Bài toán tự chủ trong hệ thống giáo dục công lập
Giáo dục Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường hội nhập quốc tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Sau nhiều thập kỷ mở rộng quy mô, hệ thống giáo dục quốc dân đã phát triển mạnh ở hầu hết các cấp học, từ mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đến đại học. Đến năm 2025, cả nước có khoảng 26 triệu học sinh, sinh viên; 1,6 triệu nhà giáo, cán bộ quản lý và hơn 50.000 cơ sở giáo dục. Riêng bậc đại học có 238 cơ sở, gồm 140 trường công lập và 98 trường ngoài công lập.
Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn chưa đồng đều. Trong khi khối ngoài công lập (như Tập đoàn Nguyễn Hoàng, Vingroup, FPT) bứt phá mạnh mẽ nhờ cơ chế quản trị linh hoạt, chủ động về tài chính, nhân sự và chương trình đào tạo, thì nhiều trường công lập vẫn bị ràng buộc bởi các rào cản hành chính cứng nhắc. Đơn cử tại Hà Nội, Trường THPT Lê Lợi thiếu thốn cơ sở vật chất, hay Trường THPT Phan Huy Chú có vốn xã hội hóa nhưng lại gặp khó trong việc tự quyết đầu tư. Dù giữ vai trò trụ cột về công bằng giáo dục, khối công lập sẽ khó bứt phá nếu thiếu đi quyền tự chủ tương xứng. Do đó, cải cách giáo dục không thể chỉ xoay quanh sách giáo khoa hay thi cử, mà phải đổi mới toàn diện cơ chế vận hành, lấy tự chủ giáo dục làm trụ cột để nâng tầm chất lượng.
Trường Đại học Tôn Đức Thắng là một trường hợp đáng chú ý khi bàn về tự chủ đại học. Năm 2003, Trường Đại học Công nghệ Dân lập Tôn Đức Thắng được chuyển thành Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng, trực thuộc UBND TP.Hồ Chí Minh, đến năm 2008, trường đổi tên thành Trường Đại học Tôn Đức Thắng và chuyển về trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 77/NQ-CP năm 2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của trường giai đoạn 2015–2017 theo Quyết định 158/QĐ-TTg ngày 29/1/2015. Từ đó, Đại học Tôn Đức Thắng được xem là một mô hình tự chủ nổi bật. Trường không nhận chi thường xuyên và chi đầu tư từ ngân sách nhà nước hay Công đoàn; đến cuối năm 2018 đã tạo dựng hơn 2.200 tỷ đồng tài sản đầu tư trên mặt đất, sở hữu hơn 100 ha quỹ đất với 6 cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Toàn bộ nguồn vốn đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và nghiên cứu đều do trường tự tích lũy từ quá trình hoạt động.

Mặt khác, Đại học Tôn Đức Thắng cũng cho thấy tự chủ nếu thiếu hành lang pháp lý rõ ràng, giám sát minh bạch và quan hệ rành mạch với cơ quan chủ quản thì dễ phát sinh xung đột. Năm 2020, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã cách chức Hiệu trưởng Lê Vinh Danh sau khi kiểm tra, kết luận vi phạm nghiêm trọng về thẩm quyền điều hành giữa Đảng và lãnh đạo chuyên môn. Tuy nhiên, cơ quan này vẫn đánh giá cao nỗ lực tự chủ và các thành quả mà nhà trường đã đạt được. Sau đó, ông Danh khiếu nại, khởi kiện, nhưng TAND TP. Hồ Chí Minh đình chỉ vụ án vì cho rằng đây là quan hệ nội bộ giữa viên chức và cơ quan quản lý, không thuộc thẩm quyền của tòa án. Thực tiễn cho thấy, nếu cơ quan chủ quản vẫn giữ tư duy bao cấp và can thiệp sâu vào quyền tự quyết của Hội đồng trường, nhà trường sẽ đối mặt với hai hệ lụy: hoặc lùi bước về mô hình hành chính – sự nghiệp kiểu cũ (nếu cơ quan chủ quản đủ tài chính để tài trợ nhằm bảo đảm quyền chủ quản của mình), hoặc nhanh chóng suy thoái và đánh mất mọi thành tựu đã đạt được.
Từ quản lý hành chính sang quản trị giáo dục hiện đại
Để tháo gỡ các điểm nghẽn này, Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã tạo cơ sở chính trị vững chắc thông qua định hướng chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính đơn thuần sang tư duy kiến tạo phát triển và quản trị hiện đại. Điểm đột phá của Nghị quyết là tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của tổ chức đảng, nhất là vai trò người đứng đầu cấp uỷ trong các cơ sở giáo dục; không tổ chức Hội đồng trường trong các cơ sở giáo dục công lập (trừ các trường công lập có thoả thuận quốc tế); thực hiện Bí thư cấp uỷ kiêm người đứng đầu cơ sở giáo dục. Văn kiện cũng nhấn mạnh việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực; tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục đi đôi với kiểm tra, giám sát hiệu quả; giảm đầu mối cơ quan quản lý đối với các cơ sở giáo dục. Đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, Nghị quyết nêu rõ yêu cầu bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính; đồng thời giao các cơ sở giáo dục quyền tự quyết trong tuyển dụng, thuê giảng viên, bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý đối với người giỏi từ nước ngoài.
Tự chủ giáo dục không nên bị đánh đồng với việc cắt giảm ngân sách hay buộc các trường công lập phải tăng học phí để tồn tại. Bản chất của cải cách này là trao quyền tự quyết toàn diện về chuyên môn, nhân sự và tài chính cho nhà trường, gắn liền với trách nhiệm giải trình minh bạch. Trong mô hình này, Nhà nước chuyển từ can thiệp vi mô sang định hướng chiến lược, bảo đảm công bằng thông qua việc đầu tư trọng điểm vào ba nhóm: cơ sở đạt chuẩn kiểm định, ngành học thiết yếu và các vùng khó khăn. Cơ chế mới kiến tạo một sân chơi bình đẳng, giúp các trường thuận lợi thu hút nhân tài và nguồn vốn xã hội, đồng thời tạo động lực để các cơ sở uy tín không ngừng vươn lên, từng bước tiến tới tự chủ hoàn toàn như mô hình tự chủ thí điểm của Trường Đại học Tôn Đức Thắng. Đích đến cuối cùng của sự chuyển dịch này chính là bảo đảm quyền thụ hưởng một nền giáo dục công bằng và chất lượng cho mọi học sinh, sinh viên.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tự chủ giáo dục không đồng nghĩa với việc Nhà nước rút khỏi hệ thống công lập, mà là thay đổi cách quản lý từ can thiệp trực tiếp sang giám sát bằng chuẩn mực và kết quả. Ở nhiều nước, các trường công lập vẫn thuộc khu vực công, vẫn nhận tài trợ hoặc chịu sự quản lý của Nhà nước, nhưng được trao quyền rộng hơn về học thuật, tuyển dụng, tài chính, nghiên cứu và hợp tác quốc tế. Chẳng hạn, Pháp và New Zealand áp dụng mô hình bán tự chủ, trong đó nhà trường được quyết định một phần các hoạt động chuyên môn và quản trị nhưng vẫn chịu sự ràng buộc lớn từ cơ quan quản lý. Singapore lại phát triển theo mô hình bán độc lập, trao cho các trường quyền chủ động cao hơn về chiến lược, tổ chức, nhân sự và tài chính, song vẫn đặt trong khuôn khổ kiểm định, tài trợ và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Đây là kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo: trường công lập không nên tiếp tục vận hành như một đơn vị hành chính thụ động, mà cần trở thành trung tâm sáng tạo, đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và kết nối xã hội, trong khi Nhà nước tập trung đặt chuẩn, phân bổ nguồn lực theo hiệu quả, kiểm định chất lượng và bảo đảm công bằng tiếp cận giáo dục.
Giải pháp phát huy quyền tự chủ giáo dục
Thứ nhất, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về tự chủ giáo dục theo hướng rõ quyền, rõ trách nhiệm và rõ cơ chế giám sát. Chính phủ cần có quyết sách cụ thể để bảo đảm người đứng đầu nhà trường được thực hiện đầy đủ thẩm quyền trong các vấn đề về nhân sự, tài chính, tài sản và định hướng phát triển, trên cơ sở tuân thủ chủ trương của Đảng và quy định của pháp luật. Điều này nhằm khắc phục tình trạng cơ quan chủ quản can thiệp trực tiếp vào những quyền hạn hợp pháp của nhà trường, làm giảm tính chủ động và hiệu quả quản trị. Cùng với đó, hệ thống tiêu chí đánh giá cơ sở giáo dục phải được hoàn thiện để việc phân bổ nguồn lực gắn với chất lượng và hiệu quả thực tế. Các trường cũng nên được trao thêm quyền tự chủ trong đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất và mua sắm thiết bị, đi đôi với cơ chế báo cáo, công khai và giải trình minh bạch. Bên cạnh đó, chính sách ưu đãi thuế và hợp tác công – tư cũng cần được hoàn thiện để các trường có thể huy động nguồn lực xã hội một cách hợp pháp, minh bạch và bền vững.

Thứ hai, các cơ sở giáo dục phải nhận thức rằng tự chủ không chỉ là quyền được quyết định, mà còn là trách nhiệm trước người học, xã hội và Nhà nước. Khi được trao quyền chủ động về tổ chức bộ máy, học thuật, nhân sự và tài chính, nhà trường buộc phải đổi mới tư duy quản trị, nâng cao tính minh bạch trong vận hành và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực. Tự chủ chỉ có ý nghĩa khi đi kèm với chất lượng thực chất, được thể hiện qua kết quả đào tạo, năng lực nghiên cứu, khả năng kết nối với doanh nghiệp và mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Niềm tin của người học, phụ huynh, doanh nghiệp và nhà đầu tư chỉ được củng cố khi các cơ sở giáo dục chứng minh được hiệu quả hoạt động bằng những kết quả cụ thể. Vì vậy, gắn tự chủ với trách nhiệm giải trình chính là điều kiện quan trọng để giáo dục Việt Nam nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực và tăng sức cạnh tranh trong giai đoạn phát triển mới.
Thứ ba, thực tiễn cho thấy ở một số trường công lập và các trường dân lập đã thành công trong mô hình tự chủ – thì người Hiệu trưởng có vai trò rất quan trọng. Họ là người có kinh nghiệm và tầm nhìn về giáo dục đào tạo, có khả năng quản trị tốt, quản lý tốt và có khát vọng cống hiến, tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước. Để có được những nhân sự như vậy thì Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo có vai trò quyết định. Chính phủ cần rà soát, đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo hiện nay của các trường công lập, đặc biệt đối với chức danh Hiệu trưởng – đồng thời tổng kết mô hình của Trường Đại học Tôn Đức Thắng – nơi Chính phủ cho thực hiện thí điểm từ năm 2015. Qua đó làm rõ tiêu chí đối với chức danh Hiệu trưởng một trường công lập. Đó là cơ sở để Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo tuyển chọn và bổ nhiệm những nhân sự đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo hiện nay đối với các trường công lập.
Nhìn từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm quốc tế, có thể thấy các trường công lập không nhất thiết phải vận hành như những đơn vị hành chính phụ thuộc, mà có thể trở thành các trung tâm sáng tạo, nghiên cứu, đào tạo nhân lực và kết nối xã hội nếu được trao quyền phù hợp. Tự chủ không làm suy yếu vai trò của Nhà nước, mà giúp Nhà nước chuyển sang vai trò đúng hơn: hoạch định chiến lược, bảo đảm công bằng, phân bổ nguồn lực theo hiệu quả và giám sát chất lượng. Trong bối cảnh Việt Nam cần nguồn nhân lực chất lượng cao để cạnh tranh và hội nhập, việc đẩy mạnh tự chủ giáo dục không chỉ là yêu cầu cải cách nội bộ ngành giáo dục, mà còn là điều kiện quan trọng cho phát triển quốc gia.■
Hiển Minh