Tìm hiểu sức mạnh quân sự của Mỹ hiện nay trên toàn cầu

Khi nhắc đến Mỹ, người ta thường nghĩ đến vị thế cường quốc kinh tế hàng đầu. Tuy nhiên, sức mạnh của Mỹ không chỉ nằm ở quy mô kinh tế, mà còn được thể hiện rõ qua ưu thế quân sự vượt trội, đứng đầu thế giới. Một trong những yếu tố then chốt làm nên vị thế siêu cường đó là khả năng duy trì hiện diện quân sự thường trực trên phạm vi toàn cầu. Hệ thống căn cứ quân sự ở nước ngoài được xem là công cụ quan trọng giúp Washington bảo vệ lợi ích chiến lược, duy trì ảnh hưởng tại các khu vực trọng yếu và sẵn sàng can dự vào những điểm nóng an ninh quốc tế. Nói cách khác, mạng lưới căn cứ này không chỉ phục vụ mục tiêu phòng thủ, mà còn phản ánh vai trò trung tâm của Mỹ trong cấu trúc an ninh toàn cầu sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Chúng tôi xin phép điểm qua quy mô căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài, qua đó làm rõ mức độ hiện diện quân sự toàn cầu của Washington hiện nay.

Hiện nay, Mỹ duy trì mạng lưới căn cứ và căn cứ quân sự lớn nhất thế giới. Theo các dữ liệu công khai, Mỹ có ít nhất khoảng 128 căn cứ ở 55 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi một số ước tính rộng hơn cho rằng mạng lưới này gồm khoảng 750-800 địa điểm tại gần 80 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nếu tính theo số quốc gia, hiện diện căn cứ quân sự của Mỹ bao phủ khoảng 30-40% các nước trên thế giới. Các căn cứ này chiếm khoảng 70-85% tổng số căn cứ quân sự nước ngoài trên thế giới.

Sự hiện diện quân sự của Mỹ ở nước ngoài. Nguồn: “List of US Military Base Abroad, 1776-2021” (David Vine), Bộ Quốc phòng Mỹ (tháng 12/2025), Bộ Ngoại giao Mỹ (tháng 1/2025)

Dữ liệu quân số trong phần này được lấy từ Trung tâm Dữ liệu Nhân lực Quốc phòng Mỹ, gọi tắt là DMDC, thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ. Theo dữ liệu công khai đến ngày 31/12/2025 do USAFacts tổng hợp từ DMDC, các con số này chỉ phản ánh số nhân sự quân sự Mỹ được công bố và được phân công tại những địa điểm cụ thể. Dữ liệu không bao gồm lực lượng triển khai tạm thời, các nhiệm vụ khẩn cấp, những vị trí không được công bố, hoặc lực lượng đang hoạt động trên tàu chiến.

1. Châu Á – châu Úc

Tại châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ duy trì hiện diện quân sự rất lớn.

Tại Nhật Bản, Mỹ có khoảng 54.288 quân nhân, là nơi có quân số Mỹ ở nước ngoài lớn nhất. Mỹ hiện diện tại khoảng 15 căn cứ lớn, gồm Căn cứ Không quân Yokota, Kadena, Căn cứ Hải quân Yokosuka, Sasebo, Căn cứ Không quân Misawa, Căn cứ Không quân Thủy quân lục chiến Iwakuni và nhiều căn cứ ở Okinawa.

Tại Hàn Quốc, Mỹ có khoảng 23.495 quân nhân, chủ yếu để răn đe Triều Tiên. Các căn cứ chính gồm Trại Humphreys, Căn cứ Không quân Osan, Căn cứ Không quân Kunsan, Cụm đồn trú Yongsan-Casey và Cụm đồn trú Daegu.

Tại Guam, Mỹ có khoảng 6.929 quân nhân, với các căn cứ quan trọng như Căn cứ Không quân Andersen, Căn cứ Hải quân Guam và Trại Blaz.

Tại Philippines, Mỹ được tiếp cận 9 địa điểm quân sự theo Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Tăng cường (EDCA), nhưng các căn cứ này vẫn do Philippines kiểm soát.

Tại Singapore, Mỹ không có căn cứ riêng, nhưng có điểm hậu cần hải quân quan trọng ở Sembawang và được tiếp cận Căn cứ Hải quân Changi để ghé cảng, hậu cần và triển khai luân phiên.

Tại Úc, Mỹ luân phiên khoảng 2.500 lính thủy quân lục chiến và thủy thủ tới Darwin mỗi năm.

Tổng thể, quân số Mỹ tại khu vực châu Á – Úc được ước tính khoảng 95.000-105.000 người, gồm lực lượng thường trú, luân phiên, hậu cần, huấn luyện và tiếp cận quân sự theo thỏa thuận song phương.

2. Trung Đông

Nếu châu Á – Thái Bình Dương là khu vực trọng tâm trong cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc, thì Trung Đông lại là nơi Mỹ duy trì hiện diện quân sự lâu dài nhằm bảo vệ lợi ích năng lượng. Mỹ duy trì mạng lưới căn cứ và điểm hiện diện quân sự tại Qatar, Bahrain, Kuwait, UAE, Iraq, Syria, Ả Rập Xê-út, Jordan và Oman; ngoài ra, Mỹ cũng có một số căn cứ quân sự tại Israel, chủ yếu phục vụ phòng thủ tên lửa, cảnh báo sớm và hợp tác quân sự Mỹ-Israel.

Căn cứ lớn nhất của Mỹ tại Trung Đông là Căn cứ Không quân Al Udeid ở Qatar, nơi đặt sở chỉ huy tiền phương của CENTCOM.

Tại Bahrain, Mỹ có khoảng 3 căn cứ quân sự đáng chú ý, trong đó quan trọng nhất là Căn cứ Hỗ trợ Hải quân Bahrain, nơi đặt trụ sở Hạm đội 5 của Hải quân Mỹ.

Tại Kuwait, Mỹ có khoảng 4-6 căn cứ quân sự, gồm các căn cứ lớn như Trại Arifjan, Trại Buehring và Căn cứ Không quân Ali Al Salem.

Hình ảnh ghép từ ảnh vệ tinh cho thấy số lượng máy bay tại Căn cứ Không quân Al Udeid của Mỹ ở gần Doha, Qatar, đã tăng lên khi so sánh giữa ngày 17/1/2026 và ngày 1/2/2026. Ảnh: 2026 Planet Labs PBC/Reuters

Tại UAE, Mỹ có khoảng 2-3 căn cứ quân sự, nổi bật là Căn cứ Không quân Al Dhafra và cảng Jebel Ali, nơi tàu chiến Mỹ thường xuyên ghé hậu cần.

Tại Qatar, Mỹ có 1 căn cứ lớn chủ chốt, là Căn cứ Không quân Al Udeid, một trong những căn cứ không quân quan trọng nhất của Mỹ tại Trung Đông.

Tại Iraq, Mỹ hiện duy trì khoảng 2 căn cứ chính, thường được nhắc đến là Căn cứ Không quân Ain al-Asad và Căn cứ Không quân Erbil.

Tại Syria, số căn cứ của Mỹ biến động theo tình hình thực địa, từng có nhiều điểm triển khai ở Đông – Bắc Syria và khu vực al-Tanf, nhưng hiện nay quy mô đã được thu hẹp.

Tại Ả Rập Xê-út, Mỹ có khoảng 1-2 căn cứ/điểm hiện diện quân sự, nổi bật là Căn cứ Không quân Prince Sultan.

Tại Jordan, Mỹ có khoảng 2 căn cứ/điểm triển khai quan trọng, gồm Căn cứ Không quân Muwaffaq al-Salti và Tháp 22.

Tại Oman, Mỹ không có căn cứ thường trực lớn như ở Qatar hay Bahrain, nhưng có quyền tiếp cận khoảng 5-6 cảng và sân bay quân sự, phục vụ hậu cần và triển khai khi cần.

Tổng quân số Mỹ tại Trung Đông được ước tính khoảng 40.000-50.000 quân nhân, tùy thời điểm triển khai và tình hình an ninh khu vực.

3. Bắc Mỹ – Châu Mỹ La-tinh

Tại Canada, Mỹ không có căn cứ quân sự thường trực độc lập. Tuy nhiên, hai nước có hợp tác quốc phòng sâu thông qua NORAD, đặc biệt trong phòng không, cảnh báo sớm, giám sát không gian và bảo vệ Bắc Mỹ. Canada nên được xem là đồng minh phòng thủ tích hợp, không phải nơi Mỹ đặt căn cứ quân sự.

Tại Mexico, Mỹ không có căn cứ quân sự thường trực công khai mà hợp tác chủ yếu tập trung vào an ninh biên giới, chống ma túy, tình báo, huấn luyện và chống tội phạm xuyên quốc gia.

Tại Greenland, Mỹ có 1 căn cứ chiến lược quan trọng, là Căn cứ Không gian Pituffik, trước đây là Căn cứ Không quân Thule. Căn cứ này phục vụ cảnh báo sớm tên lửa, giám sát không gian và phòng thủ Bắc Mỹ.

Tại Cuba, Mỹ có 1 căn cứ quân sự lớn và nổi bật nhất, là Căn cứ Hải quân Vịnh Guantánamo. Đây là căn cứ hải quân lâu đời của Mỹ, nằm trên lãnh thổ Cuba nhưng do Mỹ kiểm soát theo thỏa thuận thuê đất lịch sử.

Tại Honduras, Mỹ có 1 điểm căn cứ quân sự quan trọng, thường được nhắc đến là Căn cứ Không quân Soto Cano.

Tại El Salvador, Mỹ có 1 điểm hợp tác an ninh, là Địa điểm An ninh Hợp tác Comalapa. Đây là điểm dùng để hỗ trợ hoạt động giám sát, chống tội phạm xuyên quốc gia và chống buôn ma túy trong khu vực.

Tại Aruba và Curaçao, Mỹ có 1 điểm hợp tác an ninh, thường gọi là Địa điểm An ninh Hợp tác Aruba-Curaçao. Đây là các điểm tiếp cận/hậu cần dùng sân bay và cơ sở sẵn có, phục vụ hoạt động giám sát khu vực Caribbean và Mỹ Latinh.

Tại Puerto Rico, do đây là lãnh thổ của Mỹ, Mỹ có nhiều cơ sở quân sự hơn so với các nước Mỹ Latinh. Nổi bật nhất là Pháo đài Buchanan, căn cứ Lục quân Mỹ tại khu vực San Juan-Guaynabo-Bayamón.

Tại Panama, Mỹ từng có hệ thống căn cứ rất lớn trong thời kỳ kiểm soát Kênh đào Panama, nhưng hiện nay không còn căn cứ quân sự thường trực lớn như trước. Sau khi Mỹ trao trả Kênh đào Panama và rút khỏi các căn cứ cũ, hiện diện quân sự Mỹ tại Panama chủ yếu chuyển sang hợp tác an ninh, huấn luyện và chống ma túy.

Tại Colombia, Mỹ không có căn cứ quân sự độc lập theo kiểu Guantánamo hay Al Udeid, nhưng có quyền tiếp cận và hợp tác quân sự sâu với một số căn cứ của Colombia. Những điểm này thường được mô tả là địa điểm hợp tác, huấn luyện, tình báo và chống ma túy, không phải căn cứ Mỹ do Mỹ kiểm soát trực tiếp.

Tại Peru, Ecuador, Paraguay và một số nước Mỹ Latinh khác, Mỹ có thể có các chương trình hợp tác quân sự, huấn luyện, luân phiên lực lượng hoặc tiếp cận tạm thời, nhưng không nên tính là căn cứ quân sự thường trực của Mỹ nếu dùng định nghĩa chặt.

Về quân số, quân Mỹ tại châu Mỹ thường không nhiều, khoảng vài nghìn quân thường trực. Nếu tính cả Puerto Rico, lực lượng dự bị, Vệ binh Quốc gia và các đợt triển khai tạm thời, tổng có thể lên khoảng từ 10.000 đến 20.000 quân.

4. Châu Phi

Tại Djibouti, Mỹ có 1 căn cứ quân sự lớn, là Trại Lemonnier. Đây là căn cứ quan trọng nhất của Mỹ tại châu Phi, phục vụ chống khủng bố, hậu cần, giám sát và hỗ trợ hoạt động ở Đông Phi. Quân số tại đây khoảng 4.000 người, gồm quân nhân, nhân viên dân sự và nhà thầu.

Tại Somalia, Mỹ có một số điểm triển khai quân sự, nổi bật là Sân bay quân sự Baledogle. Các điểm này chủ yếu phục vụ huấn luyện, tình báo và chống nhóm al-Shabaab. Quân số Mỹ tại Somalia khoảng 450 quân nhân.

