annam được xây bằng đất với tre, lợp bằng tranh, và lợp rất dày. Tranh này được sắp xếp thế nào mà nước mưa không lọt vào nhà được. Vậy là tuyệt, nhưng hễ báo tới (mà bão thì tới hơi thường) thì chẳng còn nóc nhà, mái nhà gì nữa cả. Được cái là những hư hại được sửa chữa rất mau lẹ và hôm sau là đâu đó xong.

Nhà thì thường được ngăn ra làm hai buồng, nếu một chiếc chiếu được treo ở trần, thòng xuống, có thể gọi là ngăn chia. Buồng thứ nhứt dùng làm xưởng thợ, buồng thứ nhì dùng làm buồng tiếp khách, buồng ăn, buồng ngủ. Cả nhà, nam, nữ, lớn, bé đều ngủ ở đó, trong một sự gần gũi không được an tâm lắm đối với đạo đức.

Giường của họ rất là giản dị. Đó là giường trại lính của nhà binh (Pháp) và người Annam ngủ trên đó một cách sung sướng như là ngủ trên giường rất êm[8]. Về phương diện này thì người Annam rất kỳ diệu, họ ngủ trên ván, trên đá hay trên đất gì thì giấc ngủ của họ cũng mê man, và đôi khi phải đánh họ, mới gọi họ dậy được.

Dĩ nhiên đây là nhà của hạng người khá giả, còn bọn nghèo khó thì chỉ có chòi tranh mà ta không thể đứng ngay thẳng trong đó được. Loại chòi này thì khiêng đi được từ nơi nầy đến nơi khác. Người Annam giàu có thì ở nhà xây bằng đá, theo lối kiến trúc Trung Hoa[9].

Đàn ông và đàn bà mặt quần rất rộng và một thứ áo dài cài nút ở bên hông, bằng vải mỏng. Vạt áo đàn ông thì dài xuống tới gối, còn vạt áo đàn bà thì dài hơn tí xíu. Vào mùa đông các bà, các cô mặc chồng chất lên người đến bốn hoặc năm chiếc áo, mỗi áo mang mỗi màu khác nhau.

Nón của xứ này che mưa che nắng rất hữu hiệu, chỉ phiền là nón choán chỗ nhiều quá. Chỉ có người giàu có mới mang giày săng đan, còn nhà nghèo thì luôn luôn đi đất.

Treo tranh trấn môn ngày Tết, Hà Nội năm 1929. Phục chế màu: Đại Nam phục ảnh

Y phục của trẻ con chắc không làm cho cho cha mẹ chúng sạt nghiệp. Thường thì chúng trần truồng, đôi khi người ta mặc cho chúng những chiếc áo mỏng không xuống khỏi rốn[10].

Các nhà lập pháp Annam rộng rãi hơn các nhà lập pháp của ta, họ cho phép ly dị khi nào có sự ưng thuận của cả đôi bên. Nhưng vì họ kết hôn dưới sự làm phép của nhà sư, nên chỉ phải được nhà sư cho họ ly thân[11]. Sau khi thắp hương, nhà sư tuyên bố rằng là họ được tự do. Đoạn mỗi người hôn phối đi riêng vào một buồng. Ngoài này nhà sư khấn Phật. Nếu nhà sư cảm thấy có nghi ngờ, hoặc nhà sư nghe trong người khó chịu thì nhà sư gọi đương sự ra và cho biết rằng là Phật không chứng cho họ xa nhau, vào giai đoạn này, và họ phải trở lại ngày nào đó, nếu họ có xung đột nhau đáng kể. Đương sự mà không được toại nguyện  phải nộp cho nhà sư ba chục bạc[12] vì đã làm rộn nhà sư một cách vô ích.■

Thư của ông R.VASSELLE

Tham sự Biên tập viên hạng nhứt

(Việc xin phép công bố, do ông R. Despierres)

Tạp chí B.S.E.I. Tam cá nguyệt thứ 2 năm 1949

               BÌNH NGUYÊN LỘC (dịch)

Chú thích:   

[1] BBT đổi thành “gần 150 năm trước” cho phù hợp với mốc thời gian hiện tại

[2] Tính theo ngày ta thì nhằm mồng Một tháng Giêng âm lịch năm Giáp Thân

[3] Chi tiết này hơi khó hiểu. Tây chưa chiếm Bắc Ninh, tức họ chiếm Hà Nội chưa lâu, mà sao dân ta đã biết giặt y phục người Âu? Kỹ thuật ủi Âu phục, họa tất phải lâu mới làm được.

[4] Tác giả ám chỉ đến một loại quả sơn mài có ngăn mà vài gia đình miền Nam còn giữ được.

[5] Có lẽ tác giả đã lầm chăng? Ta đốt pháo Giao thừa vào giữa đêm 30, tức vào giữa khuya của ngày thứ nhất.

[6] Tác giả ám chỉ đến câu đối Tết, nhưng vì trong buổi đầu, nên tác giả chưa biết thật đúng là ta đã viết gì lên đó. Ta không phải luôn luôn cầu tài đâu mà thường viết những chuyện khác hơn cầu tài.

[7] Ám chỉ đến Đề đốc Courbet, người cầm đầu đạo quan đánh chiếm miền Bắc, và cầm đầu cuộc bình định nếu chiếm được. Nhưng thật ra thì chính bộ binh mới hành quân. Sứ mạng của Đề đốc Courbet mang tính cách chính trị nhiều hơn.

[8] Ám chỉ đến sập gỗ của ta

[9] Thật ra thì nhà giàu ở nhà gạch. Dân ta không có tục ở nhà bằng đá bao giờ. Tác giả tả nhà của giới trung lưu ta sai bét. Trong quyển L’Art Vietnamien, ông L.Begacier nói rằng giới khá giả Việt Nam ở Bắc Việt cất nhà bằng gỗ rất khéo, rất kỹ và kiên cố. Dĩ nhiên là ông Tây viết thư tả chuyện cũ 90 năm, nhưng 90 năm trước, ta cũng chẳng tệ đến thế bao giờ. Vậy, những nhân chứng không phải luôn luôn là những người mà ta tin cậy được.

[10] Chi tiết này cũng sai. Đây là con nhà nghèo ở nông thôn, chớ con nhà nghèo ở chợ cũng không tệ như vậy. Con nhà giàu thì dĩ nhiên là ăn mặc kín đáo hẳn hoi. Nhân chứng này có lẽ chỉ kém về quan sát chứ không phải là muốn xuyên tạc cái gì đâu.

[11] Tục kết hôn dưới sự làm phép của nhà sư hay tục ly dị do nhà sư quyết định chúng tôi không nghe thấy bao giờ. Mặt khác, cũng khó lòng mà cho rằng người viết bức thư này đã bịa chuyện. Vậy là phong tục ta đã thay đổi nhiều trong vòng 90 năm nay. Lạ lắm là sách vở Việt Nam không có ghi gì hết về tục này.

[12] Ba chục bạc thuở đó to bằng một trăm ngàn bạc ngày nay. Không rõ tác giả có lầm hay chăng, chớ dân ta nghèo thì nhà sư mà có bóc lột cũng không đòi hỏi nhiều đến thế, bởi trừ vài chục gia đình giàu có ở Hà Nội, chắc không ai có đủ số tiền lớn như vậy để nộp cho nhà sư… Chắc tác giả đã lầm về số tiền, thay vì viết 3 đồng, ông ấy đã viết ba chục đồng chăng?

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN