Việt Nam trên báo Mỹ: Phá hủy Đường mòn Hồ Chí Minh - nhiệm vụ bất khả thi

Kết thúc loạt bài nhìn lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam vào năm bản lề 1967 đăng tải trên báo Mỹ New York Times năm 2017, Tạp chí Phương Đông số này giới thiệu tới bạn đọc bài viết của Merrill A. McPeak, cựu phi công Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam, Tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ từ năm 1990 đến 1994. Bài viết lập luận rằng chiến dịch ném bom của Mỹ nhằm cắt đứt tuyến đường mòn Hồ Chí Minh của quân và dân ta, dù tiêu tốn khối lượng bom đạn và nguồn lực khổng lồ của Mỹ, nhưng đã không đạt được mục tiêu chiến lược. Quân và dân ta đã liên tục thích nghi, sửa chữa và mở rộng mạng lưới vận tải, khiến việc đánh phá từ trên không của máy bay Mỹ không thể ngăn được dòng người và vật tư chuyển vào giải phóng miền Nam (ngôn từ trong bài được giữ nguyên so với bản gốc để độc giả tham khảo).

Tôi đã dành năm 1967 để bay biểu diễn cùng đội Thunderbirds, đội nhào lộn của Không quân Hoa Kỳ, và lo lắng rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam sẽ kết thúc trước khi tôi đến đó. Tất cả những người bạn phi công chiến đấu của tôi đều đang ở giữa chiến trường, vậy mà giờ đây tôi lại đang làm nhiệm vụ tuyển quân thay vì chiến đấu – một nhiệm vụ mà tôi không thể rời đi trước khi hoàn thành chuyến công tác kéo dài hai năm.

Nhưng tôi không cần phải lo lắng; cuộc chiến đã chờ đợi tôi. Đến lượt mình, tôi đã thực hiện 269 phi vụ bay, rất nhiều trong số đó được phân loại tuyệt mật vì chúng tôi không được phép bay qua Lào. Nhưng chúng tôi đã bay qua Lào, và nhiệm vụ của đơn vị tôi là ngăn chặn giao thông trên Đường mòn Hồ Chí Minh.

Có một điều thú vị là Bắc Việt không gọi đó là Đường mòn Hồ Chí Minh. Nó uốn lượn qua dãy Trường Sơn ở Tây Nguyên, chạy gần hết chiều dài Việt Nam dọc theo biên giới với Lào và Campuchia. Đối với miền Bắc, con đường này có thể được gọi là Tuyến đường Tiếp tế Chiến lược Trường Sơn, hoặc Quốc lộ 559, những con số đánh dấu tháng (tháng 5) và năm (1959) mà chính phủ Bắc Việt đã chính thức quyết định hỗ trợ tích cực cho cuộc nổi dậy ở miền Nam.

Hà Nội không bao giờ có thể duy trì các hoạt động quân sự ở miền Nam nếu không có cách đưa quân và đồ tiếp tế vào đó. Tất nhiên, chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi đã xây dựng một cơ sở hạ tầng hiện đại và ấn tượng – các căn cứ không quân, cảng biển, đường ống dẫn dầu, kho tiếp tế khổng lồ tại Long Bình.

Trong khi đó, bắt đầu từ cuối những năm 1950, Bắc Việt đã dành riêng một phần đất ở Lào có diện tích bằng bang Massachusetts để xây dựng một cơ sở hạ tầng giống với cơ sở hạ tầng của chúng tôi theo nhiều khía cạnh: hàng trăm km đường bộ, các trung tâm thông tin liên lạc, kho đạn dược, kho dự trữ lương thực và nhiên liệu, bãi đỗ xe tải, trại lính. Bắc Việt đã làm điều này trong một môi trường khó khăn hơn rất nhiều: một vùng núi non hiểm trở, dân cư thưa thớt, rừng rậm ba tầng cây và rừng mưa nguyên sinh rậm rạp. Đây là một trong những thành tựu vĩ đại nhất trong lịch sử kỹ thuật quân sự, và tất cả đều được ẩn giấu khỏi tầm nhìn ngoại trừ dấu vết của con đường.

Ảnh chụp Đường mòn Hồ Chí Minh (đoạn qua Lào) từ độ cao hơn 1.400m cho thấy những cung đường uốn lượn quanh các hố bom chi chít (1970). Ảnh: National Archives

Tôi được phân công vào một đơn vị nhỏ gồm các tình nguyện viên từ cả 4 căn cứ ở Nam Việt Nam, nơi đóng quân của các máy bay ném bom chiến đấu F-100, loại máy bay được lựa chọn cho nhiệm vụ này. Về mặt kỹ thuật, chúng tôi là “phân đội” của một phi đội chiến đấu cơ chính quy, danh tính của chúng tôi được che giấu vì tính bí mật của công việc. Những người khác biết chúng tôi qua mật danh Misty. Nhiệm vụ: tìm kiếm và chỉ đạo các cuộc tấn công vào tất cả các yếu tố của Đường mòn Hồ Chí Minh.

Chúng tôi muốn cho nổ tung tất cả, xe tải, vật tư và cơ sở hạ tầng, nhưng những gì chúng tôi có thể nhìn thấy chỉ là con đường. Vì vậy, chúng tôi tấn công các đoạn đường hẹp, nghĩ rằng đó là cách tốt nhất để chặn đường đi. Nhưng ngày hôm sau, các tuyến đường tránh đã xuất hiện. Chúng tôi làm đất đá sạt xuống lấp kín mặt đường, và con đường mòn bằng cách nào đó đã luồn lách qua chúng. Chúng tôi biến đường thành bùn lầy, thì chẳng bao lâu đã thấy đường gỗ tạm được rải lên. Chúng tôi đào sâu thêm những khúc sông cạn, nhưng bằng cách nào đó chúng lại được lấp đầy và mở rộng ra.

Giống như một mê cung hơn là một con đường, con đường mòn biến mất, xuất hiện trở lại, tan biến, xuất hiện, co lại, mở rộng, chia cắt, hợp nhất, biến mất, rồi lại hiện ra. Chúng tôi đã phá hủy một phần lớn đất nước Lào, chế độ quân chủ 600 năm tuổi, Đất nước Triệu Voi, thành tro bụi trơ trọi như mặt trăng. Nhưng bằng cách nào đó, Đường mòn Hồ Chí Minh vẫn luôn ở đó. Giết nó cũng giống như cố gắng xỏ tất cho một con bạch tuộc!

Bản thân những người lái xe tải Bắc Việt được đội bay Misty chúng tôi rất ngưỡng mộ. Phe của họ gọi họ là những “phi công trên mặt đất”, một phép ẩn dụ không hề xúc phạm chút nào. Chúng tôi đã sáng tác một bài hát trêu chọc về họ – về sự cô đơn trên đường mòn; thức ăn tệ hại ra sao khi đến được tay họ; cách họ phải nâng xe lên để thay lốp, trượt ngã trong bùn; cách họ nhặt bọ ra khỏi răng khi Misty bắn thủng kính chắn gió của họ…

Nhưng họ đã làm việc cực kỳ nghiêm túc trong những điều kiện khủng khiếp nhất có thể tưởng tượng ra. Họ rời bỏ nhà cửa ở miền Bắc và sống trên đường mòn hàng tháng, thậm chí hàng năm trời, chịu đựng thời tiết gió mùa, sốt rét, thú dữ cắn và những cơn đói triền miên. Thư từ của họ được thu thập mỗi tháng một lần; việc trao đổi thư từ có thể mất cả một mùa.

Rồi họ phải lái xe qua vùng nông thôn hoang vắng, trong bóng tối, mà không có đèn pha – một chuyến đi thậm chí cũng chẳng vui vẻ gì nếu đi trên một xa lộ hiện đại, thoáng đãng, và không có ai bắn vào bạn.

Chúng tôi đã ném hai triệu tấn bom xuống Lào – tương đương với tổng khối lượng bom chúng tôi đã ném trong suốt Thế chiến II ở cả chiến trường châu Âu và Thái Bình Dương. Chúng tôi gieo mây gây lũ lụt, rải chất độc da cam, đặt mìn trên đường, lắp đặt các cảm biến dọc theo Hàng rào giám sát điện tử McNamara. Chắc chắn là chúng tôi đã buộc đối phương phải trả một cái giá rất đắt. Theo thời gian, miền Bắc đã lấp đầy 72 nghĩa trang quân đội bằng hài cốt của những người đã xây dựng, vận hành và di chuyển trên con đường mòn.

Đoàn xe của bộ đội ta vượt Trường Sơn chi viện cho chiến trường miền Nam. Ảnh tư liệu

Nhưng họ đã di chuyển, vận chuyển hàng hóa – những quả tên lửa 122mm đã tấn công Thủy quân Lục chiến của chúng tôi quanh Đà Nẵng, những quả mìn đã giết chết binh lính của chúng tôi gần Mỏ Vẹt, những thiết bị hạng nặng cuối cùng sẽ bao vây và chiếm giữ Sài Gòn trong ký ức. Những tài xế xe tải đã ra sức bơm để cung cấp oxy duy trì khả năng chiến tranh của miền Bắc ở miền Nam.

Chúng tôi chưa bao giờ chặn được giao thông trên Đường mòn Hồ Chí Minh, chưa bao giờ hoàn thành nhiệm vụ, một sự thật khiến tôi day dứt đến tận bây giờ. Những hạn chế về kỹ thuật của chúng tôi – không thể hoạt động vào ban đêm, độ thiếu chính xác của vũ khí không có hệ thống dẫn đường – đã được khắc phục. Nhưng khi Sài Gòn thất thủ, không phải là những toán du kích Việt Cộng nghèo nàn, vũ trang thô sơ tiến vào thành phố, mà là những hàng xe tăng T-54 do Nga sản xuất, dẫn đầu một đội quân dã chiến hiện đại với pháo binh và tên lửa đất đối không, tất cả đều được vận chuyển bởi những tài xế xe tải gan dạ trên con đường mòn Hồ Chí Minh dường như bất khả xâm phạm.■

Merrill A. McPeak

Hoàng Anh (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN