Quan hệ đồng minh rạn nứt và vai trò mới của Canada

1. Liên minh Mỹ – Canada

Canada và Mỹ là hai quốc gia có mối quan hệ đồng minh sâu sắc, lâu dài và đa chiều với đường biên giới dài nhất thế giới cùng giá trị lịch sử cũng như giá trị dân chủ và lợi ích chiến lược tương đồng nhau. Từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, quan hệ hai nước từng trải qua không ít căng thẳng, nhưng kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II, hai quốc gia đã trở thành đồng minh chặt chẽ. Sự tương đồng về chính trị của Mỹ và Canada nằm ở việc cả hai đều thuộc các nền dân chủ tự do. Từ nền tảng đó, hai nước thường có đồng quan điểm đối ngoại khá rõ, như ủng hộ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đề cao hợp tác đa phương và liên minh, xem an ninh tập thể là lợi ích sống còn (được thể hiện trong các khối NATO, NORAD, Five Eyes) và cứng rắn hơn với các mối đe dọa từ những nước được coi là thách thức trật tự này như Nga hay Trung Quốc.

Trên phương diện kinh tế, Canada và Mỹ có sự gắn kết về năng lượng và công nghiệp ô tô là hai trụ cột nổi bật. Canada là nước có nguồn cung dầu thô lớn cho Mỹ (khoảng 60-62% lượng dầu thô nhập khẩu giai đoạn 2024-2025). Lượng dầu này chủ yếu được vận chuyển qua hệ thống đường ống tích hợp, nhiều bang của Mỹ phụ thuộc đáng kể vào các nhà máy lọc dầu này để xử lý dầu nặng từ Alberta, Canada và do vậy rất khó để thay thế quy trình trong thời gian ngắn. Chuỗi cung ứng ô tô của hai nước cũng có sự phụ thuộc chặt chẽ. Phần lớn xe được lắp ráp tại Canada và xuất sang Mỹ, trong quá trình đó linh kiện thường xuyên qua lại giữa hai nước trước khi thành sản phẩm cuối cùng. Ngoài ra, thương mại cũng chiếm tỷ trọng cao trong quan hệ kinh tế của hai nước với tổng kim ngạch hàng hóa và dịch vụ thường vượt 1.000 tỷ USD/năm. Canada mỗi năm xuất sang Mỹ khoảng 400 – 420 tỷ USD hàng hóa, còn Mỹ xuất sang Canada khoảng 270–350 tỷ USD. Dưới khung USMCA (Hiệp đinh Hoa Kỳ – Mexico – Canada) hai nền kinh tế liên kết thành một chuỗi cung ứng khu vực Bắc Mỹ gần như liền mạch giúp hàng hóa lưu chuyển thuận lợi qua biên giới. Dù các phát sinh căng thẳng thương mại vẫn hiện hữu, nhưng với mức độ hạ tầng và sản xuất hiện tại, hai bên sẽ khó có thể ngừng phụ thuộc nhau trong ngắn hạn.

Về quân sự, sau Thế chiến thứ II, hai quốc gia đã trở thành đồng minh chặt chẽ, cùng tham gia NATO và thiết lập Bộ Tư lệnh Phòng không Vũ trụ Bắc Mỹ (NORAD) giai đoạn 1957-1958 như một cơ chế quân sự song phương nhằm bảo vệ không phận và không gian Bắc Mỹ. Hiện nay NORAD vẫn là trụ cột của phòng thủ lục địa và đang được hiện đại hóa để đối phó với các thách thức mới như Nga, Trung Quốc, tên lửa siêu thanh và các mối đe dọa từ không gian. Trên thực địa, quân đội hai nước thường xuyên huấn luyện chung, phối hợp quản lý biên giới, chống khủng bố, chống buôn lậu ma túy, tìm kiếm cứu nạn và ứng phó thiên tai.

Dù có mối quan hệ đồng minh gắn bó nhiều thập kỷ, quan hệ Mỹ – Canada thời gian gần đây đã xuất hiện những rạn nứt rõ rệt. Việc chính quyền Donald Trump quay lại với những đường lối cứng rắn về thương mại và áp dụng chính sách thuế quan với cả các đồng minh thân cận đã làm gia tăng sự bất ổn, tạo sức ép trực tiếp lên mối quan hệ hai nước. Trong bối cảnh đó, Canada buộc phải thúc đẩy chiến lược đa dạng hóa đối tác và từng bước giảm mức độ lệ thuộc vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên, do hạ tầng kết nối và chuỗi cung ứng của hai quốc gia đã tích hợp sâu trong nhiều năm cho thấy việc “tách rời” trong một sớm một chiều sẽ không dễ dàng.

2. Mối quan hệ đồng minh đường ai nấy đi

Từ sau khi chính quyền Trump lên nắm quyền, khẩu hiệu “nước Mỹ trên hết” đã khiến đồng minh thân cận là Canada không còn được xem như một ngoại lệ trong chính sách thương mại và an ninh mới của Washington.

Trong giai đoạn 2025-2026, chính sách thuế quan của Hoa Kỳ được triển khai và khiến Canada chịu tác động mạnh ở các ngành then chốt. Washington với lập luận “vì an ninh quốc gia” đã tăng thuế thép và nhôm từ 25% lên 50% khiến các mặt hàng kim loại của Canada bị ảnh hưởng trực tiếp. Ngoài ra, dù Canada và Mexico nằm trong khuôn khổ USMCA nhưng các nước này vẫn bị tác động mạnh ở các lĩnh vực xương sống với lý do được Mỹ đưa ra là thâm hụt thương mại, vấn đề fentanyl, biên giới và bảo hộ sản xuất Mỹ. Trên các diễn đàn công khai, Tổng thống Trump nhiều lần dọa tăng thuế ô tô đến mức “về cơ bản sẽ khiến ngành sản xuất ô tô của Canada đóng cửa vĩnh viễn” và mô tả Canada là một trong những đối tác “khó làm việc nhất, nhất là những vấn đề liên quan đến Bắc Mỹ” đồng thời nhiều lần gắn câu chuyện thuế quan với các thông điệp chính trị rộng lớn hơn, như cáo buộc Canada lợi dụng Mỹ trong thương mại và gợi ý Canada nên trở thành bang thứ 51 của Mỹ để giảm áp lực thuế quan. Chính những chính sách mới này đã khiến mối quan hệ vốn được coi là đồng minh thân cận bậc nhất xuất hiện những vết nứt, và kéo theo sau đó là các đòn đáp trả thương mại và những vấn đề chính trị nhạy cảm.

Đối mặt với sức ép lớn từ chính sách của chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump, Canada đã phản ứng nhanh bằng việc áp thuế trả đũa 25% lên một số mặt hàng của Mỹ nhằm phát tín hiệu răn đe. Khi Thủ tướng Mark Carney thay thế ông Justin Trudeau, Canada chuyển sang cách tiếp cận “hạ nhiệt có tính toán” để ổn định lại nền kinh tế. Canada đã gỡ bỏ phần lớn các mức thuế trả đũa đối với hàng tiêu dùng và một số nhóm hàng rộng hơn, nhưng vẫn giữ biện pháp đáp trả ở các lĩnh vực then chốt như thép, nhôm và ô tô. Song song với đó, chính phủ cũng triển khai các gói hỗ trợ và tái cơ cấu đối với các ngành bị ảnh hưởng, đồng thời thúc đẩy xu hướng ưu tiên mua sắm nội địa để bảo vệ việc làm và năng lượng sản xuất trong nước. Về dài hạn, Canada đặt mục tiêu hướng tới đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và mở rộng hợp tác với các đối tác khác ngoài Mỹ, dù quá trình này khó tránh khỏi rủi ro và sức ép từ Hoa Kỳ.

Trước phát biểu của Tổng thống Trump về vấn đề coi Canada là một bang của Mỹ, chính phủ Canada đã bác bỏ và coi đây cùng với câu chuyện thuế quan là động lực để quốc gia này tăng năng lực tự chủ và giảm sự lệ thuộc vào Mỹ. Về phía người dân, các khảo sát cho thấy đa số phản đối mạnh và từ đó thúc đẩy những phản ứng xã hội rõ nét nổi bật như phong trào “Buy Canadian” hưởng ứng mua hàng nội địa, các chiến dịch kêu gọi bảo vệ chủ quyền, giảm thiện cảm với Mỹ và hạn chế du lịch sang Mỹ. Có thể thấy một điều, sức ép từ Washington không khiến Canada “ngả” hơn về phía Mỹ mà ngược lại đã vô tình kích hoạt tâm lý đoàn kết và khẳng định bản sắc quốc gia mạnh hơn trong lòng người dân.

Những kệ hàng bán rượu Whisky Mỹ trống trơn với biển hiệu “Hãy mua hàng Canada thay vì hàng Mỹ” tại một cửa hàng ở Vancouver, British Columbia, Canada ngày 10/3/2025. Nguồn: REUTERS/Jennifer Gauthier

Trong bối cảnh căng thẳng Mỹ-Canada leo thang, dù hai nước vốn được coi là đồng minh thân cận, Thủ tướng mới của Canada, ông Mark Carney, nổi lên là một người với đường lối cứng rắn và độc lập hơn trong cách tiếp cận với Washington. Điều này thể hiện rất rõ trong bài phát biểu của ông tại Hội nghị thường niên của Diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos (Thụy Sĩ) ngày 20/1/2026, khi ông thẳng thắn mô tả một thế giới đang đổi khác và Canada không thể tiếp tục dựa vào các chính sách cũ:

“… Gần đây hơn, các cường quốc đã bắt đầu sử dụng chính hội nhập kinh tế như một công cụ vũ khí hóa. Họ đã sử dụng thuế quan như đòn bẩy, cơ sở hạ tầng tài chính như phương tiện cưỡng ép, chuỗi cung ứng như những điểm yếu có thể bị khai thác. Không thể tiếp tục sống trong dối trá về lợi ích chung thông qua hội nhập. Khi hội nhập đã trở thành nguồn gốc của sự lệ thuộc, các thể chế đa phương mà các cường quốc tầm trung dựa vào, WTO, Liên Hợp Quốc, COP và chính kiến trúc giải quyết vấn đề tập thể đang bị đe dọa.

Hiệu quả là ngày càng nhiều quốc gia đi đến cùng một kết luận, họ cần phát triển mức độ tự chủ chiến lược lớn hơn trong các lĩnh vực năng lượng, lương thực, khoáng sản thiết yếu, tài chính và chuỗi cung ứng. Sự thôi thúc này là điều dễ hiểu. Một quốc gia không thể tự bảo đảm lương thực, nhiên liệu hay khả năng tự vệ thì có rất ít lựa chọn. Khi luật lệ không còn bảo vệ bạn, bạn buộc phải tự bảo vệ mình. Nhưng chúng ta cần nhìn thẳng vào điểm đến của con đường này.

… Canada là một trong những quốc gia đầu tiên nhận ra ý nghĩa của lời cảnh tỉnh này và từ đó buộc phải thay đổi một cách căn bản lập trường chiến lược của mình. Người dân Canada hiểu rằng những giả định thoải mái trước đây không còn nữa. Giả thuyết cho rằng vị trí địa lý và tư cách thành viên liên minh tự động bảo đảm thịnh vượng và an ninh sẽ không còn đúng nữa.

… Trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt giữa các cường quốc, các quốc gia ở khoảng giữa có một sự lựa chọn hoặc cạnh tranh với nhau để dành lấy sự ưu ái hoặc kết hợp lại để tạo ra một con đường thứ ba có sức ảnh hưởng thực sự.”

Phát biểu này cho thấy Canada đang nhìn lại quan hệ với Mỹ dưới một lăng kính khác: giảm dần sự phụ thuộc, tăng năng lực tự chủ và quan trọng nhất là không chấp nhận khuất phục trước sức ép, dù sức ép đó đến từ đối tác lớn nhất. Tinh thần ấy cũng bộc lộ rõ trong sự kiện căng thẳng quanh cây cầu Gordie Howe International Bridge nối Windsor (Canada) với Detroit (Mỹ). Hoa Kỳ dùng đòn bẩy thủ tục vận hành cửa khẩu để gây sức ép, dù Canada là bên tài trợ phần lớn dự án nhưng cây cầu chỉ có thể hoạt động khi phía Mỹ hoàn tất triển khai các bước cần thiết cho cửa khẩu nhập cảnh ở Detroit. Vì vậy, chính quyền Trump đã công khai trì hoãn mở cầu và đưa ra những yêu cầu về quyền lợi. Thủ tướng Carney đã có phản ứng đáp lại gay gắt, không chỉ vì đây là tuyến hạ tầng then chốt cho thương mại và chuỗi cung ứng khu vực, mà còn vì ông hiểu rằng một động thái “khóa cầu” sẽ không chỉ gây tổn hại cho Canada, mà rất có thể dội ngược mạnh vào chính nền kinh tế Mỹ, nhất là các ngành công nghiệp và hành lang vận tải phụ thuộc việc lưu chuyển qua biên giới.

Trong bối cảnh bị Mỹ sử dụng thuế quan để “nắn chỉnh” chính sách, chính phủ Canda đã đẩy mạnh đường lối theo ba hướng: quốc phòng tự chủ, đối ngoại đa dạng và liên kết các cường quốc tầm trung để chống cưỡng ép.

Về quốc phòng, Thủ tướng Mark Carney coi việc phụ thuộc quá sâu vào các quyết định của Mỹ là một sự rủi ro an ninh. Tháng 2/2026, ông Carney công bố Chính sách Quốc phòng đầu tiên của Canada với gói đầu tư 6,6 tỷ CAD và nhấn mạnh ưu tiên năng lực sản xuất quốc phòng nội địa, tăng tỷ trọng hợp đồng cho doanh nghiệp Canada và mở rộng xuất khẩu quốc phòng. Đồng thời, Chính phủ cũng theo đuổi mục tiêu nâng chi tiêu quốc phòng lên các ngưỡng cao hơn trong thập kỷ tới nhằm củng cố năng lực răn đe và “đứng vững” hơn trong các đàm phán với siêu cường. Cũng trong bài phát biểu tại Davos, ông nói: “… Đồng thời Canada đang nhanh chóng đa dạng hóa hoạt động kinh tế đối ngoại. Chúng tôi đã nhất trí thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Liên minh châu Âu bao gồm việc tham gia sáng kiến quốc phòng SAFE và các thỏa thuận mua sắm quốc phòng của châu Âu. Chúng tôi đã ký thêm 12 thỏa thuận khác về thương mại và an ninh trên bốn châu lục chỉ trong sáu tháng.Như vậy có thể thấy, Canada đã và đang hướng tới xây dựng nền quốc phòng trong nước và mở rộng đối tác nhằm đa dạng hóa nguồn mua sắm và tăng dư địa chiến lược thay vì chỉ phụ thuộc vào một trung tâm quyền lực duy nhất như trước kia.

Thủ tướng Canada Mark Carney phát biểu tại cuộc họp thường niên của Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, ngày 20/1/2026. Nguồn: Fabrice Coffrini/AFP

Về đối ngoại và thương mại, Carney cho biết Canada đang tăng tốc tìm kiếm các đối tác mới, điển hình là chuyến thăm tới Trung Quốc vào tháng 1/2026 với mục tiêu tái thiết lập kinh tế với việc Canada giảm rào cản với một phần xe điện Trung Quốc, đổi lại phía Trung Quốc hạ mạnh thuế canola của Canada với một số mặt hàng nông và hải sản, đồng thời mở các kênh hợp tác năng lượng đầu tư. Cũng trong thời gian ngắn, Thủ tướng Canada cũng thực hiện các chuyến công du nhằm mở rộng hợp tác, đàm phán các hiệp định thương mại tự do với Ấn Độ và các nước ASEAN tập trung vào năng lượng, công nghệ, AI và khoáng sản quan trọng. Song song với đó, Canada cũng củng cố trục với châu Âu để biến hợp tác an ninh quốc phòng trở nên rõ ràng hơn. Điểm nhấn chiến lược của Carney là ý tưởng các “cường quốc tầm trung” phải phối hợp linh hoạt theo từng liên minh để không trở thành đối tượng bị các siêu cường đem ra cưỡng ép kinh tế. Tinh thần liên kết này gắn với các công cụ chống cưỡng ép (như mô hình Anti-Coercion Instrument của EU) và cách hợp tác biến hóa trong các diễn đàn hiệp định như G7, APEC hay CPTPP với mục tiêu là tạo thêm “đòn bẩy tập thể” thay vì mỗi nước tự chịu đòn một mình.

3. Nhận định và dự đoán

Tổng thể, chuỗi động thái gần đây của chính phủ Canada đã cho thấy quốc gia này đang chủ động hơn trong quan hệ đồng minh với Mỹ. Không còn là mặc định an toàn như trước, những gì diễn ra dưới thời chính quyền Donald Trump đã tạo ra một sự đứt gãy niềm tin không chỉ đối với Canada mà còn là với các nước đồng minh khác. Tuy vậy sự đứt gãy này có thể sẽ khó hàn gắn kể cả khi Washington thay đổi chính quyền sau này. Canada đang dần nhận ra chiếc ô an ninh – kinh tế đang không còn vững chắc, do đó chính quyền Canada phải đưa ra những nước đi mới đó là giảm lệ thuộc vào hệ thống Hoa Kỳ, đa dạng hóa các đối tác, xây dựng năng lực tự chủ và tìm kiếm các kênh hợp tác thay thế.

Đáng chú ý, hướng đi này của Canada được một loạt các quốc tầm trung đồng cảm và sẵn sàng hợp tác, một số nước có thể kể đến như Úc, Đức, các nước Bắc Âu, Nam Phi, Hàn Quốc, Mexico… Lý do tạo nên sự gắn kết này đến từ việc nhiều nước cảm thấy Mỹ không còn trân trọng vai trò đồng minh theo cách truyền thống nên họ buộc phải tìm các đồng minh mới để giảm rủi ro trước sức ép từ cường quốc. Trong bối cảnh đó, khu vực nhạy cảm như Greenland và cạnh tranh Bắc Cực càng thể hiện rõ xu hướng “liên kết để tự vệ” của các cường quốc tầm trung. Có thể thấy đây là một sự cộng hưởng khi Mỹ càng dùng sức ép thì các đối tác và các nước từng là đồng minh càng có lý do để liên kết với Canada là quốc gia nắm vai trò mắt xích kết nối xu hướng này.

Tóm lại, Canada đang theo đuổi một chiến lược lớn, không chỉ là dần thoát khỏi cái ô bảo trợ của Mỹ mà còn muốn định hình một mạng lưới các cường quốc tầm trung để đối trọng với các siêu cường. Hoạt động đối ngoại hợp tác sâu rộng của Canada với EU, với các quốc gia khác cho thấy Canada là quốc gia dẫn dắt các cường quốc tầm trung hình thành một cực mới để đối phó với các cường quốc, trong đó có Mỹ.

Đây mới chỉ là đánh giá bước đầu, nhưng việc Canada có thực sự nổi lên thành một trung tâm mới như tham vọng đề ra hay không còn phụ thuộc nhiều vào nguồn lực nội tại, khả năng duy trì liên minh và cả cách Hoa Kỳ điều chỉnh chính sách sau này. Nhưng có thể thấy, xu thế ấy đang từng bước hình thành và Canada không còn chọn thế bị động mà đang chủ động tạo ra lối đi của riêng mình.■

Hạ Vân

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN