Lập trường của các bên tham dự Hội nghị Genève 1954

Khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam đang bước vào giai đoạn quyết liệt với những biến động khó lường, câu hỏi về khả năng tìm kiếm một giải pháp ngoại giao một lần nữa trở thành vấn đề được quan tâm. Trước những thay đổi nhanh chóng của tình hình, các sáng kiến đưa cuộc chiến trở lại khuôn khổ đàm phán quốc tế gợi nhắc về tiền lệ của Hội nghị Genève năm 1954. Trên tinh thần đó, nhà ngoại giao người Pháp Jean Chauvel đã phân tích bối cảnh dẫn tới hội nghị qua bài viết “Hội nghị Genève về Đông Dương và tình hình hiện nay” đăng trên tạp chí Politique étrangère số 4 năm thứ 35, xuất bản năm 1970. Tạp chí Phương Đông trích dịch và giới thiệu đoạn tư liệu làm rõ tâm thế của các bên tham gia và những tính toán chiến lược định hình quá trình thương lượng, từ đó góp phần lí giải ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Genève 1954.

Bất kỳ ai chuẩn bị đưa ra nhận xét về những gì đang xảy ra ở Đông Nam Á đều có thể bị thực tế “vượt mặt” ngay tức khắc bởi các biến cố diễn ra quá nhanh. Mới cách đây không lâu, các cuộc đàm phán tại khách sạn Majestic vẫn chưa đạt được tiến triển nào. Tình hình quân sự ở miền Nam Việt Nam tiếp tục biến động như thủy triều lên xuống mà chúng ta đã thấy nhiều lần trước đó, nếu đánh giá tương quan lực lượng địa phương vào thời điểm này, thì tình hình chính trị ở Sài Gòn đang vô cùng bất ổn.

[…]

Cuộc chiến đang diễn ra có thể thay đổi hình thái và lan sang những vùng lãnh thổ mới. Những tai họa đi kèm cũng tiếp tục lan rộng theo tiến trình của cuộc chiến. Do đó, việc một số cường quốc không tham gia vào cuộc phiêu lưu này, đứng ra nêu sáng kiến đưa toàn bộ vấn đề trở về phương diện chính trị là điều dễ hiểu. Đồng thời trong khuôn khổ một Hội nghị tương tự như Hội nghị đã diễn ra tại Genève năm 1954, các nước này tìm kiếm những khả năng cho một giải pháp tổng thể đối với các vấn đề của cuộc chiến. Đó chính là điều nước Pháp đã thực hiện gần đây.

Để đánh giá ý nghĩa và tầm vóc của sáng kiến này, cần nhớ lại tiền lệ năm 1954, về quá trình tiến tới Hội nghị Genève và tâm thế của các bên tham dự chính khi tiếp cận Hội nghị này.

Cuối năm 1953 và đầu năm 1954, cuộc chiến ở Đông Dương không có nhiều chuyển biến mới. Lực lượng Liên hiệp Pháp phải đối đầu với lực lượng Việt Minh được trang bị phương tiện chiến đấu từ viện trợ của Trung Quốc. Tình hình ở Pháp ngày càng ảm đạm, nhu cầu về tiếp viện nhân lực và khí tài liên tục tăng nhưng ngày càng ít được chấp thuận. Do đó, Chính phủ Joseph Laniel đã hướng tới phương án có một cuộc đối thoại song phương. Tuyên bố theo hướng này được đưa ra trước Nghị viện nhưng không được ai tán thành. Một chuyến đi bí mật của ông Savary[2] – người được giao nhiệm vụ tới Bắc Kỳ để gặp ông Hồ Chí Minh, đã không thể đi xa hơn Moscow.

Cuộc họp của Hội nghị Berlin (1954) với các đại diện của Mỹ, Pháp, Anh và Liên Xô tham dự được kỳ vọng là cơ hội để đề cập tới các vấn đề ở vùng Viễn Đông. Lúc bấy giờ Liên Xô mong muốn đưa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở thành cường quốc thứ năm. Trên tinh thần ấy, đề xuất về một hội nghị ngũ cường được đưa ra nhưng sau đó không được chấp thuận. Sau cùng, kết quả tối thiểu đạt được là kế hoạch sẽ tổ chức một cuộc họp mở rộng, trong đó, với Anh và Liên Xô là hai bên đồng chủ trì, sẽ mời các nước đồng minh của họ cùng tham gia. Mục tiêu ban đầu của cuộc họp là giải quyết vấn đề Triều Tiên, và người ta cũng ngầm hiểu rằng vấn đề ở Đông Dương sẽ là một đối tượng cần thảo luận.

Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau phiên họp cuối cùng ngày 21/7/1954 tại Genève. Ảnh: Keystone France

Được giao nhiệm vụ chuẩn bị cho Hội nghị dự kiến diễn ra tại Genève này, ngay từ đầu, tôi đã quyết tâm liên lạc với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng[3] và các thành viên chủ chốt trong chính phủ của ông. Tôi đã tìm được một ghi chép thuật lại các cuộc thảo luận khác nhau. Kết quả cho thấy, trong khi ông Laniel và ông Bidault coi hội nghị là phương tiện để thăm dò thái độ phía bên kia thì có người lại nhìn nhận đây là cơ hội để có một cuộc đàm phán “mang tầm toàn cầu” với người Mỹ; và người khác nữa lại cho rằng đó là cuộc đàm phán có tầm vóc tương tự, nhưng là với Liên Xô. Tôi nhận thấy một điều thú vị là có một vị Bộ trưởng, người có tầm ảnh hưởng không hề nhỏ, lại đề xuất một “giải pháp chiến lược” là rút khỏi vùng Bắc Kỳ ở Đông Dương. Nhìn chung, đó cũng chính là kết cục mà chúng ta phải cam chịu, chấp nhận sau này.

Diễn ra trước khi cuộc tấn công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu, những sự kiện kể trên đã bộc lộ mối bận tâm chung là muốn tiến hành đàm phán, dù có là đàm phán theo những hướng khác nhau. Khi cuộc chiến ở Điện Biên Phủ nổ ra và nhanh chóng trở thành mối đe dọa cho lực lượng của Pháp, chính phủ rơi vào thế phải chọn lựa: một cuộc đàm phán với nguy cơ khởi đầu trong những điều kiện vô cùng bất lợi, hoặc là tiếp tục mở rộng chiến tranh. Do các giới hạn về năng lực của nước Pháp dần chạm ngưỡng, việc tăng cường chiến tranh đòi hỏi một phương án viện trợ hiệu quả, trực tiếp ở chiến trường từ các nước đồng minh. Tại một cuộc gặp ba bên ở Paris, ông Bidault đã đặt vấn đề với các nước đồng minh Hoa Kỳ và Anh. Dù tỏ ra thiện chí, ông Dulles sau cùng vẫn để quyết định của Hoa Kỳ phụ thuộc vào quyết định của chính phủ Anh. Ông Churchill trả lời rằng ông sẽ chờ xem kết quả của hội nghị sắp tới rồi mới xem xét vấn đề này.

Do đó, Hội nghị được cử hành, và một sự trùng hợp không ai có thể lường trước được, buổi khai mạc chính thức diễn ra ngay sau ngày Việt Minh giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.

Bài viết này không phải nơi nhắc lại những bước thăng trầm của Hội nghị. Ngược lại, cần chỉ rõ điểm thú vị là thái độ của các bên tham gia với vai trò chính yếu.

Chính phủ Pháp hi vọng vào hội nghị, như đã đề cập, các cuộc họp cho thấy nội bộ chia rẽ thành hai phe, một bên chủ trương tiếp tục chiến tranh và một bên chủ trương tìm giải pháp hòa bình. Phái đầu tiên luôn có ý tìm kiếm sự trợ giúp từ Hoa Kỳ và trên thực tế, các cuộc đàm phán đầy phức tạp đã diễn ra tại Paris. Với sự tham gia của nhiều quốc gia trong khu vực, những cuộc thương lượng này hướng tới việc thành lập một liên minh phòng thủ chung – dấu hiệu báo trước của Hiệp ước Manila sau này – với mục đích là xác lập một khuôn khổ hợp lý cho Hoa Kỳ can thiệp vào cuộc chiến. Các cuộc thảo luận tiếp diễn cho tới khi Chính phủ Joseph Laniel sụp đổ, sau đó tân Thủ tướng Mendès France, cùng nỗ lực hỗ trợ của ông Anthony Eden, quyết tâm trong vòng 30 ngày phải thử hết sức các khả năng của thỏa thuận, tập trung chủ yếu vào việc có được một cam kết xác định rõ ràng cho những mục tiêu phù hợp với ý định của mình trong thời gian sắp tới từ ông John Foster Dulles.

Lập trường của nước Anh không có gì mơ hồ. Thủ tướng Anh coi cuộc chiến tại Đông Dương là một cuộc chiến đã thất bại của phía Pháp. Vì vậy, với sự ủng hộ từ cả chính phủ và dư luận Anh, ông mong muốn phái đoàn của mình nỗ lực tối đa để đạt được một giải pháp chính trị. Đó cũng chính là những gì ông Eden thực thi bằng uy tín cao, lòng kiên định và tinh thần khách quan.

Quan điểm của Hoa Kỳ lại phức tạp hơn. Không chỉ riêng đối với Đông Nam Á mà rộng hơn nữa, trước đó, lập trường ấy từng trải qua những biến đổi đáng kể. Sau khi Thế chiến II kết thúc, từ năm 1945 – 1947, Washington từng giao cho tướng Marshall sứ mệnh hòa giải với mục tiêu thúc đẩy Trung Quốc thống nhất những người ủng hộ Tưởng Giới Thạch và cả những người theo Mao Trạch Đông. Chính tướng Marshall sau cùng cũng phải thừa nhận sự bất khả thi của công việc này. Từ đó, Hoa Kỳ rút dần khỏi các sự kiện liên quan tới Trung Quốc trong khi cuộc nội chiến tại quốc gia này ngày càng lan rộng và dữ dội hơn. Tưởng Giới Thạch từ chức vào tháng 6/1949[4]. Sau đó, các lực lượng theo đường lối của Mao Trạch Đông nắm quyền kiểm soát trên toàn bộ lãnh thổ đại lục Trung Quốc và vào cuối năm ấy đã tiến tới sát biên giới Bắc Kỳ. Mùa xuân năm sau, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Dean Acheson đưa ra kết luận, tuyên bố rằng Hàn Quốc và Đài Loan nằm ngoài tuyến phòng thủ của Hoa Kỳ.

Như thể đáp trả tuyên bố ấy, không lâu sau, Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Washington bất ngờ cuốn vào một cuộc can dự mới, đẫm máu và triền miên. Người ta đều biết phần tiếp theo của câu chuyện: sau một năm giao tranh khốc liệt, ông Yakov Malik – đại diện thường trực của Liên Xô tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc – đã đưa ra một đề xuất công khai, mở đường cho các cuộc đàm phán ngừng bắn tại Bàn Môn Điếm. Chúng ta cũng biết rằng những cuộc đàm phán này kéo dài suốt hai năm, trong lúc đó, chiến sự vẫn tiếp diễn ngày một khốc liệt hơn, tạo ra những làn sóng phản ứng mạnh mẽ ngay trong dư luận Mỹ. Chính vì lẽ đó, tướng Eisenhower đã hứa hẹn sẽ đưa các binh sĩ Mỹ trở về với gia đình trong chiến dịch tranh cử Tổng thống của mình. Cuối cùng, Hiệp định đình chiến ký vào ngày 27/7/1953, đồng thời ấn định ba tháng sau sẽ tổ chức mội hội nghị chính trị để giải quyết vấn đề rút toàn bộ lực lượng nước ngoài và tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên. Đáng chú ý là ông Lý Thừa Vãn đã không chấp thuận Hiệp định đình chiến.

Việc triệu tập hội nghị bị trì hoãn, và do đó, như đã đề cập ở trên, vấn đề ấy được đưa trở lại tại Hội nghị Berlin và vấn đề ở Đông Dương cũng được nhắc tới trong dịp này.

Lập trường của Hoa Kỳ đối với khả năng đạt được các thỏa thuận chính trị với các quốc gia lớn ở phương Đông đã bộc lộ rõ ràng ngay từ phiên họp đầu tiên tại Genève. Nói đúng ra, Ngoại trưởng Dulles đã làm tổn hại cuộc thảo luận trong những điều kiện mà hẳn ông Chu Ân Lai vẫn còn nhớ rõ. Về phần thảo luận liên quan đến Đông Dương, Ngoại trưởng Mỹ chỉ tham dự phiên họp đầu tiên rồi rời khỏi Genève ngay sau đó, cũng không quên hỏi một thành viên của phái đoàn Pháp rằng dưới sự yểm trợ của Không quân Mỹ, nếu các lực lượng Liên hiệp Pháp rút về cố thủ tại hai vùng châu thổ thì liệu có thể cầm cự được trong hai năm không – thời gian cần thiết nhằm xây dựng một bộ máy để Hoa Kỳ tiếp quản vai trò và đẩy làn sóng chủ nghĩa xã hội về phía Bắc hay không.

Thái độ ấy không chỉ thể hiện rõ mức độ hoài nghi sâu sắc với khả năng thành công của hội nghị mà còn làm sáng tỏ sự thiếu tin tưởng căn bản vào bất kỳ thỏa thuận nào có thể đạt được. Dư luận Mỹ khi ấy bị chia rẽ giữa giới “diều hâu” và phe “bồ câu”. Một số nhân vật có tầm ảnh hưởng không hề nhỏ mong muốn việc can thiệp để hỗ trợ các lực lượng Pháp. Nhưng Tổng thống Eisenhower, người cho rằng chấm dứt được chiến sự ở Triều Tiên là thành tựu trong cuộc tranh cử, lại không muốn dấn thân vào một cuộc chiến mới tại Đông Dương. Còn với ông Dulles, tuy không có đủ phương tiện để biến những quan điểm của mình thành hành động cụ thể, ít nhất, ông vẫn hết sức thận trọng để tránh mọi biểu hiện thỏa hiệp. Bởi vậy, thái độ của phái đoàn Mỹ trong suốt quá trình thương lượng luôn mang dấu ấn hết sức dè dặt và cảnh giác cao độ.

Về phần Liên Xô, chính họ là bên khởi xướng sáng kiến về Hiệp định đình chiến Bàn Môn Điếm. Họ cũng tỏ ra hướng tới một giải pháp tương tự cho vấn đề Đông Dương. Quan hệ giữa Moscow và Bắc Kinh khi ấy dĩ nhiên chưa rơi vào tình trạng như giai đoạn sau này, nhưng ngay cả lúc đó, Moscow dường như cũng không mong muốn chứng kiến những cuộc xung đột có thể kéo các cường quốc vào thế đối đầu trực diện, mà do yếu tố địa lý, Bắc Kinh sẽ là bên nắm vai trò chủ đạo. Vì thế, phái đoàn Liên Xô hỗ trợ âm thầm nhưng hiệu quả trong công cuộc tìm kiếm những giải pháp tích cực.

Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai (phải) gặp mặt Thủ tướng Pháp Pierre Mendès France tháng 7/1954 tại Genève

Đối với Trung Quốc, Hội nghị này là lần đầu tiên họ xuất hiện trên trường quốc tế với một vị thế mới. Đó là kinh nghiệm quan trọng, và chỉ cần quan sát ông Chu Ân Lai từ Hội nghị về Triều Tiên đến Hội nghị về Đông Dương là có thể thấy ông ấy đã gặt hái được nhiều thành quả ra sao. Dường như trong thời điểm ấy, Bắc Kinh quan tâm đến việc thiết lập các quan hệ đối ngoại nhiều hơn là việc giúp đồng minh của mình giành thắng lợi trọn vẹn. Dù thế nào chăng nữa, phái đoàn Trung Quốc đã góp phần tích cực thúc đẩy các cuộc thương lượng tiến triển, dù chỉ bằng hành động kín đáo là tạo điều kiện để phái đoàn Pháp có thể tiếp xúc ông Phạm Văn Đồng ngay tại tư gia của ông Chu Ân Lai.

Về phía Việt Minh, họ tạo cho các bên đàm phán ấn tượng rằng họ đang tồn tại hai khuynh hướng. Giới chính trị nhanh chóng bày tỏ sự quan tâm đến những khả năng thỏa thuận đang dần xuất hiện. Trong khi đó, giới quân sự lại tỏ ra dè dặt hơn, có thể vì họ tin vào ưu thế quyết định trên chiến trường mà mình đang nắm giữ.

Cuối cùng là chính phủ Sài Gòn, dường như chính phủ này không nhận được chỉ thị nào từ Bảo Đại. Họ bày tỏ thái độ phản đối gay gắt việc thiết lập đường ranh giới chia cắt. Vào cuối tiến trình thương lượng, họ từ chối công nhận các hiệp định đã được ký kết.

Trước lập trường mang nhiều khác biệt của các bên tham gia như vậy, các phiên làm việc đã đi tới kết quả như sau.

Phái đoàn Pháp đã xác định mục tiêu rõ ràng ngay từ đầu. Họ cho rằng các vấn đề quân sự cần được bàn trước tiên và mang tính chất tiên quyết, việc tìm kiếm một giải pháp chính trị có thể bị tác động bất lợi bởi diễn biến thực tế tại chiến trường. Họ đặc biệt nhấn mạnh thêm rằng vấn đề của Việt Nam, Lào và Campuchia cần được thảo luận riêng biệt và mỗi vấn đề phải đi kèm với những dữ kiện đặc thù của chúng.

Hiệp định Genève do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu và Tướng Henri Delteil ký ngày 21/7/1954 chấm dứt chiến tranh, công nhận độc lập chủ quyền của ba nước Đông Dương. Ảnh: Getty Images

Phía Pháp đã đạt được những mục tiêu đó. Các văn kiện của Hội nghị Genève mang tính chất vô cùng đặc biệt, dù ghi nhận hồi kết của một cuộc chiến, chúng lại không cấu thành một hiệp ước hòa bình chung. Như chúng ta đã biết, Hiệp ước này gồm 3 hiệp định đình chiến riêng biệt cho 3 nước (Việt Nam, Lào, Campuchia) giữa các bộ chỉ huy của những lực lượng tham chiến và xác định rõ điều kiện ngừng bắn. Bên cạnh đó, một bản tuyên bố cuối cùng phác thảo những điều khoản của một giải pháp chính trị vẫn còn bỏ ngỏ.

Về tuyên bố cuối cùng của phái đoàn Việt Nam, họ nhấn mạnh vào tính chất tạm thời của đường ranh giới phân chia, thuần túy là đường ranh giới quân sự, trong bất cứ trường hợp nào cũng không thể diễn giải thành đường biên giới chính trị hay lãnh thổ. Bản tuyên bố đồng thời nhấn mạnh vào việc cần thiết phải bảo toàn độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Họ cũng đưa vào điều khoản dự liệu rằng vào tháng 7/1956, một cuộc tổng tuyển cử sẽ được tiến hành dưới sự giám sát và bảo đảm của quốc tế.

Với cả ba quốc gia Đông Dương, bản tuyên bố chung ghi nhận toàn bộ các điều khoản của các Hiệp định quân sự và những quy định liên quan đến việc hạn chế hoặc cấm đưa nhân lực quân sự hay vật tư chiến tranh vào lãnh thổ; văn kiện cũng nhấn mạnh việc xóa bỏ các căn cứ quân sự nước ngoài, đồng thời cam kết không tham gia vào bất kỳ liên minh quân sự nào trái với Hiến chương của Liên hợp quốc.

Phía chính phủ Sài Gòn phản đối toàn bộ mọi điều khoản đàm phán và từ chối ký kết. Mặt khác, phái đoàn Hoa Kỳ đưa ra một bản tuyên bố riêng khá dài, trong đó khẳng định Washington sẽ kiềm chế việc sử dụng hoặc đe dọa vũ lực nhằm thay đổi các điều khoản đã được ký kết, đồng thời coi mọi hành động vi phạm các điều khoản đó là một mối đe doạ nghiêm trọng.

Jean Chauvel[1]

Lê Hằng Nga (dịch)

Chú thích:

[1] Jean Chauvel (1897 – 1979): Đại sứ Pháp tại Thụy Sĩ (ND)

[2] Alain Savary (1918 – 1988): chính trị gia hoạt động tích cực trong Đảng Xã hội Pháp (ND)

[3] Tức Pierre Mendès France (ND)

[4] Các tài liệu khác đều ghi là tháng 1/1949, BTV

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN