Đối ngoại trong kỷ nguyên mới: Từ quan hệ tốt đẹp đến sức mạnh phát triển quốc gia

Trong nhiều năm qua, đối ngoại luôn là một bộ phận cấu thành quan trọng trong đường lối cách mạng Việt Nam. Từ thời kỳ đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước cho đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, công tác đối ngoại đã góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, mở rộng hợp tác và nâng cao vị thế quốc gia. Tuy nhiên, khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn, tốc độ nhanh hơn và sức ép cạnh tranh gay gắt hơn, vai trò của đối ngoại buộc phải chuyển mình, không thể bó hẹp trong những tư duy cũ.

Tại Hội nghị toàn quốc ngày 11/6/2026 về triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu chỉ đạo mang tính định hướng sâu sắc. Điểm nhấn cốt lõi, nổi bật trong bài phát biểu tư duy toàn diện về đối ngoại. Giờ đây, công tác đối ngoại không đơn thuần là công cụ phục vụ phát triển kinh tế hay duy trì các mối quan hệ quốc tế, mà đã vươn lên thành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, gắn trực tiếp với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng tại Hà Nội, ngày 11/6/2026. Ảnh: Phương Hoa/TTXVN

Tính chất “mới” ở đây không không đồng nghĩa với việc đến nay Việt Nam mới coi trọng đối ngoại. Ngược lại, công tác đối ngoại luôn được Đảng và Nhà nước xác định là mặt trận chiến lược. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, đối ngoại đã được đặt ở vị trí cao hơn, đi vào chiều sâu và thực chất hơn. Nếu trước đây, nhiệm vụ trọng tâm là phá thế bao vây, mở rộng quan hệ, tranh thủ nguồn lực và giữ môi trường hòa bình, thì giờ đây, yêu cầu đặt ra là phải chuyển hóa những quan hệ đã xác lập thành sức mạnh nội sinh cụ thể. Nói cách khác, đối ngoại không dừng lại ở việc bảo vệ không gian phát triển, mà phải chủ động kiến tạo năng lực phát triển cho quốc gia.

Sự dịch chuyển tư duy này xuất phát từ chính thế và lực mới của đất nước. Trên bình diện ngoại giao, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 195 quốc gia; xây dựng mạng lưới đối tác toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với 42 nước, bao gồm toàn bộ các nước là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cùng nhiều thành viên G20. Về kinh tế, Việt Nam khẳng định vị thế của một nền kinh tế có độ mở lớn. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt mức kỷ lục khoảng 920 tỷ USD, đưa Việt Nam lọt vào nhóm các quốc gia có quy mô thương mại hàng đầu toàn cầu. Những minh chứng định lượng đó khẳng định Việt Nam không còn ở vị thế đơn thuần là đi tìm sự công nhận hay tranh thủ nguồn lực bên ngoài. Giờ đây, đất nước đã trở thành một chủ thể có tầm ảnh hưởng, mang lợi ích đan xen và gánh vác trách nhiệm ngày càng lớn đối với khu vực cũng như quốc tế.

Tuy nhiên, khi thế và lực đã thay đổi, đòi hỏi đặt ra cho công tác đối ngoại lại càng khắt khe hơn. Thiết lập quan hệ rộng mở và tốt đẹp mới chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ là những mối liên kết đó phải tạo ra kết quả thực chất cho đất nước. Một khuôn khổ đối tác chiến lược nếu chỉ dừng ở tuyên bố chính trị sẽ không thể tương xứng với yêu cầu phát triển. Một hiệp định thương mại tự do (FTA) sẽ giảm bớt giá trị nếu doanh nghiệp trong nước không tận dụng, lỡ nhịp tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, hoặc không nâng cao được chất lượng sản phẩm. Tương tự, một quan hệ hữu nghị lâu năm nếu không được làm mới bằng các hợp tác mang tính đột phá – từ công nghệ, năng lượng, hạ tầng, giáo dục, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh… thì cũng khó đáp ứng đòi hỏi của kỷ nguyên mới.

Đây chính là lý do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phải triển khai hiệu quả các khuôn khổ hợp tác hiện có; tạo chuyển biến thực chất nhằm khai thác tối đa dư địa từ các hiệp định, cam kết và quan hệ đối tác. Nói một cách bản chất, Việt Nam không thiếu mạng lưới cam kết, vấn đề cốt lõi là phải làm cho các quan hệ ấy trở nên sống động, sâu sắc, hiệu quả hơn và phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phát triển đất nước. Công tác đối ngoại không thể chỉ dừng lại ở nghi lễ ngoại giao, những chuyến thăm cấp cao, những tuyên bố chung hay các văn kiện ký kết màng tính hình thức. Thay vào đó, hiệu quả đối ngoại phải được đo lường bằng dự án được triển khai, thị trường được mở rộng, công nghệ được chuyển giao, nguồn vốn chất lượng cao được thu hút, doanh nghiệp được hỗ trợ, địa phương được tiếp thêm động lực phát triển và đời sống người dân được cải thiện, nâng cao.

Một điểm đặc biệt đáng chú ý trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” bên cạnh quốc phòng, an ninh. Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy. Bảo vệ Tổ quốc trong thời đại hiện nay không chỉ là bảo vệ biên giới, vùng trời, vùng biển bằng sức mạnh quốc phòng – an ninh theo nghĩa truyền thống. Bảo vệ Tổ quốc còn là bảo vệ môi trường hòa bình, bảo vệ lợi ích quốc gia trong thương mại, công nghệ, dữ liệu, chuỗi cung ứng, luật pháp quốc tế, tiêu chuẩn xanh, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và các không gian phát triển mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae tại Hà Nội, ngày 2/5/2026. Ảnh: Nhật Bắc/VGP

Một cuộc xung đột ở xa có thể làm giá dầu, giá vận tải và chi phí bảo hiểm tăng mạnh. Một thay đổi trong chính sách thương mại của một thị trường lớn có thể tác động trực tiếp đến đơn hàng của doanh nghiệp Việt Nam. Một tiêu chuẩn mới về phát thải, truy xuất nguồn gốc, lao động hay dữ liệu có thể trở thành rào cản nếu doanh nghiệp trong nước không chuẩn bị kịp. Một biến động trong chuỗi cung ứng toàn cầu có thể làm lộ rõ điểm yếu về công nghiệp hỗ trợ, công nghệ lõi và năng lực tự chủ của nền kinh tế. Trong bối cảnh ấy, đối ngoại phải có khả năng dự báo sớm, cảnh báo sớm, xử lý sớm và mở đường sớm.

Vì vậy, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” không phải là khẩu hiệu chung chung. Đó là yêu cầu rất thực tế. Đối ngoại phải góp phần nhận diện và hóa giải nguy cơ từ nơi xuất phát, trước khi nguy cơ ấy chuyển thành khủng hoảng tác động trực tiếp đến đất nước. Muốn vậy, đối ngoại phải gắn chặt với quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học – công nghệ, văn hóa, giáo dục, thông tin truyền thông và quản trị quốc gia. Một nền đối ngoại hiện đại không thể hoạt động biệt lập, mà phải trở thành một hệ thống kết nối, điều phối và kiến tạo lợi ích.

Trong năm định hướng lớn được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu ra, định hướng đầu tiên là phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, kiến tạo cục diện quốc tế thuận lợi cho đất nước. Đây là điều kiện nền tảng. Không có hòa bình, ổn định thì không thể phát triển. Không có môi trường khu vực thuận lợi thì mọi mục tiêu về tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới sáng tạo đều có thể bị gián đoạn. Với một quốc gia có độ mở kinh tế lớn như Việt Nam, ổn định bên ngoài chính là một phần của ổn định bên trong.

Ở đây, vai trò của khu vực, đặc biệt là ASEAN, có ý nghĩa chiến lược. Phát triển của Việt Nam không thể tách khỏi phát triển của Đông Nam Á. An ninh của Việt Nam cũng không thể tách khỏi an ninh của khu vực. Một ASEAN đoàn kết, thống nhất, tự cường và giữ được vai trò trung tâm sẽ tạo ra không gian ổn định để Việt Nam phát triển. Ngược lại, nếu khu vực bị chia rẽ, bị cuốn vào cạnh tranh chiến lược hoặc suy giảm vai trò trung tâm, Việt Nam cũng sẽ chịu tác động trực tiếp. Vì vậy, tư duy “cùng ASEAN lớn mạnh” là một điểm rất quan trọng. Việt Nam không thể chỉ lớn mạnh riêng lẻ, mà phải gắn sự phát triển của mình với sức mạnh chung của khu vực.

Cũng từ yêu cầu đó, đối ngoại Việt Nam cần tiếp tục coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, củng cố “vành đai an ninh – phát triển”, tăng cường kết nối về hạ tầng, năng lượng, logistics, khoa học – kỹ thuật, văn hóa và giao lưu nhân dân. Với các nước lớn, Việt Nam phải giữ thế cân bằng, hài hòa, cùng có lợi, không để rơi vào đối đầu hoặc lệ thuộc. Đây là nghệ thuật đối ngoại đã được đúc kết trong nhiều thập niên, nhưng trong bối cảnh mới cần được triển khai với năng lực dự báo tốt hơn, công cụ hiện đại hơn và tư duy thực chất hơn.

Định hướng thứ hai, cũng là điểm rất mới, là đưa đối ngoại trở thành động lực mở ra không gian và cơ hội phát triển mới. Đây có thể xem là trục trung tâm của tư duy đối ngoại trong kỷ nguyên mới. Đối ngoại không chỉ đi theo sau kinh tế để hỗ trợ ký kết, xúc tiến, tháo gỡ khó khăn, mà phải đi trước để mở đường. Mở đường cho thị trường mới, công nghệ mới, dòng vốn mới, tiêu chuẩn mới, mô hình hợp tác mới và vị trí mới của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong thời gian dài, Việt Nam đã thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng xuất khẩu và tham gia các hiệp định thương mại tự do. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động, gia công và khu vực FDI cũng bộc lộ giới hạn. Số liệu của Bộ Công Thương cho thấy xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều đó đặt ra yêu cầu đối ngoại kinh tế không chỉ dừng ở thu hút nhiều vốn, mà phải chuyển sang chọn lọc nguồn lực, ưu tiên công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực nội sinh.

Nói cách khác, đối ngoại trong giai đoạn mới phải giúp Việt Nam đi lên nấc thang cao hơn của phát triển. Không chỉ xuất khẩu nhiều hơn, mà phải xuất khẩu sản phẩm có giá trị cao hơn. Không chỉ thu hút nhiều FDI hơn, mà phải thu hút được FDI chất lượng hơn. Không chỉ tham gia chuỗi cung ứng, mà phải có khả năng định vị ở những khâu quan trọng hơn trong chuỗi cung ứng. Không chỉ hội nhập thị trường, mà phải từng bước tham gia định hình thị trường, luật chơi, tiêu chuẩn và công nghệ.

Định hướng thứ ba là chủ động tham gia và đóng góp trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế. Đây là biểu hiện của một Việt Nam có vị thế mới. Khi còn khó khăn, chúng ta cần sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Khi đất nước lớn mạnh hơn, Việt Nam không chỉ tiếp nhận sự ủng hộ, mà còn phải đóng góp nhiều hơn cho hòa bình, hợp tác và phát triển chung. Những vấn đề như biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, cứu hộ cứu nạn, viện trợ nhân đạo, quản trị dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, thương mại số, tiêu chuẩn xanh đều không còn là câu chuyện xa xôi. Chúng gắn trực tiếp với lợi ích của Việt Nam.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng phát biểu khai mạc Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 tại Hà Nội, ngày 9/6/2026. Ảnh: Nhật Bắc/VGP

Việt Nam càng tham gia tích cực vào các vấn đề chung, tiếng nói và uy tín của Việt Nam càng được nâng cao. Nhưng đóng góp quốc tế không chỉ là trách nhiệm đạo lý. Đó cũng là cách bảo vệ lợi ích quốc gia trong một thế giới liên kết chặt chẽ. Nếu Việt Nam tham gia sớm vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn số, quy tắc về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo hay thương mại thế hệ mới, Việt Nam sẽ có điều kiện tốt hơn để bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ thị trường và chuẩn bị năng lực cạnh tranh cho tương lai. Ngược lại, nếu chỉ đứng ngoài quan sát, chúng ta có thể bị động trước những luật chơi do người khác thiết lập.

Định hướng thứ tư là nâng tầm vị thế quốc gia tương xứng với tầm vóc lịch sử, bản sắc văn hóa và vị thế của đất nước. Đây là nội dung có chiều sâu lâu dài. Vị thế quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô GDP, kim ngạch thương mại hay số lượng đối tác chiến lược. Vị thế quốc gia còn được tạo nên từ bản sắc văn hóa, độ tin cậy chính trị, chất lượng thể chế, năng lực thực thi cam kết, hình ảnh con người Việt Nam, sức hấp dẫn của văn hóa Việt Nam và khả năng đóng góp vào văn minh nhân loại.

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế không chỉ diễn ra bằng quân sự hay kinh tế, sức mạnh mềm ngày càng có vai trò quan trọng. Một quốc gia có hình ảnh hòa bình, ổn định, đáng tin cậy, có bản sắc văn hóa sâu dày và có khát vọng phát triển sẽ có khả năng thu hút hợp tác tốt hơn. Việt Nam có nhiều lợi thế trong lĩnh vực này: lịch sử dựng nước và giữ nước, văn hóa phong phú, con người cần cù, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đông đảo, uy tín của một quốc gia kiên trì đường lối hòa bình, độc lập, tự chủ. Vấn đề là phải biến những lợi thế đó thành chiến lược sức mạnh mềm bài bản hơn, hiện đại hơn và hiệu quả hơn.

Định hướng thứ năm là xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp, ngang tầm nhiệm vụ chiến lược. Đây là điều kiện quyết định để các định hướng lớn không dừng lại ở nhận thức. Một đường lối đúng nếu thiếu bộ máy thực thi hiệu quả thì khó đi vào cuộc sống. Một nghị quyết chiến lược nếu không được cụ thể hóa thành chương trình hành động, kế hoạch công tác, cơ chế phối hợp và chỉ số đánh giá thì dễ rơi vào tình trạng đúng về chủ trương nhưng chậm về kết quả.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh phương châm “hiểu sâu, làm đúng, làm đến nơi đến chốn, làm hiệu quả”. Đây là yêu cầu rất đáng chú ý. Bởi điểm nghẽn của chính sách nhiều khi không nằm ở việc thiếu chủ trương, mà nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Với đối ngoại cũng vậy. Chúng ta đã có nhiều hiệp định, nhiều cơ chế hợp tác, nhiều tuyên bố chung, nhiều khuôn khổ đối tác. Nhưng muốn các khuôn khổ ấy phát huy tác dụng, cần có cơ chế theo dõi, đôn đốc, đánh giá, tháo gỡ và chịu trách nhiệm rõ ràng.

Từ góc độ thực thi, trước hết cần rà soát toàn bộ các cam kết, hiệp định, thỏa thuận và khuôn khổ hợp tác đã ký với các đối tác. Cần phân loại rõ nội dung nào đã thực hiện tốt, nội dung nào còn chậm, nội dung nào có dư địa lớn nhưng chưa được khai thác. Trên cơ sở đó, từng bộ, ngành, địa phương phải xây dựng chương trình hành động cụ thể. Ví dụ, một địa phương công nghiệp cần biết tận dụng đối ngoại để thu hút công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển logistics và công nghiệp hỗ trợ. Một địa phương ven biển cần gắn đối ngoại với kinh tế biển, cảng biển, du lịch, năng lượng tái tạo và thích ứng biến đổi khí hậu. Một địa phương có di sản cần khai thác tốt ngoại giao văn hóa, du lịch, giáo dục và giao lưu nhân dân.

Thứ hai, cần đổi mới cơ chế phối hợp liên ngành. Đối ngoại hiện đại không thể là việc riêng của ngành ngoại giao. Đối ngoại kinh tế liên quan đến công thương, tài chính, khoa học – công nghệ, nông nghiệp, tài nguyên – môi trường, địa phương và doanh nghiệp. Đối ngoại an ninh liên quan đến quốc phòng, công an, biên giới, biển đảo, an ninh mạng, dữ liệu và các thách thức phi truyền thống. Đối ngoại văn hóa liên quan đến giáo dục, du lịch, báo chí, truyền thông, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nếu không có cơ chế phối hợp thống nhất, đối ngoại sẽ khó tạo thành sức mạnh tổng hợp.

Thứ ba, cần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại. Cán bộ đối ngoại trong kỷ nguyên mới không thể chỉ giỏi lễ tân, nghi thức hay ngoại ngữ. Họ phải hiểu chính trị quốc tế, kinh tế quốc tế, công nghệ, luật pháp, dữ liệu, truyền thông, chuỗi cung ứng, tiêu chuẩn xanh, chuyển đổi số và quản trị khủng hoảng. Đặc biệt, phải có năng lực dự báo và năng lực chuyển hóa quan hệ chính trị thành chương trình hợp tác cụ thể. Đây là tiêu chuẩn cao hơn, nhưng là yêu cầu tất yếu nếu đối ngoại được đặt ở vị trí tuyến đầu và trung tâm.

Thứ tư, cần gắn đối ngoại với doanh nghiệp và người dân. Một nền đối ngoại lấy người dân làm trung tâm không thể chỉ dừng ở các hoạt động cấp cao. Doanh nghiệp phải được hỗ trợ tốt hơn trong tận dụng các hiệp định thương mại tự do, tiếp cận thị trường, xử lý rào cản kỹ thuật, đáp ứng tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn số và bảo vệ quyền lợi ở nước ngoài. Người dân phải thấy lợi ích của đối ngoại qua việc làm, thu nhập, cơ hội học tập, môi trường sống, an sinh và sự an toàn khi đi ra thế giới. Khi lợi ích đối ngoại được chuyển hóa thành lợi ích cụ thể trong đời sống, nghị quyết mới thực sự đi vào cuộc sống.

Nhìn tổng thể, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về Nghị quyết 06-NQ/TW cho thấy một bước chuyển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Việt Nam. Đó là bước chuyển từ mở rộng quan hệ sang nâng cao chất lượng quan hệ; từ hội nhập thị trường sang kiến tạo thị trường; từ tham gia luật chơi sang góp phần định hình luật chơi; từ tranh thủ nguồn lực bên ngoài sang kết hợp hiệu quả nội lực với ngoại lực; từ bảo vệ không gian phát triển sang kiến tạo năng lực phát triển quốc gia.

Bước chuyển ấy phản ánh đúng yêu cầu của thời đại. Trong một thế giới nhiều biến động, không quốc gia nào có thể phát triển nếu tự tách mình khỏi khu vực và thế giới. Nhưng hội nhập càng sâu thì khả năng bị tác động bởi bên ngoài càng lớn. Vì vậy, đối ngoại phải vừa mở cửa, vừa giữ vững tự chủ; vừa hợp tác, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia; vừa linh hoạt, vừa kiên định; vừa tranh thủ ngoại lực, vừa làm mạnh nội lực. Đó chính là bản lĩnh của một nền đối ngoại trưởng thành.

Vấn đề cuối cùng là thực thi. Nghị quyết đúng, phát biểu rõ, định hướng lớn nhưng kết quả phụ thuộc vào cách làm. Nếu các bộ, ngành, địa phương chỉ quán triệt trên văn bản, tổ chức hội nghị, xây dựng kế hoạch chung chung thì tư duy mới khó biến thành động lực mới. Ngược lại, nếu mỗi quan hệ đối tác được rà soát lại, mỗi hiệp định được kích hoạt mạnh hơn, mỗi địa phương biết gắn đối ngoại với lợi thế phát triển, mỗi doanh nghiệp được hỗ trợ để vươn ra thị trường bên ngoài, mỗi cán bộ đối ngoại được nâng tầm năng lực, thì Nghị quyết sẽ tạo ra xung lực thật sự.

Khi tiềm lực và vị thế đất nước đã khác, đối ngoại cũng phải bước lên một tầm vóc mới. Đối ngoại trong kỷ nguyên mới không chỉ là chiếc cầu nối Việt Nam với thế giới, mà còn là một trụ cột để bảo vệ hòa bình, mở rộng không gian phát triển, nâng cao nội lực, khẳng định bản sắc và đưa đất nước tiến nhanh hơn tới mục tiêu phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đó là thông điệp quan trọng nhất từ phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: muốn đất nước phát triển ở tầm cao mới, đối ngoại cũng phải được tổ chức, triển khai và đánh giá ở tầm cao mới.

Những định hướng chiến lược của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang từng bước được cụ thể hóa sinh động qua các hoạt động đối ngoại cấp cao thời gian qua. Các chuyến thăm Thái Lan, Singapore, Philippines và phát biểu tại Đối thoại Shangri-La 2026 của người đứng đầu Đảng, Nhà nước đã minh chứng rõ nét cho một Việt Nam chủ động, trách nhiệm trong các vấn đề hòa bình, an ninh, phát triển khu vực. Song song đó, việc Thủ tướng Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines, phát biểu tại Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 do Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, cùng các hoạt động thúc đẩy hợp tác ASEAN – Nga, đã tiếp tục khẳng định vai trò kết nối trung tâm của nước ta trong khối và với các đối tác lớn. Không dừng lại ở không gian truyền thống, sự hiện diện của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc tại Diễn đàn Kinh tế quốc tế Saint Petersburg (SPIEF) lần thứ 29 còn khẳng định bước mở rộng đột phá của đối ngoại Việt Nam sang các lĩnh vực kinh tế, công nghệ, năng lượng. Chuỗi hoạt động này không phải là các sự kiện riêng lẻ, mà một thông điệp ngoại giao đồng bộ, nhất quán, góp phần kiến tạo không gian phát triển mới và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.■

Hiển Minh

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN