Cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968: Chiến dịch bất ngờ của một chiến lược táo bạo

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 ở miền Nam luôn là chủ đề thảo luận của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Nhà sử học người Pháp Stephan Mantoux đã phân tích yếu tố bất ngờ của cuộc tiến công này trong bài viết đăng trên tạp chí Stratégique số 106, xuất bản năm 2014. Tạp chí Phương Đông trích dịch và giới thiệu tới bạn đọc. Các từ ngữ và ý kiến trong bài thể hiện quan điểm của tác giả, chúng tôi giữ nguyên để bảo đảm tính khách quan.

Tổng tấn công Tết Mậu Thân: bước ngoặt của cuộc chiến tranh ở Việt Nam

Giai đoạn chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân bắt đầu ngay từ mùa thu năm 1967. Vào tháng 9, gần khu phi quân sự phía bắc Nam Việt Nam, pháo binh Bắc Việt bao vây và pháo kích Cồn Tiên. Tháng 10, quân Bắc Việt tấn công trung tâm tỉnh Lộc Ninh nằm ở phía Tây – Bắc Sài Gòn, gần biên giới Campuchia. Tháng 11, giao tranh ác liệt diễn ra ở tỉnh Kon Tum, thuộc vùng Tây Nguyên, đặc biệt là ở gần thị trấn nhỏ Đắk Tô. Cuối cùng, quân Mỹ phát hiện các sư đoàn Bắc Việt tập trung xung quanh căn cứ Khe Sanh, điểm cực tây của “hàng rào điện tử McNamara” – chuỗi căn cứ Mỹ dùng để ngăn chặn quân Bắc Việt tiến vào phía bắc Nam Việt Nam qua khu phi quân sự. Những cuộc tấn công này không đủ để buộc quân Mỹ phải tái bố trí lực lượng lâu dài ở phía biên giới. Tuy nhiên, quân Bắc Việt đã tinh chỉnh chiến thuật của họ và tổn thất của Mỹ đôi khi khá đáng kể, như cuộc giao tranh tại Đắk Tô.

Lính thủy đánh bộ Mỹ rời khỏi tòa nhà trú ẩn sau khi bị thương ở Huế ngày 6/2/1968. Nguồn: Getty Images

Tướng Westmoreland tin chắc rằng trận chiến quyết định sẽ diễn ra gần Khe Sanh – căn cứ cô lập, phần nào gợi nhớ đến hoàn cảnh ở Điện Biên Phủ. Ngay từ tháng 1/1968, ông đã cùng Bộ Tham mưu xây dựng Chiến dịch Niagara nhằm cung cấp hỏa lực không quân cực mạnh cho lực lượng thủy quân lục chiến phòng thủ điểm chốt này và nghiền nát quân Bắc Việt bằng bom đạn cùng hỏa lực khủng khiếp của Mỹ. Những hy vọng đó dường như được xác nhận khi đêm ngày 21/1/1968, pháo kích và các cuộc tấn công trên bộ bùng nổ. Thế nhưng, các dấu hiệu cho thấy khả năng một cuộc tổng tấn công nổ ra trên toàn bộ miền Nam Việt Nam vẫn tiếp tục chồng chất. Nhưng Westmoreland vẫn tập trung vào Khe Sanh. Ông không thực hiện đầy đủ các biện pháp để thực sự dự đoán cuộc tấn công mà ông biết là sắp xảy ra, bất chấp các đợt tấn công từ sớm của quân Bắc Việt ngày 30/1. Vì vậy, ngày 31/1, 80.000 quân Bắc Việt đồng loạt xuất kích là điều hoàn toàn bất ngờ.

Tại Sài Gòn, quân Bắc Việt đánh thẳng vào những mục tiêu trọng yếu, trong đó có tòa Đại sứ quán Mỹ. Các cuộc tấn công bị đàn áp chỉ sau vài giờ hoặc vài ngày, vì một khi chiếm được mục tiêu, quân Bắc Việt lại đứng yên tại chỗ và chờ tiếp viện, mà nguồn tiếp viện ấy lại không bao giờ đến. Tuy nhiên, trận đánh đầy kịch tính khi quân Bắc Việt tái chiếm khuôn viên Đại sứ quán Mỹ, khi họ phải đấu súng trong sân do không thể tiến vào tòa nhà, cùng với trận vây hãm tại Khe Sanh đã tạo nên một cú sốc chưa từng có tại Hoa Kỳ. Dư luận Mỹ nhận ra rằng chính phủ và quân đội đã nói dối về diễn biến chiến tranh, và nhanh chóng có cảm giác rằng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đang đối diện với nguy cơ sụp đổ trước cuộc tổng tấn công.

Một cặp vợ chồng người Mỹ ngồi tại phòng khách xem đoạn phim tư liệu về cuộc chiến Tết Mậu Thân năm 1968. Ảnh chụp bởi Warren. K. Leffler.

Ở phần còn lại của miền Nam Việt Nam, lực lượng Bắc Việt tấn công vào 36 tỉnh lỵ trên tổng số 44. Trên thực tế, chính Quân lực VNCH gánh phần lớn việc chống trả. Sức chiến đấu của họ không đồng đều: khá tốt ở vùng Tây Nguyên nhưng yếu kém ở đồng bằng sông Cửu Long. Tại Huế, thành phố lớn thứ 3 ở miền Nam Việt Nam, cách khu phi quân sự chừng 100km về phía nam, lực lượng tương đương một sư đoàn của Bắc Việt đã chiếm giữ thành phố ngay trong những giờ đầu tiên ngày 31/1. Nhưng Sư đoàn Bộ binh số 1 của Quân lực VNCH đã trụ vững ở phía bắc thành phố – khu cố đô. Trong khi đó, từ phía nam thành phố, quân Lục chiến Mỹ tiến vào để giành lại khu đô thị mới. Huế bị tái chiếm ngày 2/3, trận này trở thành một trong những trận chiến đẫm máu nhất của cuộc chiến tại Việt Nam; quân Bắc Việt chỉ chịu rút lui từng bước khi thành phố dần bị pháo binh Mỹ san phẳng. Ở phía tây bắc của Huế, căn cứ Khe Sanh được không quân Mỹ tiếp tế hoàn toàn bằng đường hàng không và che chở nhờ vào hỏa lực trên không của quân đội Mỹ, vì vậy, căn cứ này vẫn thuộc quyền kiểm soát của Hoa Kỳ đến tận tháng 4/1968. Quân Mỹ chủ yếu dùng B52 trút 100.000 tấn bom, lực lượng Bắc Việt bị tổn thất nặng nề ở các ngọn đồi quanh khu vực Khe Sanh. Tuy nhiên, cuộc tiến công Tết không kết thúc bằng trận chiến tại Khe Sanh ngày 8/4. Ngày 5/5, quân Bắc Việt đã đưa thêm từ 80.000 đến 90.000 quân vào miền Nam, mở màn giai đoạn 2, đặc biệt ở Sài Gòn, Tháng 5/1968 trở thành tháng đẫm máu nhất đối với quân đội Mỹ trong toàn bộ cuộc chiến. Dù vậy, không còn nắm giữ yếu tố bất ngờ, lực lượng Bắc Việt chịu tổn thất nặng nề cho tới tận mùa thu.

Thế nhưng, canh bạc táo bạo đó lại đem về kết quả: tại Hoa Kỳ, dư luận rơi vào trạng thái chán nản. Ngày 27/2/1968, Walter Cronkite, phát thanh viên kỳ cựu của CBS, tuyên bố rằng cuộc chiến này không thể thắng được. Tổng thống Johnson thì kiệt sức, buông cuộc chơi, ngày 31/3, ông tuyên bố không tái tranh cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1968 và thông báo mở đàm phán với Hà Nội, đồng thời ngừng ném bom miền Bắc. Dù quân Bắc Việt chịu nhiều tổn thất quân sự trong suốt cuộc tổng tấn công thì trên phương diện chính trị và tâm lý họ lại thắng đậm. Đúng là chế độ Sài Gòn và Quân lực VNCH không sụp đổ, nhưng cú sốc của cuộc tổng tấn công đã gây chấn động dữ dội tại Hoa Kỳ, khiến nước này từ đây chỉ nghĩ đến chuyện rút khỏi miền Nam. Xét theo ý nghĩa đó, cuộc tổng tấn công dịp Tết quả thực là bước ngoặt lớn của cuộc chiến.

Một chiến thắng chiến lược phần lớn nhờ yếu tố bất ngờ

Xét về mặt quân sự, cuộc tổng tấn công nghe như một thất bại của quân Bắc Việt. Khi tấn công vào các đô thị, phía họ hy vọng giành được một chiến thắng mang tính biểu tượng, chứng minh cho dân chúng thấy rằng quân đội Sài Gòn và người Mỹ dù có hỏa lực vượt trội vẫn không thể bảo vệ người dân. Họ cũng kỳ vọng rằng quần chúng miền Nam, đặc biệt là giới Phật tử sẽ ủng hộ họ. Một cuộc nổi dậy của quần chúng kết hợp với các đợt tấn công của lực lượng Bắc Việt có thể lật đổ chính quyền Sài Gòn và buộc người Mỹ phải rút ngay lập tức. Thực tế trên chiến trường, chiến thuật của cuộc tổng tiến công có nhiều lỗ hổng. Ông Giáp đã đánh giá không hết khả năng cơ động chiến thuật và chiến lược của quân đội Mỹ. Westmoreland có thể điều lực lượng lên biên giới trong giai đoạn nghi binh, đồng thời cho họ trở về thành phố rất nhanh trước và trong khi cuộc tấn công xảy ra. Kế hoạch của ông Giáp quá phức tạp, do đó các đơn vị khó lòng phối hợp ăn ý, đặc biệt là vì bí mật quá mức nên họ không có điều kiện diễn tập cho các đòn tấn công phối hợp. Dù có nhiều thắng lợi ban đầu, phía Bắc Việt lại không thể khai thác tiếp do không nắm được bức tranh tổng thể, việc tấn công ngày 30/1/1968 nổ ra sớm có lẽ do việc giữ bí mật và phối hợp chưa tốt. Nguyên tắc tập trung lực lượng cũng không được thực hiện đúng, quân của ông Giáp tấn công ở khắp nơi, giành được những thắng lợi ngoạn mục nhưng lại dễ bị phản công, chỉ trừ ở Sài Gòn và Huế – nơi lực lượng Bắc Việt tập trung quân lớn hơn. Cuối cùng, việc tấn công trực diện, trái với chiến thuật du kích vốn để tránh hỏa lực của Mỹ, đã khiến quân Bắc Việt trực tiếp đối đầu với sức mạnh hủy diệt của quân đội Hoa Kỳ. Một nhầm lẫn nghiêm trọng nữa, đó là đặt cược vào sự sụp đổ của Quân lực VNCH và vào việc quần chúng đứng lên cùng đấu tranh.

Chiến sĩ Giải phóng quân với súng trường và lựu đạn chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị – Thừa Thiên năm 1968. Nguồn: Getty Images

Hậu quả với quân đội Bắc Việt vô cùng nặng nề: hàng chục ngàn quân bị loại khỏi vòng chiến đấu hoặc tử trận. Đặc biệt là các đơn vị chủ lực của họ bị suy yếu, ngoại trừ một vài khu vực căn cứ như đồng bằng sông Cửu Long.

Phía Sài Gòn, dù nhanh chóng kiểm soát yếu tố bất ngờ nhưng quân đội vẫn chịu tổn thất: đến cuối tháng 3/1968, quân Mỹ và Quân lực VNCH cùng các lực lượng đồng mình khác cũng bị tổn thất lớn – hàng ngàn binh sĩ chết trận. Dù Quân lực VNCH vẫn trụ vững nhưng các đợt công kích đã phá tan kế hoạch bình định ở các vùng nông thôn. Tại thành phố, chẳng hạn như ở Sài Gòn, dân chúng cũng không còn thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ đối với chính quyền miền Nam nữa. Hơn nữa, cuộc tổng tấn công nổ ra ở thời điểm vô cùng hoàn hảo. Nó xảy ra ngay trước vòng bầu cử sơ bộ cho cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1968, và kết quả của cuộc tấn công khiến Johnson cùng các cố vấn tin rằng cuộc chiến chẳng thể nào thắng được. Cuộc tổng tiến công đã làm suy sụp ý chí của Tổng thống Mỹ và niềm tin của người dân Mỹ trước những tuyên bố của chính quyền Johnson.

Nếu quân Bắc Việt thất bại trên chiến trường thì chính phủ Hoa Kỳ lại đánh mất uy tín của mình trước dư luận Mỹ. Ở tầm chiến lược, cuộc tổng tấn công Tết thực chất là một chiến dịch đánh cược có tính toán, và họ đã giành được thắng lợi chính trị lớn giúp thay đổi hướng đi của cuộc chiến. Tuy nhiên, đã có rất nhiều dấu hiệu báo trước cho phía Mỹ rằng một cuộc tổng tấn công đang được chuẩn bị. Ông Võ Nguyên Giáp đã viết một số bài diễn văn đọc trên Đài phát thanh Hà Nội, sau đó được đăng lại trên các tờ báo thủ đô từ tháng 9/1967. Trong các bài viết này, ông khẳng định rằng việc Mỹ tập trung quân đông đảo ở miền Nam đã đặt chiến lược của Mỹ vào thế khó và giải thích cách quân Bắc Việt có thể tận dụng điểm yếu đó. Nhưng các nhà phân tích tình báo Mỹ lại phớt lờ những dấu hiệu báo trước này, hệt như cách họ tiếp tục hoạt động về sau. Ngày 16/10/1967 ở đồng bằng sông Cửu Long, Quân lực VNCH thu được một bản báo cáo dài ba trang của một chi bộ Đảng Cộng sản, trong đó xuất hiện cụm từ “chiến dịch Đông – Xuân” cùng những mô tả về quá trình chuẩn bị. Ngày 25/10 ở Tây Ninh, một tài liệu quan trọng khác cũng bị thu giữ. Văn bản đề ngày 1/9, trình bày cách đối phó với “tình hình mới và nhiệm vụ mới của chúng ta”. Văn bản mô tả một cuộc tấn công ba giai đoạn nhằm đánh bại Quân lực VNCH, phá hủy các cơ sở chính trị của Mỹ và thúc đẩy một cuộc nổi dậy toàn quốc. Tài liệu này còn gọi chiến dịch đó là “Tổng tấn công – Tổng khởi nghĩa”. Gần như cùng lúc, Quân lực VNCH còn thu giữ được các tài liệu liên quan đến huấn luyện đặc công và chống xe thiết giáp.

Những người biểu tình phản đối chiến tranh tại Việt Nam mang theo biểu ngữ, diễu hành từ Đại lộ số 5 về phía Công viên Trung tâm thành phố New York ngày 27/4/1968. Ảnh chụp bởi Dick Yarwood.

Trong hai tháng tiếp theo, nhiều tài liệu bị thu giữ tiếp tục xác nhận những dấu hiệu ban đầu đó. Một chỉ thị quân sự của Mặt trận B3, đơn vị phụ trách các hoạt động ở miền Trung Nam Việt Nam, bị thu giữ vào giữa tháng 11/1967. Văn kiện này nói về các cuộc tấn công phối hợp nhằm tiêu diệt Quân lực VNCH và nhấn mạnh sự cần thiết phải loại bỏ một đơn vị Mỹ để kéo các đơn vị khác tới khu vực phía tây Cao nguyên Trung phần. Ngày 19/11, lính Mỹ thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 327 bộ binh, thu giữ được tại tỉnh Quảng Tín một cuốn tài liệu 13 trang có tựa “Về việc thực hiện phản công tổng lực và tổng khởi nghĩa trong mùa đông 1967 và xuân – hè 1968”. Tài liệu này được dịch và chuyển đến các cơ quan tình báo Mỹ và Nam Việt Nam, rồi cả Cơ quan Tình báo Quốc phòng Hoa Kỳ (DIA). Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn thậm chí còn tiết lộ một phần nội dung cho báo chí. Ngày 25/11, một tài liệu khác bị thu giữ ở tỉnh Tây Ninh, đề ngày 1/9, đó là một cẩm nang huấn luyện liên quan đến chiến lược và mục tiêu của một chiến dịch tấn công mới. Ngoài những tài liệu này, người Mỹ còn biết rằng 20.000 quân đã được đưa vào Nam Việt Nam trong tháng 1/1968 và lưu lượng xe vận tải trên đường mòn Hồ Chí Minh tăng bất thường.

Như vậy, dù có rất nhiều nguồn tin tình báo như đã liệt kê, vậy tại sao quân Mỹ vẫn bất ngờ?

Sau chiến tranh, một số sĩ quan tình báo của Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV) cố biện minh rằng bộ chỉ huy Mỹ hoàn toàn nhận thấy sự thay đổi chiến lược của Bắc Việt, nhưng bị bất ngờ trước quy mô và mức độ phối hợp của cuộc tấn công. Thực tế, sự thất bại của tình báo Mỹ do nhiều nguyên nhân. Để phù hợp với chiến dịch truyền thông của Tổng thống Johnson – vốn nhằm thuyết phục dân Mỹ rằng chiến tranh sắp kết thúc thắng lợi – MACV liên tục giảm số lượng quân Bắc Việt. Con số ấy bị điều chỉnh đột ngột từ 300.000 xuống còn 235.000 vào tháng 12/1967. Phía chính quyền Sài Gòn cũng xem nhẹ các tài liệu thu giữ, cho rằng đó chỉ là “ý định” của phía cộng sản chứ không phản ánh năng lực thực tế. Tình báo Mỹ và chính quyền Sài Gòn đánh giá thấp đối phương, vì những dấu hiệu thu được đi ngược lại nhận định trước đó rằng phía cộng sản không thể mở một cuộc tổng tấn công trên toàn miền Nam. Tình báo không tin rằng Hà Nội sẵn sàng chấp nhận thương vong lớn để đánh chiếm các thành phố – nơi mà họ cũng không thể giữ nổi trước một cuộc phản công tức thì. Chính quyền Sài Gòn thậm chí còn cho rằng Bắc Việt đã quay lại giai đoạn đầu của chiến tranh cách mạng, mang tính phòng thủ nhiều hơn, sau các cuộc hành quân tìm và diệt quy mô lớn hồi đầu năm 1967 do Westmoreland chỉ huy (Cedar Falls và Junction City). Những chuyên viên phân tích nào tin rằng sẽ có một cuộc tấn công thì lại dự đoán nó còn xa, chứ không phải vào tháng 1/1968.

Một yếu tố quyết định khác: toàn bộ thông tin tình báo thu thập được không hề được tập hợp lại để hình thành một bức tranh tổng thể. Các cơ quan tình báo cạnh tranh lẫn nhau, không chia sẻ dữ liệu; điều này còn xảy ra ngay bên trong bộ phận tình báo quân sự của MACV. Theo Ronnie Ford, cuộc tranh luận mang tính quan liêu xoay quanh “bảng quân số đối phương” đã khiến người ta không thể tạo ra được bản tổng hợp và cũng không chú ý đủ đến hai câu hỏi cần thiết nhất: cuộc tấn công sẽ xảy ra ở đâu và khi nào. Thêm vào đó, các nguồn tin tình báo lại mâu thuẫn nhau: khi những dấu hiệu chuẩn bị tấn công được thu thập thì đồng thời cũng xuất hiện những tin cho thấy đối phương đang kiệt quệ và tinh thần suy sụp. James Wirtz nhấn mạnh rằng Bắc Việt đã làm MACV rối loạn bằng giai đoạn nghi binh, nhắm vào các khu vực biên giới, trong khi những dấu hiệu khác lại chỉ ra sự tập trung lực lượng quanh các đô thị. Khi trận Khe Sanh nổ ra ngày 21/1/1968, quân Mỹ lại tiếp tục điều lực lượng ra biên giới. Westmoreland không tin vào việc sẽ có một cuộc tổng tấn công trên toàn miền Nam: với ông, trọng tâm của cuộc tấn công vẫn là Khe Sanh, và có thể thêm các tỉnh phía bắc của miền Nam. Giống như các sĩ quan tình báo và các phân tích viên của những cơ quan khác, ông đã cố ghép các dấu hiệu thu được vào những gì ông dự đoán đối phương sẽ làm. Chính định kiến sẵn có này đã ngăn người Mỹ nhìn ra thông điệp thực sự ẩn sau những dấu hiệu ngồn ngộn. Họ tin vào giải thích thay thế được tạo ra bởi kế hoạch nghi binh của đối phương. Xét theo đó, yếu tố bất ngờ đã góp phần quan trọng vào chiến thắng chiến lược của Hà Nội, nhờ vào cú sốc khủng khiếp mà nó gây ra đối với dư luận Hoa Kỳ.■

Stephan Mantoux

Lê Hằng Nga (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN