Kể từ khi lên nắm quyền tại nhiệm kỳ 2 vào đầu năm 2025, Tổng thống Donald Trump với chính sách “Nước Mỹ trên hết” đã không ít lần đẩy quan hệ giữa Mỹ và châu Âu – Liên minh châu Âu (EU) vào tình trạng cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt. Đặc biệt trong thời gian qua, ông Trump đã liên tục bày tỏ ý định “mua lại, chuyển nhượng” hoặc sẽ sử dụng vũ lực để giành quyền kiểm soát Greenland – lãnh thổ tự trị thuộc Vương quốc Đan Mạch (một thành viên NATO và EU). Lý do được ông Trump viện dẫn là do an ninh quốc gia của Hoa Kỳ bị đe dọa và Đan Mạch không có khả năng quản lý hòn đảo.
Không chỉ châu Âu mà hầu như cả thế giới đều bất ngờ và sốc trước những tuyên bố này. Các nước châu Âu, bao gồm cả các nước thành viên EU và thành viên NATO đã có những phản ứng hết sức mạnh mẽ, đã đẩy quan hệ hai bên rơi vào căng thẳng hiếm có và làm rạn nứt mối quan hệ đồng minh, tác động mạnh mẽ đến tình hình địa chính trị thế giới, chúng ta phải đặc biệt quan tâm.
Mối quan hệ phụ thuộc và bất bình đẳng
Mối quan hệ đồng minh giữa Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU) được xác lập từ Thế chiến thứ II, là mối quan hệ bị chi phối mạnh mẽ bởi chính sách đối ngoại của các đời Tổng thống Mỹ.
Trong nhiều thập kỷ, nước Mỹ luôn được coi là đồng minh lớn, đáng tin cậy của châu Âu. Mỹ nắm NATO để thực hiện chiến lược toàn cầu, phục vụ cho lợi ích của nước Mỹ và chống Liên Xô. Nhiều đời Tổng thống Mỹ đều đầu tư, tài trợ không ít tiền của vào NATO, và dành nhiều công sức để tạo dựng nên những thế hệ lãnh đạo châu Âu có xu hướng thân và gắn chặt với Mỹ.
Tuy nhiên mối quan hệ này được đánh giá là phụ thuộc và bất bình đẳng, chủ yếu vì sự chênh lệch rõ rệt về tiềm lực giữa hai bên cả về kinh tế, chính trị và quân sự.
Điều đó được thể hiện ở mấy điểm sau: (1) Sự phụ thuộc nặng nề của châu Âu vào Mỹ về an ninh và quốc phòng. Trong NATO, Mỹ là trụ cột chính, đóng góp khoảng 70% ngân sách quân sự và lực lượng thực tế của liên minh. (2) Sự bất đối xứng về năng lực quân sự và chi tiêu quốc phòng: Mỹ chi tiêu quốc phòng cao gấp nhiều lần tổng chi của toàn châu Âu (khoảng 800-900 tỷ USD/năm so với khoảng 300-400 tỷ USD của EU + Anh). (3) Khả năng Mỹ sử dụng đòn bẩy an ninh để gây ảnh hưởng chính trị/kinh tế. Mỹ có thể (và đã từng) dùng vị thế lãnh đạo NATO để gây áp lực lên châu Âu trong các vấn đề khác: thương mại, thuế quan, chính sách đối ngoại. Ông Trump thường xuyên đe dọa rút khỏi NATO gây hoang mang và bất ổn. (4) Châu Âu thiếu tự chủ chiến lược, vẫn phụ thuộc vào công nghệ, tình báo, và khả năng răn đe hạt nhân của Mỹ.

Đặc biệt khi có sự cố xảy ra như giai đoạn Covid -19, và khi cuộc chiến Ukraine nổ ra, EU bị Mỹ dẫn dắt vào cuộc chiến chống Nga và chấp nhận cắt đứt nguồn nhiên liệu giá rẻ của Nga, chấp nhận tổn thất về kinh tế, phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu giá cao từ Mỹ.
Những điều chỉnh chính sách của Tổng thống Trump 2.0 ngày càng xa rời đồng minh châu Âu
Ngay khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai, với chính sách “Nước Mỹ trên hết” chính quyền Trump đã thay đổi quan điểm với đồng minh EU, thường xuyên chỉ trích các lãnh đạo EU, cho rằng EU đang đi sai hướng và Mỹ đã phải bỏ quá nhiều tiền của vào châu Âu mà không thu được lợi ích. Theo chính quyền Trump 2.0, Hoa Kỳ càng “dính líu” sâu vào châu Âu thì sẽ càng bị tổn hại.
Trong thương mại, khái niệm đồng minh không có giá trị đối với chính quyền Trump, khi lợi nhuận được đặt lên hàng đầu. Hoa Kỳ đã hủy bỏ nhiều miễn trừ thuế quan mà trước đó EU được hưởng, thay vào đó áp dụng các biện pháp bảo hộ, áp thuế cao đối với hàng hóa châu Âu vào Mỹ. Việc tăng thuế thép từ 25% lên 50% và nhôm từ 10% lên 50% đối với hầu hết các đối tác châu Âu đã đẩy EU vào thế bị động, phải tìm cách thương lượng tập thể và đáp ứng nhiều yêu cầu thương mại của Mỹ. Chính quyền Trump chủ trương tăng cường hợp tác song phương thay vì đa phương, ưu tiên các thỏa thuận song phương với từng quốc gia châu Âu thay vì làm việc thông qua các thể chế đa phương như EU.
Bên cạnh đó, Ông Trump luôn thể hiện sự hoài nghi đối với vai trò của NATO và đã điều chỉnh mạnh mẽ chính sách đối với NATO. Chính quyền Trump gây áp lực, buộc các nước EU phải đứng ra tự chịu trách nhiệm chính đảm bảo an ninh của mình. Gây áp lực buộc các thành viên NATO tăng chi tiêu quốc phòng lên 5% GDP, vượt xa mục tiêu 2% hiện tại. Quan hệ giữa Mỹ và NATO mang tính chất Người ra lệnh và Người thi hành mệnh lệnh nhiều hơn.
Về cuộc chiến Ukraine, quan điểm của chính quyền Trump khác với chính quyền tiền nhiệm. Ông Trump cho rằng cuộc chiến này do ông Biden và châu Âu gây ra, nếu ông làm Tổng thống khi đó thì cuộc chiến này không xảy ra. Ông còn cho rằng Nga không xâm lược Ukraine và châu Âu, ông muốn kết thúc cuộc chiến này trong 24 giờ. Ông Trump chủ trương giảm bớt và không viện trợ trực tiếp cho Ukraine. Mỹ chỉ là một bên bán vũ khí cho Liên minh châu Âu để khối này cung cấp cho Ukraine.
Như vậy Mỹ sẽ chuyển sang vai trò của một “Nhà buôn bán vũ khí”. NATO trở thành một bên mua vũ khí của Mỹ. Ông Trump cũng đã từng tuyên bố rõ ràng rằng Ukraine sẽ phải hoàn trả 100% chi phí viện trợ quân sự. Cuộc chiến tại Ukraine sẽ trở về hình thái có Mỹ mà không có Mỹ. Rạn nứt hai bên ngày càng tăng với việc chính quyền Trump can thiệp vào các Quy định Công nghệ và Kinh tế Kỹ thuật số khi yêu cầu EU rút bỏ các quy định nghiêm ngặt đối với các đại gia công nghệ Mỹ (như Apple, Google), đe dọa phạt công ty công nghệ châu Âu và cấm một số nhà nghiên cứu công nghệ nhập cảnh Mỹ. Việc Mỹ tuyên bố rút khỏi các Thỏa thuận Chống biến đổi Khí hậu và phản đối chủ nghĩa toàn cầu hóa do châu Âu thực hiện thể hiện sự mâu thuẫn nghiêm trọng giữa Mỹ và EU và ảnh hưởng vai trò của châu Âu trên trường quốc tế, ảnh hưởng mạnh đến các chương trình phát triển chung với châu Âu.
Nhiều thông tin cho rằng chính quyền Trump ủng hộ và trợ giúp nhiều phong trào cực hữu ở châu Âu, đặc biệt tại một số quốc gia như Đức, Pháp, với mục tiêu gây áp lực với chính quyền đương nhiệm tại đây để phục vụ cho các lợi ích của Mỹ.
Sự kiện Greenland càng đẩy cao mâu thuẫn
Từ cuối năm 2025, chính quyền Trump công khai sẽ sáp nhập đảo Greenland của Đan Mạch vào Mỹ bằng mọi giá, kể cả biện pháp quân sự. Đan Mạch và Liên minh châu Âu thể hiện quan điểm là không để mất đảo này vào tay nước Mỹ. EU khẳng định Greenland là một phần không thể tách rời của Đan Mạch và khu vực an ninh châu Âu, khối này sẽ tăng cường lực lượng quân sự để bảo vệ hòn đảo. Điều này đồng nghĩa với việc gạt Mỹ ra khỏi hòn đảo, thể hiện quan điểm độc lập hơn, không phụ thuộc vào Mỹ.
Trước phản ứng của châu Âu, ông Trump tuyên bố sẽ áp thuế nhập khẩu bổ sung 10% từ ngày 01/2/2026 đối với hàng hóa của 8 quốc gia (Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Pháp, Đức, Hà Lan, Phần Lan và Anh) là những nước đưa quân tới đảo Greenland. Mức thuế này có thể tăng lên 25% từ ngày 1/6 nếu không đạt được thỏa thuận cho phép Mỹ “mua lại” Greenland.
Trước áp lực về thuế quan, các nước Đức, Pháp, Ý, Hà Lan phối hợp trừng phạt lại kinh tế của Mỹ, thậm chí họ tính đến khả năng khai trừ Mỹ khỏi khối NATO vì nước này đã xâm lược lãnh thổ một quốc gia nằm trong khối này (Đan Mạch).
Cho dù tại Hội nghị Davos tháng 1/2026 vừa qua, Ông Trump đã đưa ra những tuyên bố được coi là mang tính chất “nhượng bộ”, song Châu Âu tỏ ra rất thận trọng. Lãnh đạo EU tuyên bố sẽ không lơ là cảnh giác, tiếp tục thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận đã ký kết nhằm đảm bảo ổn định kinh tế xuyên Đại Tây Dương.
Từ những sự kiện trên có thể nêu ra một số vấn đề sau đây:
– Trước hết quan hệ Mỹ – EU đang ở thời điểm căng thẳng và nghiêm trọng nhất trong nhiệm kỳ ông Trump làm Tổng thống nước Mỹ. Những lời đe dọa của ông Trump được đánh giá như một bước leo thang mới, khiến cho những bất đồng vốn tồn tại âm ỉ ở Liên minh châu Âu được dịp bùng phát và có nguy cơ tan rã khối NATO.
Hai sự kiện Greenland và cuộc chiến tại Ukraine cho thấy mâu thuẫn rõ rệt về mục tiêu chiến lược cũng như về quyền lợi của Mỹ và Liên minh châu Âu (EU). Đây là mâu thuẫn mang tính đối đầu giữa hai cực và hai khối lớn trên thế giới, sẽ có tác động đến tình hình trật tự toàn cầu.
Sự kiện Greenland cho thấy châu Âu và EU sẽ kiên quyết bảo vệ chủ quyền của Đan Mạch, nhưng Đan Mạch và Liên minh châu Âu không thể kích hoạt Điều 5 của NATO để bảo vệ an ninh của nước này, vì Mỹ là một thành viên của NATO. Họ nhận thức hành động của chính quyền Trump là biểu hiện của chủ nghĩa bành trướng, là xâm lược – vi phạm chủ quyền của một quốc gia, vi phạm luật pháp quốc tế.
– Điểm thứ hai là phản ứng của châu Âu là rất mạnh mẽ trước sức ép từ chính quyền Trump. Họ công bố mọi hoạt động khai thác tài nguyên trên đảo Greenland do EU quyết định và phải theo tiêu chuẩn của EU.
Việc 8 nước thành viên NATO đã nhanh chóng cử quân đội (cho dù lực lượng chưa lớn) đến Greenland dưới danh nghĩa tập trận chung là dấu hiệu mạnh mẽ chứng minh năng lực tự bảo vệ Bắc Cực, phát tín hiệu thách thức, buộc Mỹ phải e ngại về nguy cơ leo thang xung đột giữa Mỹ với châu Âu.

Về kinh tế, xuất phát từ quan điểm cho rằng, khi EU chưa thể đối đầu với Mỹ về quân sự, nhưng lại sở hữu sức nặng kinh tế “đủ lớn” với tổng kim ngạch năm 2024 đạt khoảng 1.980 tỷ đô la, EU vẫn có thể đáp trả Mỹ bằng các biện pháp thương mại tương xứng. EU đe dọa sẽ sử dụng cơ chế “Công cụ chống cưỡng bức” cho phép EU ngăn chặn các đầu tư trực tiếp từ Mỹ, tước đoạt sở hữu trí tuệ, áp đặt các hạn chế nghiêm ngặt về xuất, nhập khẩu đối với Mỹ. Điều này cũng buộc chính quyền Trump 2.0 phải e ngại.
Về vấn đề Ukraine, cho đến giai đoạn hiện nay, mâu thuẫn rõ rệt, nổi lên là Mỹ đang ép các nước, đặc biệt ép ông Zelensky phải đàm phán với Nga, nhưng không có vai trò của châu Âu. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì những đề nghị từ Mỹ đều mang “hơi hướng” có lợi cho Nga nhiều hơn, buộc quân đội Ukraine phải rút khỏi Donbas, buộc ký thỏa thuận. Phía Ukraine không chấp nhận và các nước châu Âu vẫn ủng hộ Ukraine đến cùng. Gói hỗ trợ gần 800 tỷ được các đối tác phương Tây đưa ra là một minh chứng.
Liên quan đến cuộc chiến này, cả Ukraine và cả Nga đều cho thấy họ sẽ theo đuổi đến cùng và cuộc chiến sẽ chỉ chấm dứt khi một bên không còn đủ sức để chống cự và thất bại. Chính vì thế, cho đến thời điểm hiện tại, có nhiều yếu tố để đi đến kết luận rằng sẽ chưa có thỏa thuận nào sớm đạt được.
Chính quyền Trump 2.0 nhận thức rõ điều đó, tuy nhiên nếu để cuộc chiến càng kéo dài thì không loại trừ khả năng Nga sẽ chiếm Ukraine hoàn toàn, vĩnh viễn. Đây là một kịch bản bất lợi cho Mỹ. Mỹ thúc đẩy đàm phán với hy vọng nếu sớm đạt được thỏa thuận thì Mỹ sẽ có cơ hội còn giữ và nắm được Ukraine trong tương lai và lâu dài. Ngược lại, nếu không sớm có thỏa thuận, Mỹ sẽ không ngăn được Nga tấn công và như vậy Ukraine sẽ bị xóa sổ. Đây là điều không có lợi cho cả Mỹ và phương Tây trong dài hạn.
Nước Nga và Tổng thống Putin không phải không nhận thức rõ được ý đồ của Mỹ và phương Tây, tuy nhiên Nga vẫn chấp nhận đàm phán và gặp gỡ như một cử chỉ tỏ thiện chí, tuy biết trước rằng sẽ khó có một thỏa thuận khi lập trường cơ bản hai bên còn quá khác xa nhau nên Nga vẫn không dừng cuộc chiến, thực hiện làm suy yếu NATO và châu Âu.
– Điểm thứ ba, đó là những phản ứng dứt khoát, cứng rắn và chủ động của EU trong thời gian qua cho thấy lòng tin của EU vào Mỹ bị suy giảm nghiêm trọng. EU đã nhận thức rõ rằng Mỹ đã và đang bỏ rơi châu Âu. Châu Âu không thể dựa vào “cái ô” bảo trợ của Mỹ, cần tăng cường đoàn kết, giảm phụ thuộc vào Mỹ. Mặt khác cần giữ vững an ninh tại Bắc cực, xây dựng tự chủ chiến lược và đa dạng hóa quan hệ.
Khách quan mà nói, trong thời gian qua, EU đã phần nào thành công trong chiến lược đáp trả với Mỹ. Phản ứng của châu Âu về Greenland thể hiện rõ xu thế muốn độc lập, dần tách ra khỏi Mỹ, cân bằng trong quan hệ với Nga và Trung Quốc. Và cũng minh chứng một điều rằng, một khi đoàn kết và biết khai thác sử dụng các công cụ pháp lý và sức mạnh tự thân, EU có thể có khả năng đương đầu với những sức ép từ Mỹ.
– Điểm thứ tư là, những “bài học dậy dỗ” mà ông Trump muốn gửi đến châu Âu – EU đã mang lại hiệu ứng ngược. Nhiều nhận xét cho rằng, Greenland chính là bước đi sai lầm của ông Trump, khiến EU xem xét lại đường lối, xích lại với Nga và Trung Quốc. Đã có những quan điểm được nêu lên, đó là phải tính đến việc đối thoại lại với Nga, công nhận Nga là một nước ở châu Âu, nối lại đàm phán để “lấy lại năng lượng” giá rẻ vì cuộc chiến ở Ukraine “đã và đang hủy diệt” toàn bộ năng lượng châu Âu. Điều này khiến cho quan hệ Mỹ – EU có nguy cơ bị đẩy vào vòng xoáy đối đầu về kinh tế, an ninh, chính trị và quốc phòng, có lợi cho Nga và Trung Quốc, hai đối thủ cạnh tranh với Mỹ.
Thủ tướng Anh Keir Starmer cũng như lãnh đạo EU đã cảnh báo Mỹ rằng căng thẳng giữa Mỹ và châu Âu nếu leo thang chỉ mang lại lợi ích cho các đối thủ chiến lược (ám chỉ Nga và Trung Quốc) và nhấn mạnh, thuế quan không chỉ làm suy yếu sự thịnh vượng chung ở hai bờ Đại Tây Dương mà còn làm phân tán sự tập trung khỏi những thách thức an ninh lớn hơn, trong đó có xung đột tại Ukraine và các khu vực khác.
Tại một số nước Tây Âu như Đức, Pháp, Anh, Hà Lan, Italia đã xuất hiện khuynh hướng mong muốn độc lập với Mỹ, đòi thành lập quân đội riêng, tách khỏi NATO với hàm ý là tách Mỹ, đi xa hơn có thể tính đến việc khai trừ Mỹ ra khỏi NATO theo như một số nguồn tin đã đưa.
– Điểm thứ năm là, về địa chính trị, chính cuộc khủng hoảng giữa Mỹ và EU, hai đồng minh lâu đời, vốn cùng chia sẻ những giá trị dân chủ, nhân quyền và kinh tế thị trưòng đã như một lời cảnh tỉnh, nhắc nhở và buộc nhiều quốc gia, không chỉ ở châu Âu mà trên toàn thế giới phải thận trọng và nâng cao cảnh giác trong việc đặt lòng tin vào cường quốc Hoa Kỳ. Điều đó đã làm giảm sức ảnh hưởng, uy tín và vai trò toàn cầu của Mỹ.
Những phát biểu của Thủ tướng Canada Carney được dư luận rất quan tâm khi ông nhận xét rằng, thế giới đang bước vào giai đoạn bước ngoặt mới mà ở đó trật tự quốc tế (ám chỉ do Mỹ dẫn dắt) kể từ sau thế chiến thứ hai đã kết thúc hoặc đang suy yếu nghiêm trọng. Đây là giai đoạn mới mà các quốc gia tầm trung như Canada, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước châu Âu cần đẩy mạnh hợp tác chặt chẽ hơn để đối phó với các cường quốc lớn và sự bất ổn toàn cầu cũng như cần linh hoạt ứng phó với thực tế mới (như “America First” của ông Trump cũng như ảnh hưởng của Trung Quốc, Nga).

Sự kiện Greenland chính là phép thử mới cho mối quan hệ không bình đẳng giữa hai cường quốc, hai khối nước là Mỹ và châu Âu. Nhưng cũng qua sự kiện Greenland, thế giới đã chứng kiến một sự thay đổi căn bản mối quan hệ đồng minh, mà ở đó châu Âu đang tự khẳng định mình với một quyết tâm mới và sẽ không để Mỹ dễ dàng quyết định số phận của mình như trước đây.
Tuy nhiên, theo dự đoán của nhiều nhà nghiên cứu, Chính quyền của Tổng thống Trump 2.0 sẽ không dừng lại như hiện nay. Có rất nhiều kịch bản đang được nêu lên, trong đó có kịch bản Mỹ sẽ không tấn công bằng quân sự nhưng sẽ thâu tóm Greenland thông qua nhiều hình thức khác nhau như các hợp đồng đầu tư, thuê mướn, đóng quân…
Tuy nhiên, các nhà quan sát cho rằng mâu thuẫn giữa Mỹ và châu Âu chỉ là ngắn hạn, họ vẫn cần có nhau để chống lại các nước nam bán cầu do Nga và Trung Quốc dẫn dắt. Mặt khác, NATO và EU vẫn phụ thuộc vào vũ khí và và hệ thống tình báo của Mỹ. EU không thể mạnh lên trong một sớm một chiều. Trong nội bộ EU vẫn tồn tại nhiều quan điểm bất đồng về quan hệ với Mỹ. Các nước Tây Âu, đặc biệt Đức, Pháp, Anh muốn tách Mỹ, trong khi đó các nước Ban tích, Đông Âu vẫn muốn gắn với Mỹ. Liên minh châu Âu đang ở trạng thái chấp nhận hiện tại, trông chờ vào sự thay đổi bộ máy chính phủ Mỹ ở nhiệm kỳ tới không có Trump và khi ấy có thể có sự thay đổi trong quan hệ giữa Mỹ và EU và NATO.
Tình hình thế giới biến đổi do sự điều chỉnh chiến lược của các siêu cường. Những khái niệm đồng minh không còn tồn tại như những thập kỷ trước, lợi ích quốc gia đặt lên hàng đầu. Đó là một thách thức lớn đối với mỗi quốc gia, nhưng đồng thời cũng là cơ hội mới cho các quốc gia vừa và nhỏ cân bằng quan hệ, đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương, giữ được vị thế trước một thế giới đa cực đang hình thành.■