Xuất bản năm 1978, cuốn sách “Chance and Circumstance: The Draft, the War, and the Vietnam Generation” (Cơ may và hoàn cảnh: Chế độ quân dịch, chiến tranh và thế hệ Việt Nam) của hai tác giả Lawrence M. Baskir và William A. Strauss là một công trình khảo cứu về gánh nặng quân dịch ở Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam – một “cuộc chiến sinh tồn” âm thầm trong lòng nước Mỹ. Từ kinh nghiệm xử lý hồ sơ hậu chiến, các tác giả bóc trần thực tế cay đắng: tiền bạc và địa vị định đoạt ranh giới giữa việc ra trận hay ở lại. Tạp chí Phương Đông trân trọng giới thiệu trích đoạn chương mở đầu, nơi cuộc chiến trở thành vết thương xã hội nhức nhối ở Mỹ, biến cả thế hệ thanh niên Mỹ thành những nạn nhân theo những cách rất riêng.
Khi John F. Kennedy nhậm chức ngày 20/1/1961, vị tân Tổng thống nói với nước Mỹ và thế giới rằng “ngọn đuốc đã được trao cho một thế hệ người Mỹ mới”, một thế hệ mà dưới sự lãnh đạo của họ, nước Mỹ sẽ “trả bất cứ giá nào, gánh bất cứ gánh nặng nào… để bảo đảm sự tồn tại và thắng lợi của tự do”. Đó là những lời lẽ mạnh mẽ, được đón nhận rất nồng nhiệt.

“Thế hệ mới” này, được Kennedy mô tả là “được tôi luyện bởi chiến tranh, được rèn kỷ luật bởi một nền hòa bình khắc nghiệt và cay đắng”, gồm những cựu binh Thế chiến II khi ấy đang ở cuối độ tuổi ba mươi và bốn mươi. Những người con “ưu tú nhất và thông minh nhất” của họ sau này sẽ dẫn dắt nước Mỹ đi qua một cuộc chiến rất khác, gây tranh cãi hơn nhiều ở Việt Nam. Và lần này, không phải họ là những người phải trực tiếp chiến đấu. Chưa đến 500 người thuộc thế hệ này chết ở Đông Nam Á, phần lớn do tai nạn, bệnh tật và những nguyên nhân khác không liên quan đến chiến đấu. Số còn lại đóng thuế để tài trợ cho cuộc phiêu lưu trị giá 165 tỷ USD này. Chính con cái họ, thế hệ bùng nổ dân số sau chiến tranh – sản phẩm của sự gia tăng mạnh tỷ lệ sinh trong giai đoạn 1946-1953 – mới là những người phải trả cái giá thật sự của Việt Nam.
53 triệu người Mỹ bước vào tuổi trưởng thành trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Như Hình 1 cho thấy, 26,8 triệu nam giới bước vào độ tuổi quân dịch trong khoảng thời gian từ ngày 04/8/1964, khi Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ đánh dấu việc nước Mỹ chính thức bước vào chiến tranh, đến ngày 28/3/1973, khi những binh sĩ Mỹ cuối cùng rời đi. 51 nghìn người chết – 17.000 người do vết thương súng đạn, 7.500 người do nhiều vết thương mảnh đạn, 6.750 người do lựu đạn và mìn, 10.500 người do các hoạt động khác của đối phương, 8.000 người do các nguyên nhân không mang tính thù địch và 350 người tự sát. Thêm 270.000 người bị thương, trong đó 21.000 người bị tàn tật. Khoảng 5.000 người mất một hoặc nhiều chi trong chiến tranh. Nửa triệu người bị đóng dấu như tội phạm, hơn hai triệu người phục vụ trong vùng chiến sự, và thêm hàng triệu người khác với tương lai định hình bởi nguy cơ phải ra trận.
Họ là con trai của những bậc cha mẹ đã đoàn tụ sau một cuộc chiến dài nhưng thắng lợi. Từng trải qua khủng hoảng kinh tế và chiến tranh, những người cha người mẹ ấy muốn con mình chỉ biết đến hòa bình và thịnh vượng. Họ từng được gọi là thế hệ Dr. Spock, thế hệ Sputnik, thế hệ Pepsi, rồi cuối cùng là thế hệ Woodstock([1]). Nhưng trên hết, họ trở thành “thế hệ Việt Nam”.
Khi còn là trẻ em và thiếu niên, họ đã quen với sự tồn tại của chế độ quân dịch. Một số người mong chờ việc phục vụ trong quân đội như một trải nghiệm thú vị và có giá trị – cơ hội để chứng tỏ bản lĩnh đàn ông, phục vụ đất nước và có chút phiêu lưu trước khi ổn định cuộc sống. Những người khác coi quân dịch là một đòi hỏi khó chịu nhưng vẫn có thể chịu đựng được, lấy đi hai năm cuộc đời họ. Nhiều người, nhất là những người xuất thân từ gia đình khá giả, xem quân dịch là điều cần tránh, một sự can thiệp không mong muốn vào các kế hoạch cá nhân. Nhưng phần lớn không nghĩ nhiều về nó. Dù có ý thức hay không, họ đẩy quân dịch ra khỏi tâm trí: đó là chuyện xảy ra với người khác, không bao giờ xảy ra với mình.
Nhưng khi thế hệ ấy va chạm với Chiến tranh Việt Nam, quân dịch trở thành mối quan tâm nổi bật. Năm 1966, một cuộc khảo sát học sinh trung học năm thứ hai cho thấy chỉ 7% nhắc đến quân dịch hoặc Việt Nam như một trong “những mối bận tâm lớn nhất của nam thanh niên cùng trang lứa”. Nhưng khi câu hỏi tương tự được đặt ra với chính những người đó sau khi họ tốt nghiệp trung học vào năm 1969, con số ấy đã tăng lên 75%. Rất ít người trong độ tuổi từ 19 đến 26 háo hức mạo hiểm mạng sống của mình ở Việt Nam.
Mặc dù chỉ cần 6% tổng số nam thanh niên tham gia chiến đấu, chế độ quân dịch “thời Việt Nam” đã đẩy cả một thế hệ vào cuộc đấu tranh sinh tồn cá nhân. Tuy nhiên, quân dịch không phải là một sức mạnh tùy tiện và toàn năng, tự áp đặt số phận mù quáng lên những người đàn ông không có khả năng chống đỡ. Trái lại, nó hoạt động như một công cụ của chính sách xã hội theo học thuyết Darwin: những người “thích nghi nhất” – những người có xuất thân, sự lanh lợi hoặc tiền bạc – đã xoay xở để thoát ra. Thông qua một cấu trúc phức tạp gồm các diện hoãn, miễn, các kẽ hở pháp lý và những lựa chọn quân sự không tham chiến, chế độ quân dịch đã ưu ái những người lợi dụng hệ thống để trục lợi.
Trong thế hệ này, chiến đấu cho đất nước không còn là niềm tự hào; đó là một điều rủi ro. Những quan điểm phản chiến mạnh mẽ của nhiều người trẻ đã góp phần làm xoay chuyển dư luận và thay đổi các chính sách quốc gia. Hoạt động của họ đòi hỏi lòng can đảm đạo đức, nhưng ít có sự hy sinh cụ thể. Ngoại trừ một vài cá nhân, vì nguyên tắc, đã từ bỏ các diện hoãn và miễn để đi tù hoặc sống lưu vong, thì việc phản đối chiến tranh liên quan đến lợi ích cá nhân của mọi nam giới trong độ tuổi quân dịch. Chiến tranh càng sớm kết thúc, khả năng anh ta phải chịu tổn thất cá nhân càng thấp.
Tâm lý tự lợi này thể hiện rõ nhất qua thái độ của sinh viên phản chiến đối với diện hoãn quân dịch dành cho sinh viên. James Glassman, tốt nghiệp Harvard College, nhớ lại rằng năm 1966, trước khi số lệnh gọi quân dịch bắt đầu tăng lên, “sinh viên phàn nàn rằng hệ thống này phân biệt đối xử nghiêm trọng, thiên vị người khá giả. Họ gọi diện II-S là một đặc quyền bất công dành cho những người có thể vào đại học”. Nhưng khi chiến tranh leo thang, “lòng vị tha bị lãng quên. Điều quan trọng nhất lúc này là cứu lấy chính mình”. Năm 1967, khi các diện hoãn dành cho bậc sau đại học bị bãi bỏ, tờ Harvard Crimson đăng một xã luận cáo buộc chính phủ “làm việc cẩu thả vì tiện lợi”, điều “rõ ràng là bất công với sinh viên”.
Nhiều sinh viên bảo vệ các diện hoãn của mình – và việc họ tránh quân dịch – bằng một mức độ kiêu ngạo giai cấp nhất định. Một học giả người Rhodes, nay là luật sư doanh nghiệp, nhận xét rằng “có một số người có thể làm nhiều điều tốt hơn trong suốt đời mình ở lĩnh vực chính trị, học thuật hoặc y khoa, thay vì bị giết trong một chiến hào”. Một sinh viên Đại học Michigan bình luận: “Nếu tôi mất vài năm, điều đó có nghĩa là tôi mất 16.000 USD. Tôi biết mình nghe có vẻ ích kỷ, nhưng, lạy Chúa, tôi đã trả 10.000 USD để có nền giáo dục này”. Những thái độ ấy cũng được hàng triệu nam giới trong độ tuổi quân dịch, đang có các diện hoãn và miễn khác, chia sẻ. “Tôi có một công việc ổn định”, một công nhân quốc phòng ở Delaware nói. “Tôi kiếm được nhiều tiền và cuối tuần nào cũng vui vẻ. Tại sao tôi lại muốn đi chứ?”. Tại sao anh ta phải muốn đi? Cựu binh Việt Nam không được coi trọng, và vận mệnh quốc gia cũng khó có thể nói là đang treo trong thế ngàn cân.
“Kết quả là một sự né tránh nghĩa vụ đầy hoài nghi, sự tha hóa các mục tiêu của giáo dục, sự hoen ố tinh thần quốc gia… và một cách nhìn nghĩa vụ quốc gia như trò cảnh sát – kẻ cướp”, Hiệu trưởng Đại học Yale Kingman Brewster nhận xét. Tránh Việt Nam trở thành một mối bận tâm của cả thế hệ. Theo khảo sát của Đại học Notre Dame, khoảng 15 triệu người, tức 60% nam giới Mỹ trong độ tuổi quân dịch nhưng không tham chiến, đã chủ động thực hiện những bước đi để cứu lấy số phận. Hơn một nửa số người thoát quân dịch và gần một nửa số quân nhân thoát chiến đấu hiện tin rằng những việc họ làm đã góp phần giữ họ ở xa chiến trường.

Tránh Việt Nam không nhất thiết có nghĩa là ra khỏi cuộc chiến mà không hề hấn gì. Với một trong bốn người, điều đó đồng nghĩa với những cuộc hôn nhân vội vã, những đứa con ngoài ý muốn, sự nghiệp đi chệch hướng hoặc tổn hại về thể chất. Nhưng hàng triệu người khác bước ra nguyên vẹn, hả hê với điều mà Collins Vallee, một cố vấn quân dịch ở New Orleans, gọi là “chiến thắng trước chính phủ”. Họ không bao giờ ra chiến trường và cũng không bao giờ phải đối mặt với những lựa chọn tốn kém như nhà tù, lưu vong hay tòa án quân sự.
Con đường né tránh mở ra với mọi người. Thanh niên ở các khu ổ chuột lách quân dịch bằng cách không đăng ký. Những người bỏ học trung học kết hôn và có con. Nhưng số lượng lối thoát lớn nhất lại mở ra cho thanh niên xuất thân từ các tầng lớp đặc quyền. Nhờ các diện hoãn theo địa vị, miễn vì lý do thể chất hoặc những hình thức nhập ngũ an toàn, họ không gặp nhiều khó khăn để ở xa Việt Nam. Ngay cả bác sĩ, dù thuộc diện có thể bị gọi theo lệnh quân dịch đặc biệt, cũng hiếm khi bị cuốn vào chiến tranh. Chưa đến một trong 10 sinh viên tốt nghiệp trường y bị gọi nhập ngũ; nhiều người còn lại tìm được nơi trú ẩn trong Viện Y tế Quốc gia, Sở Y tế Công cộng hoặc lực lượng dự bị.
Những người bị gọi nhập ngũ đã chiến đấu và chết ở Việt Nam chủ yếu là những “kẻ thua cuộc” của xã hội, cũng chính là những người bị bỏ lại trong trường học, việc làm và các dạng cạnh tranh xã hội khác. Tác động phân biệt đối xử về mặt xã hội, kinh tế và chủng tộc của chiến tranh Việt Nam không thể được đánh giá một cách công bằng so với các cuộc chiến tranh khác trong lịch sử nước Mỹ, nhưng chưa bao giờ người dân Mỹ ý thức rõ như thế về việc nghĩa vụ phục vụ được phân bổ không đều. Rất ít người thuộc giới tinh hoa quốc gia có con trai hoặc bạn thân thực sự tham chiến. Leslie Fiedler, khi bình luận về cộng đồng đại học của mình, viết rằng ông “chưa từng biết một gia đình nào mất con trai ở Việt Nam, hay thậm chí có con trai bị thương, mất tích khi làm nhiệm vụ hoặc bị bắt làm tù binh. Điều đó vẫn đúng dù thương vong của Mỹ ở Việt Nam gần như đã ngang với thương vong trong Thế chiến I. Tôi cũng không đơn độc trong tình cảnh kỳ lạ này; khi nói chuyện với bạn bè về một chủ đề mà họ có vẻ rất muốn tránh nhắc tới, tôi phát hiện rằng nếu họ có thể, nếu họ phải nói, thì tất cả đều nói như vậy…”.
Những bất công về chủng tộc trở thành một vụ bê bối lớn vào cuối thập niên 1960. Tướng S. L. A. Marshall nhận xét rằng ông đã thấy: “Quá nhiều tiểu đoàn của chúng ta rời tuyến sau những trận chiến ác liệt và tổn thất nặng nề. Trong một đại đội bộ binh thông thường, quân số có tới 50% là người da đen, người Mexico vùng Tây Nam, người Puerto Rico, người Guam, người Mỹ gốc Nhật và những nhóm tương tự. Nhưng đó có phải là một lát cắt thật sự của thanh niên Mỹ không? Hầu như không bao giờ”.
Vào cuối Thế chiến II, người da đen chiếm 12% tổng số binh sĩ chiến đấu; đến khi Chiến tranh Việt Nam bắt đầu, tỷ lệ của họ đã tăng lên 31%. Năm 1965, người da đen chiếm 24% tổng số lính Lục quân tử trận trong chiến đấu. Bộ Quốc phòng đã tiến hành một chiến dịch có chủ đích nhằm giảm tỷ lệ các nhóm thiểu số trong lực lượng chiến đấu. Tỷ lệ ấy giảm xuống 16% vào năm 1966 và 13% vào năm 1968. Năm 1970, con số tính chung cho toàn bộ các quân chủng còn dưới 9%.
Trong suốt cuộc chiến, các nhóm thiểu số đã đóng góp nhiều hơn mức cần thiết trong việc chiến đấu và hy sinh. Tuy vậy, những bất công nghiêm trọng nhất vẫn là bất công xã hội và kinh tế. Người da trắng nghèo, ít học cùng người da đen nghèo, ít học đã cùng nhau gánh một phần quá lớn gánh nặng từ cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Khảo sát của Đại học Notre Dame cho thấy số nam giới xuất thân từ hoàn cảnh bất lợi có khả năng phục vụ trong quân đội, tới Việt Nam và tham chiến cao gấp khoảng hai lần so với những người cùng thế hệ nhưng khá giả hơn. Đây chính là những người mà Tổng thống Eisenhower từng gọi là “bia đỡ đạn” của quân dịch.
Chính phủ không tiến hành bất kỳ nghiên cứu thời chiến nào về mức độ phân bổ nghĩa vụ quân sự theo xã hội và kinh tế. Những bằng chứng cùng thời chỉ rải rác và mang tính giai thoại. Một khảo sát năm 1965-1966 phát hiện rằng sinh viên tốt nghiệp đại học chỉ chiếm 2% tổng số người bị gọi nhập ngũ. Dân biểu Alvin O’Konski thực hiện một khảo sát cá nhân với một trăm người nhập ngũ từ khu vực bầu cử phía bắc Wisconsin của ông. Không một ai trong số họ đến từ gia đình có thu nhập hằng năm trên 5.000 USD. Một biên tập viên của Crimson, thuộc khóa năm 1970 của Đại học Harvard đã thống kê 1.200 bạn cùng khóa và chỉ đếm được 56 người gia nhập quân đội, trong đó chỉ có hai người đến Việt Nam. Trái lại, 35 người thuộc khóa Harvard 1941 đã chết trong Thế chiến II, và hàng trăm người khác tham chiến. Không nhiều binh sĩ thời Việt Nam là người tốt nghiệp đại học, và ngay cả số tương đối ít người có học vấn đại học đã gia nhập quân đội cũng có cơ hội tránh Việt Nam cao hơn bình thường.
Sau khi chiến tranh kết thúc, bằng chứng bắt đầu nhiều lên. Hồ sơ hậu chiến của Lục quân cho thấy một quân nhân tình nguyện đã tốt nghiệp đại học chỉ có 42% khả năng đến Việt Nam, so với 64% ở người tốt nghiệp trung học và 70% ở người bỏ học trung học. Các khảo sát tại đảo Long Island, bang Wisconsin và thành phố Salt Lake cho thấy tỷ lệ tử trận rất cao trong nhóm thanh niên có hoàn cảnh bất lợi. Trong nghiên cứu quan trọng nhất cho đến thời điểm đó, Gilbert Badillo và David Curry phân tích thương vong ở các khu dân cư Chicago có đặc điểm kinh tế – xã hội khác nhau. Họ phát hiện rằng thanh niên từ các khu dân cư thu nhập thấp có khả năng chết ở Việt Nam cao gấp ba lần thanh niên từ các khu dân cư thu nhập cao. Họ cũng phát hiện rằng thanh niên từ các khu dân cư có trình độ giáo dục thấp có khả năng chết ở Việt Nam cao gấp bốn lần thanh niên từ các khu dân cư có trình độ giáo dục tốt hơn.
Trong Thế chiến II, quân dịch và phục vụ chiến đấu là vấn đề danh dự cá nhân. Nhiều người bẻ cong luật lệ để được vào quân đội. Lòng yêu nước không có ranh giới giai cấp; Winthrop Rockefeller và Chủ tịch Sở Giao dịch Chứng khoán New York tình nguyện nằm trong số 10 nghìn người đầu tiên trình diện nhập ngũ. Những cựu binh trở về là anh hùng của công chúng. Tù binh chiến tranh thường bị xem là điều gây lúng túng hơn là đối tượng của niềm tự hào quốc gia. Nhưng trong một nghịch lý bi thảm của cuộc chiến ở Việt Nam, những anh hùng thật sự duy nhất của cuộc chiến lại là các tù binh chiến tranh. Thông thường, họ không thuộc thế hệ trẻ hơn; họ là phi công Không quân và Hải quân, các sĩ quan đã quá tuổi quân dịch. Những thanh niên trở về với tư cách cựu binh chiến đấu thì dễ dàng bị lãng quên.
Nước Mỹ không thắng cuộc chiến, và nhiều người cảm thấy xấu hổ về những gì đã xảy ra. Khi chiến tranh đặt nghi vấn với quá nhiều điều về lòng tự trọng của nước Mỹ, và khi có quá nhiều thanh niên chống lại chiến tranh, quốc gia này cần được trấn an rằng lòng yêu nước vẫn còn ý nghĩa. Vì thế, những người chống quân dịch và đào ngũ trở thành các phản diện dân gian của thời đại.
Lương tri quốc gia cũng được xoa dịu bằng cách so sánh sự hèn nhát của những người chống quân dịch và đào ngũ với lòng dũng cảm của binh sĩ chiến đấu. Điều này giúp che mắt nước Mỹ trước thực tế rằng 25 triệu nam giới trong độ tuổi quân sự đã không phục vụ ở Việt Nam, và tương đối ít người trực tiếp chịu tác động bởi sự hy sinh của những người đã phục vụ.
Sau khi chiến sự kết thúc, những người chống quân dịch và đào ngũ còn phục vụ một mục đích bi thảm cuối cùng. Họ trở thành vật tế thần, giống như Eddie Slovik, người lính duy nhất bị hành quyết vì tội đào ngũ trong Thế chiến II. Những người mang trong mình một nỗi oán giận sâu sắc, không nói thành lời về những gì đã xảy ra với nước Mỹ ở Việt Nam đã biến những người chống quân dịch và đào ngũ thành đối tượng chịu đòn thay. Họ là những người bị đổ lỗi cho bi kịch của một cuộc chiến thất bại và những ảo tưởng đã mất, là biểu tượng cho sự thiếu quyết tâm chiến thắng của quốc gia. Với những người lên án khuynh hướng thách thức quyền lực của thế hệ này, người chống quân dịch và đào ngũ đại diện cho phần tệ nhất trong một nhóm vốn đã bị xem là xấu. Với những người chịu bi kịch cá nhân trong chiến tranh, đây là những người lẽ ra phải đi thay cho người thân của họ.
Dù là một biểu tượng quan trọng, người Mỹ biết rất ít về những người chống quân dịch và đào ngũ. Giống như những người lính từng tham chiến, họ là những “kẻ thua cuộc” của xã hội – chủ yếu là thanh niên da đen, ít học, đến từ các gia đình thu nhập thấp. Nếu được tư vấn tốt hơn hoặc khôn khéo hơn, phần lớn họ đã có thể tìm được một trong những lối thoát mà rất nhiều người khác đã sử dụng. Những người yếu thế không chỉ gánh vác nhiều hơn phần trách nhiệm của mình trong cuộc chiến; họ còn phải trả giá quá đắt vì không tham gia chiến đấu.

Sẽ không chính xác nếu cho rằng nhóm “lẩn tránh quân dịch” về căn bản đã làm điều gì tệ hơn 24 triệu người cùng thế hệ của họ, những người cũng tránh Việt Nam nhưng bằng các phương tiện hợp pháp. Cụm từ “lẩn tránh” nói rất ít về thái độ của từng cá nhân đối với trách nhiệm phục vụ trong quân đội. Rất nhiều người đã tránh phục vụ chiến đấu một cách hợp pháp hẳn đã trở thành người lẩn tránh nếu xuất hiện nhu cầu; khảo sát của Notre Dame cho thấy 15% tổng số người tránh quân dịch nói rằng họ sẽ nghiêm túc cân nhắc việc phạm luật nếu đó là lựa chọn duy nhất. Như một người phản kháng quân dịch nhận xét: “Hầu như mọi thanh niên ở đất nước này đều là người lẩn tránh quân dịch, người có khả năng lẩn tránh quân dịch, hoặc người đã thất bại trong việc lẩn tránh quân dịch”.
Việc dùng từ “kẻ lẩn tránh” để chỉ trích là không phù hợp với nhiều nhóm lớn những người vi phạm trong thời kỳ Việt Nam. Khoảng một phần ba tổng số người chống quân dịch lẽ ra đã có thể tránh bị gọi nhập ngũ nhờ các diện hoãn, miễn và kẽ hở pháp lý, nhưng họ kiên quyết chấp nhận lưu vong hoặc trừng phạt như hệ quả từ niềm tin của mình. Một phần năm tổng số người đào ngũ thật ra chưa bao giờ trốn tránh việc phục vụ ở Việt Nam. Họ đã hoàn thành trọn vẹn các đợt phục vụ chiến đấu trước khi vướng vào kỷ luật quân đội khi trở về nhà, thường vì những vấn đề tái hòa nhập sau chiến đấu.
Luật pháp đã làm phần việc của nó đối với những người này. Đến giữa thập niên 1970, gần như tất cả, chỉ trừ vài nghìn người, đã trả xong cái giá pháp lý. Họ bị truy tố, bị trừng phạt và được chính thức tha thứ. Dẫu vậy, câu hỏi vẫn còn đó: liệu người dân Mỹ có tiếp tục kết án họ hay không.
Chiến tranh Việt Nam đã gây đảo lộn cuộc sống của hàng triệu người Mỹ theo cách mà phần lớn người Mỹ có thể không bao giờ hiểu hết. Về gốc rễ, cuộc chiến là tai họa cá nhân của thế hệ bị gọi ra để chiến đấu. Họ là những người phải đối mặt với những lựa chọn khủng khiếp, và họ là những người đã chịu đau khổ. “Đi cũng bị nguyền rủa, mà không đi cũng bị nguyền rủa”, Ursula Diliberto, người có con trai bị chết ở Việt Nam hai tuần trước khi kết thúc thời hạn phục vụ, nói. “Con trai tôi là một nạn nhân, gia đình tôi là một nạn nhân, tất cả những chàng trai trong độ tuổi quân dịch đều là nạn nhân theo cách này hay cách khác”.■
Lawrence M. Baskir và William A. Strauss
Anh Quốc (dịch)
Chú thích:
[1] Các cách gọi “thế hệ Dr. Spock”, “thế hệ Sputnik”, “thế hệ Pepsi” và “thế hệ Woodstock” đều là những nhãn gọi khác nhau dành cho lớp thanh niên Mỹ trưởng thành sau Thế chiến II. “Thế hệ Dr. Spock” gợi thế hệ được nuôi dạy theo các quan điểm giáo dục trẻ em của bác sĩ Benjamin Spock; “thế hệ Sputnik” gắn với thời kỳ chạy đua không gian sau khi Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik năm 1957; “thế hệ Pepsi” bắt nguồn từ hình ảnh giới trẻ năng động trong quảng cáo của Pepsi thập niên 1960; còn “thế hệ Woodstock” chỉ lớp thanh niên gắn với văn hóa phản kháng, âm nhạc rock, phong trào hippie và tinh thần chống chiến tranh, tiêu biểu là lễ hội Woodstock năm 1969 [ND]