Tại Kenya, Mỹ có một điểm hiện diện quan trọng là Trại Simba thuộc khu vực Vịnh Manda.

Tại Niger, Mỹ từng có các căn cứ như Căn cứ Không quân 101 ở Niamey và Căn cứ Không quân 201 ở Agadez, với khoảng 1.000 quân nhân. Tuy nhiên, Mỹ đã rút khỏi Niger năm 2024, nên hiện không còn tính là căn cứ thường trực.

Tại Chad và một số nước khác như Ghana, Senegal, Cameroon, Botswana, Gabon, Mỹ chủ yếu có hợp tác huấn luyện, hậu cần, chống khủng bố hoặc triển khai tạm thời, không phải căn cứ quân sự thường trực.

Tổng quân số Mỹ tại châu Phi khoảng 5.000-7.000.

5. Châu Âu

Trong khi hiện diện quân sự của Mỹ ở các châu lục khác chủ yếu phản ánh vai trò của Washington tại những điểm nóng chiến lược, thì các căn cứ quân sự Mỹ ở châu Âu lại mang ý nghĩa khác: đây là khu vực gắn liền với quá trình hình thành hệ thống đồng minh sau Thế chiến II và vai trò trung tâm của Mỹ trong NATO.

Vào ngày 01/05/2026, tuyên bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc thu hẹp triển khai quân sự tại Đức đã khiến vai trò của Mỹ ở châu Âu một lần nữa được chú ý. Lầu Năm Góc thông báo sẽ rút 5.000 binh sĩ khỏi Đức, trong khi ông Trump cho biết có thể cắt giảm sâu hơn.

Sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu là di sản từ Thế chiến II và Chiến tranh Lạnh, khi Washington vừa góp phần ổn định, tái thiết châu Âu, vừa duy trì lực lượng răn đe trước Liên Xô. Bộ Tư lệnh châu Âu của Mỹ, thành lập năm 1947, hiện phụ trách khoảng 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng thời phối hợp với NATO thông qua các lực lượng lục quân, hải quân, không quân, thủy quân lục chiến, tác chiến đặc biệt và không gian.

Theo dữ liệu từ Trung tâm Dữ liệu Nhân lực Quốc phòng thuộc Lầu Năm Góc, tính đến tháng 12/2025, Mỹ có khoảng 68.064 quân nhân tại ngũ ở châu Âu, triển khai tại 31 căn cứ thường trực và 19 căn cứ quân sự.

Đức là nơi có lực lượng Mỹ lớn nhất châu Âu, với 36.436 quân nhân tại 5 khu đồn trú, trong đó căn cứ quan trọng nhất là Căn cứ Không quân Ramstein. Anh có 10.156 quân nhân tại 3 căn cứ, chủ yếu là không quân. Ý tiếp nhận 12.662 quân nhân tại các căn cứ ở Vicenza, Căn cứ Không quân Aviano, Naples/Napoli và đảo Sicily. Tây Ban Nha có 3.814 quân nhân, tập trung tại các căn cứ hải quân và không quân gần eo biển Gibraltar.

Ở sườn phía đông NATO, Ba Lan có 369 quân nhân thường trực và khoảng 10.000 quân luân phiên, đóng tại 4 căn cứ. Romania có 153 quân nhân thường trực cùng lực lượng luân phiên tại các căn cứ như Căn cứ Không quân Mihail Kogălniceanu, Căn cứ Không quân Câmpia Turzii và căn cứ phòng thủ tên lửa Deveselu. Hungary có 77 quân nhân thường trực tại 2 căn cứ, gồm Căn cứ Không quân Kecskemét và Căn cứ Không quân Pápa.

Việc tăng hoặc giảm quân Mỹ tại châu Âu do Tổng thống và Bộ Quốc phòng quyết định, nhưng Quốc hội có thể can thiệp thông qua luật và ngân sách. Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng (NDAA) năm 2026 có điều khoản cấm giảm vĩnh viễn quân số Mỹ tại châu Âu xuống dưới 75.000. Dù ra đời từ nhu cầu an ninh châu Âu, mạng lưới căn cứ này hiện còn phục vụ rộng hơn cho chiến lược quân sự và chính sách đối ngoại toàn cầu của Mỹ.

Theo số liệu của Overseas Base, việc duy trì mạng lưới căn cứ và lực lượng quân sự Mỹ ở nước ngoài tiêu tốn hàng chục tỷ USD mỗi năm. Riêng chi phí xây dựng và duy trì các căn cứ ở nước ngoài được ước tính khoảng 65 tỷ USD/năm. Nếu cộng thêm chi phí cho nhân sự quân sự Mỹ đồn trú ở nước ngoài, tổng chi tiêu cho các căn cứ và lực lượng ở nước ngoài có thể lên tới từ 94 tỷ USD/năm trở lên. Ngoài ra, theo nguồn này, chi phí bổ sung để bố trí một quân nhân ở nước ngoài so với trong nước vào khoảng 10.000-40.000 USD/người/năm. Từ năm 2000 đến nay, riêng chi tiêu cho xây dựng quân sự của Mỹ ở nước ngoài đã đạt khoảng 82-100 tỷ USD hoặc hơn.

Dù vậy, đây chỉ là con số ước tính, vì ngân sách quốc phòng Mỹ không có một mục riêng cho toàn bộ hệ thống căn cứ ở nước ngoài. Các khoản chi này nằm rải rác trong nhiều hạng mục của Lầu Năm Góc. Mạng lưới căn cứ toàn cầu giúp Mỹ triển khai lực lượng nhanh, bảo vệ đồng minh và duy trì ảnh hưởng chiến lược, nhưng cũng làm gia tăng gánh nặng ngân sách và khiến Washington dễ bị cuốn vào các điểm nóng khu vực.

Việc Mỹ dưới thời Donald Trump thúc đẩy rút bớt quân khỏi một số quốc gia đồng minh không nhất thiết đồng nghĩa với việc Washington “xa rời đồng minh” hay từ bỏ vai trò làm “chiếc ô an ninh” bảo vệ. Trong nhiều trường hợp, Mỹ có thể giảm số binh sĩ thường trực, nhưng vẫn duy trì căn cứ, cơ sở hậu cần, quyền tiếp cận quân sự, hệ thống chỉ huy và khả năng triển khai lực lượng trở lại khi cần. Vì vậy, sự thay đổi này có thể được hiểu là điều chỉnh cách hiện diện, hơn là rút lui hoàn toàn khỏi các cam kết an ninh.

Dù ông Trump nhiều lần chỉ trích các đồng minh NATO vì phụ thuộc quá lớn vào Washington và chưa đáp ứng mức chi tiêu quốc phòng cần thiết, Mỹ vẫn khó có thể tách rời châu Âu về mặt chiến lược. Đức và khu vực này tiếp tục đóng vai trò như tiền tuyến giúp Mỹ kiềm chế Nga, duy trì vùng an ninh và hạn chế nguy cơ phải đối đầu trực tiếp với Moscow. Từ thời Chiến tranh Lạnh, Washington đã triển khai lực lượng tại châu Âu nhằm ngăn Liên Xô mở rộng ảnh hưởng, đồng thời bảo vệ các đồng minh NATO. Ngày nay, hệ thống căn cứ của Mỹ tại Đức, Ý, Anh và Ba Lan không chỉ phục vụ nhiệm vụ phòng thủ lục địa này, mà còn là các trung tâm hậu cần, chỉ huy, vận tải và triển khai lực lượng cho những chiến dịch ở Trung Đông, châu Phi và nhiều khu vực khác.

Việc Mỹ rút bớt quân khỏi một số quốc gia đồng minh không đồng nghĩa với việc Washington từ bỏ vai trò an ninh của mình. Đây là sự điều chỉnh trong cách hiện diện quân sự: giảm bớt lực lượng thường trực, nhưng vẫn duy trì căn cứ, cơ sở hậu cần, quyền tiếp cận quân sự và khả năng triển khai trở lại khi cần. Chừng nào Mỹ còn giữ vai trò chỉ huy trong NATO và mạng lưới căn cứ tại châu Âu, Washington vẫn là một trụ cột quan trọng trong cấu trúc an ninh của khu vực.

Thứ nhất, Mỹ đặt căn cứ quân sự tại nhiều quốc gia khác có thể khiến các nước sở tại ngày càng lệ thuộc vào Mỹ về mặt an ninh. Khi dựa vào sự bảo vệ quân sự của Washington, các quốc gia này có thể giảm khả năng tự chủ trong chính sách quốc phòng và phải cân nhắc lợi ích của Mỹ trong các quyết định chiến lược của mình. Sự hiện diện lâu dài của quân đội Mỹ cũng giúp Washington duy trì ảnh hưởng chính trị, kiểm soát phần nào định hướng an ninh khu vực và tạo ra sức ép đối với các nước đồng minh.

Thứ hai, việc Mỹ đổi cách gọi Bộ Quốc phòng thành Bộ Chiến tranh dưới thời Donald Trump cho thấy xu hướng đề cao sức mạnh quân sự và tư duy sẵn sàng đối đầu trong chính sách an ninh của Washington. Cách gọi này thể hiện rằng Mỹ không chỉ nhấn mạnh vai trò phòng thủ, mà còn muốn khẳng định khả năng sử dụng sức mạnh quân sự khi lợi ích, an ninh hoặc vị thế toàn cầu của mình bị đe dọa. Trong bối cảnh đó, các căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài được xem như những bàn đạp chiến lược, giúp Washington triển khai lực lượng nhanh chóng, kiềm chế, răn đe và gây sức ép đối với các quốc gia mà Mỹ coi là đối trọng, như Trung Quốc, Nga, Triều Tiên, Iran và Cuba.

Xu hướng này còn thể hiện qua đề xuất ngân sách quốc phòng tài khóa 2027 của chính quyền Trump. Theo tài liệu “Fiscal Year 2027 Topline Fact Sheet” (Tờ thông tin tóm tắt ngân sách tài khóa năm 2027) do Nhà Trắng công bố tháng 4/2026, Washington đề xuất khoảng 1.500 tỷ USD cho tổng nguồn lực quốc phòng năm 2027, tăng 445 tỷ USD, tương đương 42% so với mức năm 2026. Điều này cho thấy Mỹ đang tiếp tục mở rộng năng lực quân sự nhằm duy trì ưu thế và sẵn sàng can dự vào các điểm nóng quốc tế.

Lửa và khói bốc lên ở khu công nghiệp dầu mỏ Fujairah của UAE sau cuộc tấn công bằng drone của Iran ngày 4/3/2026, là minh chứng cho bài toán an ninh mà các quốc gia Vùng Vịnh cho Mỹ đặt căn cứ quân sự phải đối mặt. Ảnh: Reuters.

Nếu so sánh căn cứ quân sự ở nước ngoài, Mỹ vượt xa Trung Quốc và Nga về quy mô hiện diện toàn cầu. Mỹ có mạng lưới căn cứ và điểm triển khai quân sự trải dài ở nhiều khu vực chiến lược như châu Âu, châu Á, Trung Đông và châu Phi.

Trong khi đó, Trung Quốc hiện chỉ có một căn cứ quân sự hải ngoại được thừa nhận rõ ràng, đó là căn cứ hỗ trợ quân sự tại Djibouti, nằm gần eo biển Bab el-Mandeb, một vị trí rất quan trọng nối Biển Đỏ với Ấn Độ Dương. Căn cứ này giúp Trung Quốc bảo vệ tuyến hàng hải, hỗ trợ hoạt động chống cướp biển, sơ tán công dân và mở rộng hiện diện tại châu Phi – Trung Đông.

Ngoài Djibouti, Trung Quốc còn bị nghi có quyền tiếp cận quân sự tại một số địa điểm khác, đáng chú ý là căn cứ hải quân Ream ở Campuchia, nhưng Bắc Kinh và Phnom Penh không công nhận đây là căn cứ quân sự Trung Quốc chính thức.

Còn Nga có nhiều căn cứ quân sự ở nước ngoài hơn Trung Quốc, nhưng quy mô và phạm vi nhỏ hơn Mỹ rất nhiều. Các căn cứ và lực lượng Nga chủ yếu tập trung tại khu vực hậu Xô Viết, đồng thời mở rộng tới Trung Đông và Bắc Phi. Nga có lực lượng quân sự tại Armenia, Belarus, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Moldova/Transnistria, Abkhazia và Nam Ossetia. Ở Trung Đông, Nga duy trì hai căn cứ quan trọng tại Syria, gồm căn cứ hải quân Tartus và căn cứ không quân Hmeimim. Ngoài ra, Moscow còn có ảnh hưởng quân sự hoặc điểm tựa an ninh tại Libya, Sudan và một số nước châu Phi. Đáng chú ý, Nga đang thúc đẩy kế hoạch lập căn cứ hải quân tại Cảng Sudan trên Biển Đỏ, một dự án được Sudan xác nhận tiếp tục triển khai vào năm 2025.

Mạng lưới căn cứ quân sự ở nước ngoài là một trong những công cụ quan trọng nhất để các cường quốc thực hiện chiến lược toàn cầu, đặc biệt là Mỹ, để họ duy trì vị thế bá chủ toàn cầu. Hệ thống này để Washington bảo vệ đồng minh, kiểm soát các tuyến hàng hải quan trọng, răn đe đối thủ và can dự nhanh vào các điểm nóng quốc tế. Tuy nhiên, sự hiện diện quân sự rộng lớn ấy cũng đặt ra nhiều vấn đề, từ gánh nặng ngân sách, sự phụ thuộc an ninh của các nước sở tại, cho đến nguy cơ Mỹ bị cuốn sâu hơn vào các xung đột khu vực, khiến họ trở thành mục tiêu tấn công của đối phương, chiếc ô an ninh của Mỹ bị bất lực, lợi ích quốc gia bị tàn phá. Đây đang là bài toán đối với các quốc gia cho Mỹ đặt căn cứ quân sự – đó là các nước Vùng Vịnh trong cuộc chiến giữa Mỹ – Israel với Iran diễn ra đầu năm 2026 là một minh chứng lịch sử.

Từ những số liệu trên, có thể thấy Mỹ không chỉ là một cường quốc kinh tế mà còn là một cường quốc quân sự hàng đầu thế giới. Thứ nhất, Mỹ duy trì sức mạnh quân sự nhằm bảo vệ vị trí của mình trong trật tự quốc tế, kiểm soát các khu vực có ý nghĩa chiến lược và ngăn chặn những nguy cơ có thể đe dọa đến an ninh, lợi ích quốc gia. Bên cạnh đó, chính sách quân sự của Mỹ cũng phục vụ lợi ích của các nhóm quyền lực trong nước, đặc biệt là các nhóm gắn với lĩnh vực quân sự, công nghệ. Vì vậy, hệ thống căn cứ quân sự toàn cầu trở thành công cụ quan trọng giúp Mỹ bảo vệ các mục tiêu chiến lược và duy trì ảnh hưởng địa chính trị tại nhiều khu vực trọng yếu.

Thứ hai, trong thời đại hiện nay, vai trò quyền lực của Mỹ đã bị suy giảm đáng kể, Mỹ không thể tiếp tục sử dụng các biện pháp kinh tế hay ngoại giao để gây sức ép, Mỹ buộc phải tăng cường sử dụng sức mạnh quân sự nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì ảnh hưởng chiến lược. Học thuyết Trump dựa trên quan điểm “hòa bình thông qua sức mạnh”, điều này cho thấy việc Mỹ đổi tên từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Chiến tranh về cơ bản không làm thay đổi bản chất chính sách, mà phản ánh rõ hơn định hướng chiến lược đang được triển khai trong giai đoạn hiện nay. Đó là nỗ lực khôi phục các vị trí chiến lược địa chính trị mà Mỹ suy giảm ảnh hưởng, đồng thời tăng cường khả năng đối phó với sự phát triển của Nga và Trung Quốc.

Dưới thời Trump, Mỹ duy trì khoảng 19 căn cứ quân sự tại Trung Đông, trong đó có 8 căn cứ thường trực, khoảng 40.000 đến 50.000 quân nhân, một sự hiện diện quân sự cho thấy năng lực triển khai lực lượng rất lớn. Thế nhưng, chính sức mạnh quân sự với những căn cứ đó lại cho thấy dấu hiệu suy giảm đáng kể, đặc biệt qua cuộc chiến mà Mỹ cùng Israel tiến hành nhằm vào Iran. Dù Iran chỉ có quy mô và tiềm lực quân sự hạn chế hơn nhiều so với Mỹ, nhưng ưu thế vượt trội về quân sự, các căn cứ nước ngoài của Mỹ vẫn không thể tạo ra một chiến thắng nhanh chóng, càng không thể khiến Iran sụp đổ như Mỹ tính toán ban đầu. Iran là một phép thử đối với sức mạnh quân sự của Mỹ. Thế giới đã nhận thấy sự suy yếu nghiêm trọng về khả năng tác chiến của quân đội Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump.■

Phương Huyền

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN