Kể từ khi bước vào công cuộc Đổi mới năm 1986 đến nay, cùng với việc chuyển đổi mô hình từ kinh tế kế hoạch hóa bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã trải qua những bước chuyển mình căn bản. Sự thay đổi này không chỉ diễn ra ở khía cạnh kinh tế – xã hội, mà còn lan tỏa sâu rộng sang cả lĩnh vực văn hóa, đạo đức. Việc vận hành nền kinh tế trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu đã giúp đời sống tinh thần của xã hội ngày càng đa dạng, năng động. Tuy nhiên, tiến trình này cũng ẩn chứa nhiều rủi ro và bất cập khôn lường. Một trong những hệ lụy đáng báo động nhất là sự biến tướng của các mối quan hệ gia đình, cộng đồng truyền thống, dẫn đến nguy cơ suy thoái đạo đức xã hội.
Vấn đề đạo đức không phải chỉ mới nhận được sự quan tâm rộng rãi trong thời gian gần đây. Ngay từ buổi bình minh của nhân loại, từ Đông sang Tây, sứ mệnh giáo dục đạo đức đã luôn được đặt ở vị trí trọng tâm. Ở phương Đông, Khổng Tử cho rằng đạo đức là sống có luân thường và không ngừng tu dưỡng bản thân. Kế thừa và phát triển tinh hoa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức chính là cái gốc của con người, dù trong sự nghiệp cách mạng hay đời sống thường ngày: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
Ở phương Tây, các triết gia cổ đại từ Socrates, Plato đến Aristotle cũng đều coi trọng giá trị cốt lõi của đạo đức. Socrates nhận định không ai cố tình làm điều ác, mà mọi lầm lạc đều xuất phát từ sự thiếu hiểu biết. Đối với Plato, đạo đức đạt được khi lý trí kiểm soát được ý chí và ham muốn, nơi cái Thiện là hình mẫu tuyệt đối trong thế giới Ý niệm. Trong khi đó, Aristotle tiếp cận đạo đức một cách thực tế hơn khi cho rằng đức hạnh không phải là phẩm chất bẩm sinh, mà là một thói quen được hình thành qua rèn luyện thực tiễn hằng ngày.

Theo thời gian, khái niệm về đạo đức dần được hoàn thiện. Giờ đây, đạo đức được hiểu là một hình thái ý thức xã hội, tập hợp hệ thống các quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và quan hệ ứng xử giữa người với người. Đạo đức và xã hội có mối quan hệ hữu cơ mật thiết. Một mặt, xã hội hưng thịnh là tiền đề để đạo đức được chú trọng. Mặt khác, khi đạo đức được bồi đắp vững chắc, nó sẽ trở thành nền tảng thúc đẩy xã hội tiếp tục vận hành và phát triển đi lên.
Đối với Việt Nam, bên cạnh chủ nghĩa yêu nước và lòng tự tôn dân tộc vốn là những giá trị cốt lõi, thước đo đạo đức truyền thống còn bao gồm tính cần cù, tinh thần dũng cảm, thái độ sống lạc quan, trung thực, kiên nhẫn, giản dị, vì nghĩa và lòng vị tha. Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam với vai trò lãnh đạo, định hướng quốc gia luôn kịp thời ban hành nhiều chủ trương nhằm nâng cao chuẩn mực đạo đức xã hội. Tiêu biểu là Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Văn kiện này đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng con người phát triển toàn diện; kiến tạo môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Trong đó, Đảng nhấn mạnh yêu cầu “đặt giáo dục đạo đức và văn hóa lên hàng đầu”, “kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại, dân tộc với quốc tế, góp phần quan trọng phát triển toàn diện con người, đạo đức xã hội và phẩm cách quốc gia trong kỷ nguyên mới”. Tuy nhiên, trái ngược với đà tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế và tiến trình hội nhập toàn cầu sâu rộng, nền đạo đức xã hội Việt Nam – đặc biệt là trong vài năm trở lại đây – lại đang đứng trước thực trạng suy giảm nghiêm trọng.
Thực trạng suy giảm đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay
Phát triển kinh tế một cách quyết liệt nhưng vẫn bảo tồn các giá trị truyền thống, đồng thời chủ động thích ứng và trau dồi phẩm chất của con người hiện đại luôn là bài toán khó, đòi hỏi một chiến lược mang tầm nhìn dài hạn. Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là trong thời gian gần đây, xã hội Việt Nam đang phải chứng kiến sự gia tăng của nhiều hiện tượng phản đạo đức với mật độ dày đặc chưa từng thấy. Thực trạng này cho thấy xã hội dường như đang quá chú trọng vào tăng trưởng kinh tế mà vô tình xem nhẹ công tác vun đắp các chuẩn mực đạo đức nền tảng.
Tại Việt Nam, bức tranh tội phạm lừa đảo đang diễn biến phức tạp theo chiều hướng gia tăng cả về quy mô, mức độ thiệt hại lẫn tính chất tinh vi. Trong giai đoạn 2024 – 2026, các phương thức chiếm đoạt tài sản không còn dừng lại ở mức độ nhỏ lẻ, mà đã biến tướng thành những đường dây tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, liên tục cập nhật về công nghệ và phương thức hoạt động. Hệ lụy là giá trị tài sản bị chiếm đoạt không ngừng leo thang. Tiêu biểu như vụ án xảy ra tại Tập đoàn Tâm Lộc Phát với số tiền lừa đảo lên tới 5.148 tỷ đồng, trở thành một trong những đại án kinh tế nghiêm trọng được cơ quan tố tụng xử lý trong năm 2026. Trước đó, sai phạm tại Tập đoàn Sen Tài Thu cũng ghi nhận gần 1.000 tỷ đồng bị chiếm đoạt của 459 nhà đầu tư. Mới đây nhất, vụ “hợp đồng kỳ nghỉ” tại Thành phố Hồ Chí Minh đã lừa đảo hơn 612 tỷ đồng thông qua hơn 5.500 hợp đồng. Không chỉ quy mô tài sản tăng cao, số lượng nạn nhân cũng mở rộng đáng kể khi nhiều vụ án có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người bị hại. Điển hình như vụ án tại Công ty Sky Media với khoảng 1.000 nạn nhân, cùng hàng loạt đường dây huy động vốn, đầu tư tài chính trái phép diễn ra dai dẳng trong nhiều năm qua.
Mức độ nguy hiểm của các phương thức lừa đảo này cũng gia tăng rõ rệt khi nhiều đường dây hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, sở hữu bộ máy nhân sự, hệ thống chăm sóc khách hàng và quy trình vận hành bài bản. Đại án “hợp đồng kỳ nghỉ” là một minh chứng với sự liên đới của gần 200 bị can; trong khi nhiều vụ án khác cũng có sự tham gia của hàng chục đối tượng cùng quy trình phân công nhiệm vụ chặt chẽ. Đáng chú ý, ngày càng xuất hiện nhiều chuyên án tội phạm xuyên quốc gia, vận hành từ ngoài lãnh thổ nhưng nhắm trực tiếp vào người dân trong nước thông qua không gian mạng. Các đường dây tại khu vực Tam giác Vàng đã sử dụng hàng trăm kịch bản tinh vi, quy tụ nhiều đối tượng mang quốc tịch khác nhau – bao gồm cả người Việt Nam – và khai thác triệt để công nghệ cao nhằm trục lợi. Đặc biệt, việc kết hợp giữa trí tuệ nhân tạo (AI), mạng xã hội, website giả mạo và các nguồn dữ liệu cá nhân bị rò rỉ đã khiến hành vi thao túng ngày càng tinh vi, khó phát hiện. Hệ lụy là ngay cả những người có trình độ công nghệ nhất định vẫn dễ dàng trở thành nạn nhân.
Xét trên bức tranh tổng thể về an ninh trật tự, sự biến chuyển không chỉ giới hạn ở vấn nạn lừa đảo. Nếu như trước đây, các hành vi phạm tội chủ yếu tập trung vào phương thức truyền thống như trộm cắp, cướp giật hay cố ý gây thương tích; thì những năm gần đây, tình hình tội phạm tại Việt Nam đã thay đổi đáng kể cả về số lượng, cơ cấu lẫn phương thức hoạt động. Bên cạnh các hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe và tài sản thông thường, ngày càng xuất hiện nhiều dạng tội phạm mới gắn liền với quá trình chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế số.
Trong đó, xu hướng nổi bật nhất là sự bùng nổ của tội phạm công nghệ cao. Các đối tượng không chỉ thực hiện lừa đảo trực tuyến mà còn tấn công hệ thống thông tin, đánh cắp dữ liệu cá nhân, chiếm đoạt tài khoản ngân hàng, phát tán mã độc, tổ chức đánh bạc qua mạng, rửa tiền xuyên biên giới và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số. Nhiều đường dây tinh vi dù được đặt ở nước ngoài nhưng vẫn điều hành hoạt động phạm tội nhắm thẳng vào người dân trong nước, khiến công tác điều tra và truy bắt của cơ quan chức năng ngày càng phức tạp.
Danh mục tội danh trong giai đoạn này cũng ngày càng đa dạng hóa. Cơ quan chức năng liên tục triệt phá các đường dây tội phạm về ma túy, buôn lậu, sản xuất hàng giả, xâm phạm bản quyền và mua bán trái phép dữ liệu cá nhân. Bên cạnh đó, các hành vi tổ chức đưa người xuất nhập cảnh trái phép, tội phạm môi trường, “tín dụng đen”, cho đến các vụ án hình sự nghiêm trọng như cướp giật, giết người và trục lợi qua thương mại điện tử cũng diễn biến phức tạp. Đáng chú ý, các loại tội phạm này ngày càng có sự liên kết chặt chẽ. Chúng thường xuyên ứng dụng công nghệ cao, thao túng dòng tiền tài chính và sử dụng mạng lưới trung gian nhằm che giấu dấu vết, thiết lập nên những đường dây có tổ chức hoạt động trên phạm vi rộng lớn.

Ngay cả trong lĩnh vực đặc thù như giáo dục và đào tạo – thiết chế vốn được xem là thiêng liêng, cao quý bậc nhất, nơi tu dưỡng và vun đắp đạo đức – tình trạng vi phạm pháp luật và suy thoái đạo đức cũng diễn biến nghiêm trọng. Một trong những vụ việc gây chấn động dư luận là đại án gian lận điểm thi THPT quốc gia năm 2018 tại Hà Giang. Kết quả điều tra xác định nhiều cán bộ thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Giang cùng các đơn vị liên quan đã can thiệp trái phép vào bài thi, nâng điểm cho hàng loạt thí sinh. Hành vi này không chỉ làm sai lệch kết quả tuyển sinh, mà còn tước đi cơ hội của các thí sinh trung thực, đồng thời chà đạp nghiêm trọng lên niềm tin của xã hội đối với tính công bằng của nền giáo dục nước nhà.
Sau gần một thập kỷ, khi dư luận ngỡ rằng bài học từ vụ Hà Giang đã đủ sức răn đe, thì năm 2026, xã hội lại xôn xao trước hiện tượng “vụ 147 điểm 10 môn Toán ở Tuyên Quang”. Việc một địa phương sở hữu số lượng điểm tuyệt đối cao bất thường đã nhanh chóng làm dấy lên những hoài nghi về chất lượng đề thi, quy trình chấm độc lập và tính khách quan của kết quả. Dù cơ quan chức năng đã chủ động rà soát, xác minh; bản thân hiện tượng này vẫn phản ánh một thực trạng đáng quan ngại: niềm tin xã hội đối với tính minh bạch của các kỳ thi quốc gia đã trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Hệ lụy là bất kỳ dấu hiệu bất thường nào, dù nhỏ, cũng có thể lập tức châm ngòi cho một làn sóng hoài nghi diện rộng trong dư luận.
Một góc khuất đặc biệt nghiêm trọng khác là thực trạng kinh doanh vô đạo đức, bất chấp luật pháp của một bộ phận cá nhân và tổ chức. Vì lợi nhuận, họ sẵn sàng cung ứng ra thị trường các loại hàng hóa giả, thuốc chữa bệnh giả, đồng thời tuồn thực phẩm bẩn, nhiễm mầm bệnh vào các bếp ăn tập thể và gia đình. Thời gian qua, các cơ quan truyền thông đã liên tục vạch trần những hành vi gian dối, vô trách nhiệm này, gióng lên hồi chuông cảnh báo trực tiếp về sự đe dọa đối với sức khỏe và mạng sống của nhân dân.
Nhìn thấy được điều gì qua thực trạng suy giảm đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay
Từ thực trạng đạo đức xã hội những năm gần đây, có thể thấy bên cạnh những thành tựu nổi bật về tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số và nâng cao đời sống, xã hội Việt Nam đang phải đối diện với nhiều thách thức đáng lo ngại. Các hiện tượng lừa đảo quy mô lớn, tội phạm công nghệ cao, tội phạm ma túy, xâm phạm sở hữu trí tuệ hay sai phạm trong giáo dục không còn là những vụ việc đơn lẻ. Thực chất, chúng là biểu hiện của những lỗ hổng mang tính hệ thống, gióng lên hồi chuông cảnh báo cấp thiết về việc xây dựng và củng cố nền tảng đạo đức xã hội trong bối cảnh hiện đại.
Thứ nhất, thực trạng trên phản ánh rõ nét sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cư dân. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường và khoa học – công nghệ tuy mở ra nhiều cơ hội bứt phá, song cũng làm gia tăng xu hướng đề cao lợi ích vật chất, cổ súy chủ nghĩa thực dụng và tâm lý vụ lợi bất chấp pháp luật. Không ít cá nhân sẵn sàng biến tri thức, công nghệ và các mối quan hệ xã hội thành công cụ trục lợi cá nhân. Đáng lo ngại hơn, xu hướng này không chỉ giới hạn ở nhóm tội phạm chuyên nghiệp, mà còn len lỏi vào một bộ phận giới trẻ – lực lượng vốn là chủ thể kiến tạo tương lai đất nước. Những hành vi tiếp tay cho lừa đảo, mua bán dữ liệu cá nhân, tham gia đường dây tội phạm xuyên biên giới hay cổ súy lối sống lệch chuẩn trên không gian mạng đã phơi bày một nghịch lý đáng suy ngẫm: sự tăng trưởng về vật chất chưa đồng tốc với sự trưởng thành về đạo đức.
Thứ hai, sự gia tăng của các hành vi vi phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức đã bộc lộ những hạn chế trong năng lực quản trị nhà nước ở một số lĩnh vực. Mặc dù hệ thống pháp luật không ngừng được hoàn thiện, song thực tế cho thấy vẫn tồn tại những khoảng trống trong công tác giám sát và thực thi. Minh chứng là các đường dây lừa đảo xuyên quốc gia có thể hoạt động dai dẳng với số tiền chiếm đoạt lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, tội phạm công nghệ cao liên tục biến đổi phương thức nhanh hơn tốc độ hoàn thiện cơ chế phòng vệ thông tin. Đồng thời, những sai phạm trong giáo dục cũng phơi bày những bất cập sâu sắc trong quy trình kiểm tra nội bộ. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia, tăng cường tính minh bạch và khả năng thích ứng của bộ máy công quyền trước những biến động nhanh chóng của thời đại.
Thứ ba, nghiêm trọng hơn cả, thực trạng suy thoái đạo đức không chỉ giới hạn ở các đối tượng phạm tội, mà đã len lỏi vào một bộ phận cán bộ, công chức. Nhiều vụ việc ghi nhận hiện tượng người có thẩm quyền lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tiếp tay, bao che hoặc trực tiếp tham gia các hành vi phạm pháp nhằm trục lợi cá nhân. Trong lĩnh vực giáo dục, các đại án gian lận thi cử đã làm lung lay tận gốc niềm tin của xã hội vào tính công bằng của hệ thống. Trong lĩnh vực kinh tế, các vụ án tham nhũng hay hành vi thông đồng với tội phạm cũng phản ánh sự xuống cấp của đạo đức công vụ. Khi những cá nhân có trách nhiệm bảo vệ pháp luật lại trở thành chủ thể vi phạm, hậu quả không chỉ dừng lại ở thiệt hại vật chất, mà còn khiến niềm tin của nhân dân đối với các thiết chế công quyền ngày càng xói mòn.
Bên cạnh đó, một nguyên nhân khách quan khác xuất phát từ chính tâm lý và thói quen của một bộ phận người dân. Do chưa kịp cập nhật kiến thức về công nghệ và thủ đoạn tội phạm mới, cùng với tâm lý chủ quan, hám lợi hoặc chuộng giá rẻ, nhiều người đã vô tình sập bẫy các kịch bản lừa đảo tinh vi. Thực tế này cho thấy, sự thiếu cảnh giác của người dân đã vô hình trung tạo ra mảnh đất dung dưỡng cho các hành vi vô đạo đức và tội phạm có cơ hội hoạt động.

Tóm lại, các thực trạng trên là dấu hiệu cảnh báo rõ rệt về những thách thức mà đạo đức xã hội Việt Nam đang phải đối mặt trong tiến trình phát triển. Sự tăng trưởng kinh tế và bứt phá của khoa học – công nghệ không tự động mang lại sự tiến bộ tương ứng về văn hóa, đạo đức. Nếu thiếu vắng một hệ thống giáo dục nhân cách hiệu quả, một nền quản trị minh bạch và một cơ chế thực thi pháp luật nghiêm minh; các biểu hiện lệch chuẩn sẽ có nguy cơ tiếp tục lan rộng, làm suy giảm niềm tin và cản trở mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, song hành với việc hoàn thiện thể chế và xử lý nghiêm sai phạm, quốc gia cần đặc biệt coi trọng việc bồi dưỡng đạo đức công dân, xây dựng văn hóa quản lý liêm chính, đồng thời củng cố các giá trị nhân văn cốt lõi để làm nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Giải pháp tu dưỡng nền đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay
Xây dựng và phát triển đạo đức xã hội là một tiến trình lâu dài, liên tục, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị lẫn toàn xã hội. Trước thực trạng suy thoái đạo đức và tội phạm gia tăng như hiện nay, việc củng cố nền tảng tinh thần quốc gia đã trở thành nhiệm vụ hết sức cấp thiết. Nếu tăng trưởng kinh tế tạo ra điều kiện vật chất, thì đạo đức chính là cốt lõi tinh thần bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Trước hết, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Đạo đức xã hội luôn gắn liền với yếu tố lịch sử. Vì vậy, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập toàn cầu; hệ chuẩn mực đạo đức cần được bổ sung, phát triển liên tục nhằm đáp ứng các yêu cầu của thời đại. Tiến trình này không đồng nghĩa với việc phủ nhận quá khứ, mà phải kế thừa tinh hoa truyền thống dân tộc như lòng yêu nước, tính nhân ái, sự trung thực và tinh thần đoàn kết. Song song với đó, cần chủ động bồi dưỡng những phẩm chất của con người hiện đại: từ tư duy sáng tạo, tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật cho đến tinh thần trách nhiệm và tư duy thượng tôn pháp luật. Chỉ khi các giá trị ấy được xã hội thừa nhận như chuẩn mực phổ quát, chúng mới thực sự định hướng hành vi của mỗi cá nhân và trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của quốc gia.
Để các chuẩn mực đạo đức thực sự đi vào đời sống, cần triển khai đồng bộ công tác giáo dục và truyền thông xã hội. Tiến trình này không thể bó hẹp trong phạm vi nhà trường, mà phải trở thành hoạt động thường xuyên của toàn xã hội. Theo đó, gia đình đóng vai trò là chiếc nôi đầu tiên hình thành nhân cách, truyền thụ các giá trị văn hóa cốt lõi. Nhà trường cần xác định giáo dục đạo đức, giáo dục công dân và ý thức pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, song hành cùng việc truyền tải tri thức.
Bên cạnh đó, chính quyền cơ sở, các đoàn thể và doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ để kiến tạo môi trường văn hóa lành mạnh; đặc biệt tại các đô thị lớn, khu công nghiệp hay những địa bàn tập trung đông dân cư — nơi chịu tác động mạnh mẽ nhất từ quá trình đô thị hóa. Công tác tuyên truyền cần được triển khai sâu rộng qua hệ thống cơ sở và phương tiện thông tin đại chúng, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm công dân. Mục tiêu cốt lõi là giúp mỗi người dân không chỉ xây dựng lối sống lành mạnh cho bản thân, mà còn chủ động nâng cao tinh thần cảnh giác, tích cực đấu tranh với các hành vi xâm hại đến lợi ích chung của cộng đồng.
Trong kỷ nguyên số, công tác truyền thông cần chuyển dịch mạnh mẽ từ thế bị động phản ánh tiêu cực sang thế chủ động kiến tạo và lan tỏa các giá trị nhân văn. Báo chí và các nền tảng mạng xã hội phải phát huy vai trò định hướng dư luận, tôn vinh những tấm gương người tốt, việc tốt và xây dựng văn hóa ứng xử văn minh trên không gian mạng. Đồng thời, các kênh thông tin này cần tích cực nâng cao nhận thức cộng đồng về phương thức hoạt động của tội phạm hiện đại. Truyền thông phải thực sự trở thành công cụ giáo dục xã hội hiệu quả, góp phần định hình lối sống nhân ái, trung thực, trách nhiệm vì cộng đồng.
Song hành với công tác giáo dục và truyền thông, cần chú trọng xây dựng văn hóa đạo đức trong các thiết chế xã hội. Đối với doanh nghiệp, cần hình thành văn hóa kinh doanh liêm chính, tôn trọng pháp luật, đề cao trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp. Đối với các cơ sở giáo dục, y tế và đơn vị sự nghiệp công lập, việc kiến tạo môi trường đạo đức phải được coi là tiêu chí cốt lõi trong đánh giá chất lượng hoạt động. Những thiết chế này không chỉ thực hiện chức năng chuyên môn, mà còn đóng vai trò định hình và lan tỏa các chuẩn mực ứng xử của cộng đồng.
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nhằm chủ động phòng ngừa tội phạm và các hành vi vi phạm đạo đức từ sớm, từ xa. Thực tiễn cho thấy nhiều vụ án nghiêm trọng chỉ có thể xảy ra khi tồn tại khoảng trống pháp lý hoặc có sự buông lỏng kiểm tra, giám sát. Vì vậy, cần đẩy mạnh thanh tra chuyên ngành, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ, công chức; đồng thời xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi dụng chức vụ để tiếp tay cho tội phạm. Việc xử lý phải bảo đảm tính răn đe, hướng tới triệt tiêu các điều kiện phát sinh tội phạm. Từ đó, xây dựng một nền hành chính liêm chính, minh bạch và chuyên nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và củng cố đạo đức công vụ.

Quan trọng hơn cả, mọi giải pháp đều phải hướng tới mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện. Trong bối cảnh mới, công dân Việt Nam cần được bồi dưỡng không chỉ về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn về nhân cách, ý thức pháp luật và trách nhiệm xã hội. Mỗi cá nhân cần biết hài hòa giữa lợi ích bản thân với lợi ích tập thể, sống trung thực, nhân ái, có tinh thần cống hiến vì cộng đồng. Chỉ khi những giá trị ấy trở thành hành vi tự giác của đại đa số công dân, nền đạo đức xã hội mới thực sự được củng cố và phát triển vững chắc.
Quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Công an Trung ương về Đề án “Xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, hài hòa, phát triển” đã căn dặn: “Không để xã hội giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức và các giá trị nhân văn”; có thể khẳng định, xây dựng nền đạo đức xã hội không chỉ là giãải pháp tình thế nhằm khắc phục các biểu hiện lệch chuẩn, mà còn là chiến lược cốt lõi để phát triển con người và đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tiêu chí đánh giá sự cường thịnh của một quốc gia không chỉ dừng lại ở các chỉ số kinh tế hay khoa học – công nghệ, mà còn nằm ở hệ giá trị con người, sự liêm chính của các thiết chế và tinh thần tự giác thực hành chuẩn mực đạo đức. Chỉ khi mỗi cá nhân, gia đình, nhà trường, doanh nghiệp và Nhà nước cùng đồng lòng xây dựng, thực hiện hệ giá trị mới; các chuẩn mực ấy mới thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, thúc đẩy một Việt Nam dân chủ, công bằng, hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc.■
Hưng Thịnh