Năm 1969 – 1970, cuộc tranh luận về tương lai của cuộc chiến ở Việt Nam ngày càng trở nên gay gắt trong đời sống chính trị Mỹ. Chính quyền Tổng thống Richard Nixon bắt đầu theo đuổi chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” với mục tiêu từng bước chuyển giao gánh nặng chiến đấu cho quân đội Việt Nam Cộng hòa để Mỹ rút dần quân về nước nhưng vẫn giữ được miền Nam Việt Nam và cả bán đảo Đông Dương trong tầm ảnh hưởng của mình. Tuy nhiên, nhiều chính trị gia và học giả phản chiến cho rằng chính sách này không phải là con đường dẫn tới hòa bình mà chỉ là một cách thức mới để kéo dài chiến tranh và sự can dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Tạp chí Phương Đông giới thiệu tới bạn đọc hai văn kiện tiêu biểu phản ánh cuộc tranh luận đó. Bài thứ nhất là phát biểu trên truyền hình của Tổng thống Richard Nixon ngày 3/11/1969, trong đó Nixon trình bày chiến lược Việt Nam hóa và bảo vệ quyết định tiếp tục theo đuổi cuộc chiến nhằm đạt được một “nền hòa bình công bằng”. Bài thứ hai là tuyên bố của Thượng nghị sĩ George S. McGovern trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ ngày 4/2/1970, trong đó ông chỉ trích gay gắt chính sách Việt Nam hóa, kêu gọi rút toàn bộ quân đội Mỹ khỏi Việt Nam và cho rằng sự hậu thuẫn của Washington cho chính quyền Sài Gòn là trở ngại chính đối với hòa bình.
Quan điểm 1: Việt Nam hóa sẽ rút ngắn chiến tranh
Richard M. Nixon
Phát biểu của Tổng thống Richard M. Nixon trên truyền hình quốc gia, ngày 3 tháng 11 năm 1969
15 năm trước, với sự hỗ trợ hậu cần của Trung Quốc Cộng sản và Liên Xô, Bắc Việt Nam đã phát động chiến dịch nhằm thiết lập một chính quyền cộng sản tại miền Nam Việt Nam bằng cách kích động và hậu thuẫn một cuộc cách mạng.
Đáp lại yêu cầu của chính phủ Nam Việt Nam, Tổng thống Eisenhower đã cung cấp viện trợ kinh tế và trang thiết bị quân sự để hỗ trợ nhân dân Nam Việt Nam trong nỗ lực ngăn chặn Cộng sản lên nắm quyền. Bảy năm trước, Tổng thống Kennedy đã cử 16.000 quân nhân đến Việt Nam với vai trò cố vấn chiến đấu. Bốn năm trước, Tổng thống Johnson đã điều lực lượng tác chiến của Mỹ đến Nam Việt Nam…
Vì những lý do này, tôi bác bỏ đề nghị chấm dứt chiến tranh bằng cách rút toàn bộ quân đội ngay lập tức. Thay vào đó, tôi chọn cách thay đổi chính sách của Mỹ cả trên mặt trận đàm phán và mặt trận chiến đấu…
Trở ngại cho hòa bình
Rõ ràng trở ngại trong việc đàm phán chấm dứt chiến tranh không phải là Tổng thống Hoa Kỳ. Và cũng không phải là phía Nam Việt Nam.
Trở ngại nằm ở chỗ phía bên kia nhất định không chịu thể hiện một chút thiện chí nào để cùng chúng ta tìm kiếm một nền hòa bình công bằng. Họ vẫn sẽ giữ thái độ đó chừng nào họ còn tin rằng tất cả những gì họ cần làm là chờ đợi chúng ta nhượng bộ hết lần này đến lần khác cho đến khi họ đạt được mọi thứ mình muốn.
Lúc này, không nghi ngờ gì nữa, mọi tiến triển trên bàn đàm phán chỉ phụ thuộc vào việc Hà Nội có quyết định đàm phán hay không, và có đàm phán một cách nghiêm túc hay không.

Tôi hiểu rằng bản báo cáo này về những nỗ lực của chúng ta trên mặt trận ngoại giao có thể khiến nhân dân Mỹ thất vọng, nhưng nhân dân Mỹ có quyền được biết sự thật – cả tin xấu lẫn tin tốt, liên quan đến sinh mạng của những thanh niên của chúng ta.
Bây giờ tôi xin chuyển sang một báo cáo khả quan hơn về một mặt trận khác.
Vào thời điểm chúng ta bắt đầu tìm kiếm hòa bình, tôi nhận thấy chúng ta có thể không thành công trong việc chấm dứt chiến tranh thông qua đàm phán. Do đó, tôi đã khởi động một kế hoạch khác để mang lại hòa bình – kế hoạch này sẽ chấm dứt chiến tranh bất kể điều gì xảy ra trên mặt trận đàm phán.
Học thuyết Nixon
Điều này phù hợp với một thay đổi lớn trong chính sách đối ngoại của Mỹ mà tôi đã mô tả trong cuộc họp báo ở Guam vào ngày 25 tháng 7. Tôi xin được giải thích ngắn gọn về điều được gọi là Học thuyết Nixon – một chính sách không chỉ giúp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam mà còn là yếu tố thiết yếu trong chương trình của chúng ta nhằm ngăn chặn những tình thế như ở Việt Nam xảy ra trong tương lai.
Người Mỹ chúng ta là một dân tộc thích tự làm mọi việc. Chúng ta là một dân tộc thiếu kiên nhẫn. Thay vì dạy người khác làm một công việc, chúng ta thích tự tay làm. Và đặc điểm này đã được thể hiện trong chính sách đối ngoại của chúng ta.
Tại Hàn Quốc và sau đó là Việt Nam, Hoa Kỳ đã cung cấp phần lớn tiền bạc, vũ khí và nhân lực để giúp người dân các nước này bảo vệ tự do chống lại sự bành trướng của cộng sản.
Trước khi quân đội Hoa Kỳ được triển khai tới Việt Nam, một lãnh đạo của một quốc gia châu Á khác đã bày tỏ quan điểm này với tôi khi tôi đang đi du lịch ở châu Á với tư cách là một công dân bình thường. Ông nói: “Nếu ngài đang cố gắng giúp đỡ một quốc gia khác bảo vệ tự do của họ, chính sách của Mỹ nên là giúp họ chiến đấu chứ không phải chiến đấu thay cho họ”.
Vâng, theo lời khuyên sáng suốt này, tại Guam tôi đã đưa ra ba nguyên tắc làm kim chỉ nam cho chính sách tương lai của Mỹ đối với châu Á:
Thứ nhất, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thực hiện đầy đủ mọi cam kết theo các hiệp ước của mình.
Thứ hai, chúng ta sẽ cung cấp lá chắn nếu một cường quốc hạt nhân đe dọa tự do của một quốc gia đồng minh với chúng ta hoặc của một quốc gia mà sự tồn tại của họ được chúng ta coi là tối quan trọng đối với an ninh của mình.
Thứ ba, trong các trường hợp liên quan đến các hình thức gây hấn khác, chúng ta sẽ cung cấp hỗ trợ quân sự và kinh tế khi được yêu cầu, phù hợp với các cam kết theo hiệp ước. Nhưng chúng ta sẽ trông đợi quốc gia bị đe dọa trực tiếp phải đảm nhận trách nhiệm chính trong việc cung cấp nhân lực cho công cuộc phòng vệ của mình.
Sau khi tôi công bố chính sách này, tôi nhận thấy các lãnh đạo của Philippines, Thái Lan, Việt Nam, Hàn Quốc và các quốc gia khác có thể bị đe dọa bởi sự gây hấn của cộng sản đều hoan nghênh hướng đi mới này trong chính sách đối ngoại của Mỹ.
Việt Nam hóa
Bảo vệ tự do là trách nhiệm của tất cả mọi người – không phải của riêng nước Mỹ. Và đó đặc biệt là trách nhiệm của những người có tự do đang bị đe dọa. Trong chính quyền trước, chúng ta đã Mỹ hóa cuộc chiến ở Việt Nam. Trong chính quyền này, chúng ta đang Việt Nam hóa cuộc tìm kiếm hòa bình.
Chính sách của chính quyền tiền nhiệm không chỉ khiến chúng ta phải gánh vác trách nhiệm chính trong cuộc chiến mà quan trọng hơn, còn không chú trọng đầy đủ đến mục tiêu tăng cường sức mạnh cho Nam Việt Nam để họ có thể tự vệ khi chúng ta rút lui.
Kế hoạch Việt Nam hóa được khởi động sau chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Melvin R. Laird vào tháng 3. Theo kế hoạch này, trước hết tôi đã ra lệnh đẩy mạnh công tác huấn luyện và trang bị cho lực lượng vũ trang Nam Việt Nam.
Vào tháng Bảy, trong chuyến thăm Việt Nam, tôi đã thay đổi các chỉ thị dành cho Tướng Abrams để chúng phù hợp với những mục tiêu của chính sách mới của chúng ta. Theo các chỉ thị mới, nhiệm vụ chủ yếu của quân đội chúng ta là tạo điều kiện để các lực lượng Nam Việt Nam đảm nhận hoàn toàn trách nhiệm về an ninh của Nam Việt Nam.
Các hoạt động không quân của chúng ta đã giảm hơn 20%.
Và giờ đây, chúng ta đã bắt đầu chứng kiến những kết quả của sự thay đổi chính sách đối với Việt Nam mà lẽ ra Hoa Kỳ đã phải thực hiện từ lâu.
Kết quả quan trọng
Sau 5 năm đổ quân vào Việt Nam, cuối cùng chúng ta đang đưa những người lính Mỹ trở về nước. Đến ngày 15 tháng 12, hơn 60.000 quân nhân sẽ được rút khỏi Nam Việt Nam – bao gồm 20% toàn bộ lực lượng chiến đấu của chúng ta.
Lực lượng Nam Việt Nam tiếp tục được tăng cường sức mạnh. Nhờ đó, họ đã có thể tiếp nhận những trách nhiệm tác chiến từ quân đội Hoa Kỳ.
Hai diễn biến quan trọng khác cũng đã xảy ra kể từ khi chính quyền này nhậm chức.
Trong ba tháng qua, mức độ thâm nhập của đối phương – một yếu tố không thể thiếu nếu họ muốn phát động một cuộc tấn công quy mô lớn – chỉ bằng chưa đến 20% so với cùng kỳ năm ngoái.
Quan trọng nhất là, thương vong của Hoa Kỳ trong hai tháng qua đã giảm xuống mức thấp nhất trong ba năm.
Sau đây, tôi xin chuyển sang chương trình của chúng ta cho tương lai.
Chúng ta đã thông qua một kế hoạch được xây dựng với sự hợp tác của phía Nam Việt Nam nhằm rút toàn bộ lực lượng tác chiến trên bộ của Hoa Kỳ và thay thế bằng lực lượng Nam Việt Nam theo một lịch trình có trật tự. Việc rút quân này sẽ được thực hiện từ thế mạnh chứ không phải từ thế yếu. Khi lực lượng Nam Việt Nam mạnh lên, tốc độ rút quân của Hoa Kỳ có thể được gia tăng.
Không có lịch trình rút quân
Tôi chưa và cũng không có ý định công bố lịch trình cho chương trình của chúng ta. Có những lý do rõ ràng cho quyết định này mà tôi tin chắc quý vị sẽ hiểu. Như tôi đã nhiều lần đề cập, tốc độ rút quân sẽ phụ thuộc vào diễn biến trên ba mặt trận.
Trước hết là bước tiến có thể đạt được trong các cuộc đàm phán ở Paris. Việc công bố một lịch trình cụ thể cho việc rút quân của chúng ta sẽ loại bỏ hoàn toàn mọi động lực để đối phương đàm phán một thỏa thuận.
Họ chỉ cần chờ ta rút hết quân, rồi tiến vào.

Hai yếu tố còn lại mà chúng ta sẽ dựa vào để đưa ra các quyết định rút quân là mức độ hoạt động của đối phương và tiến độ chương trình huấn luyện các lực lượng Nam Việt Nam. Tối nay, tôi vui mừng được thông báo rằng tiến triển trên cả hai mặt trận này đều tốt hơn mức chúng ta dự liệu khi khởi động chương trình rút quân vào tháng 6. Do đó, lịch trình rút quân của chúng ta hiện nay khả quan hơn so với những dự tính ban đầu được đưa ra vào tháng 6. Điều này cho thấy rõ vì sao việc tự trói buộc mình vào một lịch trình cố định là điều không khôn ngoan.
Chúng ta phải linh hoạt đưa ra mỗi quyết định rút quân dựa trên tình hình thực tế tại thời điểm đó, chứ không phải dựa trên những dự báo đã lỗi thời.
Cùng với ước tính lạc quan này, tôi cũng phải thành thật đưa ra một lưu ý thận trọng.
Nếu mức độ hoạt động của địch gia tăng đáng kể, chúng ta có thể phải điều chỉnh lịch trình cho phù hợp.
Không có sự hiểu lầm nào
Tuy nhiên, tôi muốn làm rõ một điểm.
Vào thời điểm ngừng ném bom chỉ một năm trước, đã có một số băn khoăn về việc liệu phía địch có hiểu rằng nếu chúng ta ngừng ném bom Bắc Việt Nam thì họ sẽ ngừng pháo kích các thành phố ở Nam Việt Nam hay không. Tôi muốn chắc chắn rằng phía địch không có sự hiểu lầm nào liên quan đến chương trình rút quân của chúng ta.
Chúng ta đã ghi nhận mức độ thâm nhập của địch giảm, số thương vong của ta giảm và đang căn cứ một phần vào những yếu tố đó để đưa ra các quyết định rút quân.
Nếu mức độ thâm nhập của địch hoặc số thương vong của chúng ta gia tăng trong khi chúng ta đang cố gắng giảm quy mô chiến sự, thì đó sẽ là kết quả của một quyết định có chủ đích từ phía địch.
Hà Nội không thể mắc sai lầm nào lớn hơn việc cho rằng sự gia tăng bạo lực sẽ mang lại lợi thế cho họ. Nếu tôi kết luận rằng các hoạt động leo thang của đối phương đang gây nguy hiểm cho lực lượng còn lại của chúng ta ở Việt Nam, tôi sẽ không ngần ngại thực hiện các biện pháp mạnh mẽ và hiệu quả để đối phó với tình hình đó.
Đây không phải là lời đe dọa. Đây là tuyên bố chính sách mà với tư cách là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang của chúng ta, tôi đưa ra để thực hiện trách nhiệm bảo vệ những người lính Mỹ đang chiến đấu, dù họ ở bất cứ nơi đâu.
Chỉ có hai lựa chọn
Thưa đồng bào Mỹ, tôi tin rằng qua những điều tôi vừa trình bày, quý vị có thể thấy rằng nếu chúng ta muốn chấm dứt cuộc chiến này, thực sự chỉ có hai lựa chọn.
Tôi có thể ra lệnh rút ngay lập tức toàn bộ người Mỹ khỏi Việt Nam một cách vội vàng mà không cần quan tâm đến những hậu quả của hành động đó.
Hoặc chúng ta có thể kiên trì tìm kiếm một nền hòa bình công bằng thông qua một giải pháp đàm phán nếu có thể, hoặc thông qua việc tiếp tục thực hiện kế hoạch Việt Nam hóa nếu cần thiết – theo đó, chúng ta sẽ rút toàn bộ lực lượng khỏi Việt Nam theo một lộ trình phù hợp với chương trình của chúng ta, khi người dân Nam Việt Nam đủ mạnh để bảo vệ tự do của chính họ.
Tôi đã chọn phương án thứ hai.
Đó không phải là con đường dễ dàng.
Nhưng đó là con đường đúng đắn.
Đó là một kế hoạch sẽ chấm dứt chiến tranh và phục vụ cho sự nghiệp hòa bình – không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Thái Bình Dương và trên toàn thế giới.
Khi nói về hậu quả của việc rút quân vội vã, tôi đã đề cập rằng các đồng minh của chúng ta sẽ mất lòng tin vào nước Mỹ.
Nguy hiểm hơn nhiều, chúng ta sẽ mất tự tin vào chính mình. Phản ứng tức thời sẽ là cảm giác nhẹ nhõm khi những người lính của chúng ta được trở về nhà. Nhưng khi ta chứng kiến hậu quả của những gì mình đã làm, sự hối tiếc không thể tránh khỏi và những lời chỉ trích gây chia rẽ sẽ để lại những vết sẹo trong tinh thần của dân tộc chúng ta.
Chúng ta đã từng đối mặt với nhiều cuộc khủng hoảng khác trong lịch sử và đã trở nên mạnh mẽ hơn bằng cách từ chối lối thoát dễ dàng và chọn con đường đúng đắn để đối mặt với những thách thức. Sự vĩ đại của quốc gia chúng ta nằm ở khả năng làm những điều cần phải làm khi chúng ta biết rằng con đường mình chọn là đúng đắn.
Quan điểm 2: Việt Nam hóa sẽ kéo dài chiến tranh
George S. McGovern
Tuyên bố của Thượng nghị sĩ George S. McGovern trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, ngày 4 tháng 2 năm 1970.
Thưa Chủ tịch và các thành viên ủy ban, nghị quyết mà tôi đã đệ trình với sự đồng bảo trợ của các Thượng nghị sĩ Church, Cranston, Goodell, Hughes, McCarthy, Moss, Nelson, Ribicoff và Young của bang Ohio kêu gọi rút toàn bộ lực lượng Hoa Kỳ khỏi Việt Nam. Tốc độ rút quân chỉ bị giới hạn bởi ba yếu tố sau đây: sự an toàn của quân đội chúng ta trong quá trình rút quân, việc trao trả tù binh chiến tranh giữa các bên, và việc sắp xếp tị nạn tại các quốc gia thân thiện cho bất kỳ người Việt Nam nào có thể cảm thấy bị đe dọa bởi sự rút lui của chúng ta. (Mới đây, Bộ Quốc phòng thông báo với tôi rằng 484.000 quân nhân của chúng ta hiện đang có mặt ở Việt Nam có thể được đưa về Hoa Kỳ với tổng chi phí là 144.519.621 đô la.)
Tôi tin rằng quá trình rút quân có trật tự này có thể hoàn tất trong vòng chưa đầy một năm.

Một chính sách chủ động chấm dứt can dự như vậy là phản ứng thích hợp duy nhất trước sự thật phũ phàng rằng sẽ không có giải pháp nào cho cuộc chiến chừng nào chúng ta còn bám víu vào chế độ Thiệu – Kỳ. Chính quyền đó không có một nền tảng chính trị đáng tin cậy nào ngoài sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ và sẽ không bao giờ được chấp nhận bởi các lực lượng đối lập ở Nam Việt Nam hay ở Hà Nội.
Chúng ta có thể tiếp tục đổ máu và tiền của vào một nỗ lực vô tận nhằm duy trì chính quyền Sài Gòn, hoặc chúng ta có thể có hòa bình; nhưng chúng ta không thể vừa giữ Tướng Thiệu vừa kết thúc được cuộc chiến.
Rào cản đối với hòa bình và hàn gắn
Việc chúng ta tiếp tục duy trì sự hậu thuẫn quân sự đối với chế độ Sài Gòn là rào cản lớn nhất đối với hòa bình ở Đông Nam Á và đối với sự hàn gắn xã hội của chúng ta. Nó khiến các tướng lĩnh Nam Việt Nam không có lý do gì để thực hiện những bước đi nhằm xây dựng một chính quyền thực sự có tính đại diện, đủ khả năng cạnh tranh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng hoặc đàm phán một giải pháp chấm dứt chiến tranh. Nó làm bế tắc các cuộc đàm phán ở Paris và ngăn cản việc sắp xếp các cuộc thảo luận nghiêm túc về vấn đề trả tự do và trao đổi tù binh chiến tranh. Nó làm chúng ta xao nhãng khỏi những nhu cầu cấp thiết trong nước. Nó đưa thanh niên Mỹ đến chỗ bị thương hoặc thiệt mạng trong một cuộc chiến mà chúng ta không thể thắng và sẽ không kết thúc chừng nào lực lượng của chúng ta còn ở đó để hỗ trợ Tướng Thiệu.
Từ lâu tôi đã tin rằng sẽ không thể có giải pháp cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam cho đến khi một hình thức chính phủ liên hiệp lâm thời nào đó giành quyền kiểm soát ở Sài Gòn. Nhưng đó chính xác là điều mà Tướng Thiệu sẽ không bao giờ xem xét. Sau hội nghị Midway hồi tháng 6 năm ngoái, ông nói: “Tôi long trọng khẳng định rằng sẽ không có chính phủ liên hiệp, không có nội các hòa bình, không có chính phủ chuyển tiếp, thậm chí không có cả chính phủ hòa giải”.
Mặc dù Tổng thống Nixon đã ca ngợi Tướng Thiệu là một trong hai hoặc ba chính khách vĩ đại nhất của thời đại chúng ta, nhưng Thiệu vẫn thẳng thừng bác bỏ đề nghị mở rộng chính phủ của mình và lên án những người ủng hộ hoặc đề xuất đàm phán hòa bình là những kẻ cơ hội và phản bội thân Cộng sản. Ông nói rằng một chính phủ liên minh đồng nghĩa với cái chết.
Công thức cho cuộc chiến bất tận
Thưa Chủ tịch, chúng ta đừng tự lừa dối mình. Đây rõ ràng là một công thức dẫn đến chiến tranh không hồi kết, và việc đổi tên nó thành Việt Nam hóa vẫn trói buộc chúng ta với một chế độ không thể thắng chiến tranh, cũng như không thể kiến tạo hòa bình.
Khi các quan chức chính quyền bày tỏ quan điểm rằng lực lượng tác chiến Hoa Kỳ có thể rút khỏi Việt Nam vào cuối năm 1970, Tướng Thiệu đã tổ chức một cuộc họp báo vào tháng trước và khẳng định rằng đây là một “mục tiêu bất khả thi và không thực tế”, và việc rút quân “sẽ mất nhiều năm”.

Tuy nhiên, quan điểm cho rằng đường lối của Mỹ ở Đông Nam Á không còn là vấn đề nữa, rằng chính sách Việt Nam hóa hứa hẹn sẽ sớm chấm dứt chiến sự, vẫn đang được nhiều người ủng hộ. Đó là một hy vọng hão huyền, nhất là khi nhìn vào lập trường của đồng minh chúng ta ở Sài Gòn cũng như những bài học bi thảm của thập kỷ qua.
Theo như tôi hiểu đề xuất này, Việt Nam hóa chỉ cho phép rút quân Mỹ khi lực lượng vũ trang Sài Gòn chứng minh được khả năng đảm nhận cuộc chiến. Tuy nhiên, phần lớn bằng chứng cho thấy người dân Việt Nam không cảm thấy chế độ Sài Gòn đáng để họ chiến đấu bảo vệ. Nếu không có sự ủng hộ của người dân địa phương, “Việt Nam hóa” sẽ trở thành kế hoạch triển khai quân đội Mỹ vĩnh viễn, chứ không phải là chiến lược dừng can thiệp. Tổng thống đã tạo ra một nhánh quyền lực thứ tư của chính phủ Mỹ bằng cách trao cho Sài Gòn quyền phủ quyết đối với chính sách đối ngoại của Mỹ.
Theo tôi, nếu chúng ta tiếp tục chính sách hiện tại ở Việt Nam, một lực lượng Hoa Kỳ với khoảng 250.000 đến 300.000 người vẫn sẽ hiện diện ở Đông Nam Á trong 15 hoặc 20 năm nữa, hoặc có thể là vô thời hạn. Trong khi đó, hỏa lực và các cuộc oanh tạc của Mỹ sẽ giết thêm hàng chục nghìn người Việt Nam, những người chỉ mong chiến tranh kết thúc. Tất cả chỉ để cứu vãn một chế độ Sài Gòn tham nhũng và không mang tính đại diện.
Bất kỳ sự leo thang quân sự nào từ phía Hà Nội hoặc Việt Cộng đều sẽ đặt ra thách thức cho lực lượng Mỹ, đòi hỏi Mỹ phải hành động quân sự mạnh mẽ hơn và do đó, phải gánh chịu thương vong lớn hơn, hoặc chúng ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ rút lui trong thế bị ép buộc với một cái giá rất đắt.
Những tiền đề sai lầm của chính sách Việt Nam hóa
Chính sách Việt Nam hóa dựa trên những tiền đề sai lầm tương tự đã dẫn đến thất bại của các nỗ lực quân sự trước đây của chúng ta tại Việt Nam. Nó cho rằng chế độ Thiệu – Kỳ ở Sài Gòn đại diện cho tự do và được nhân dân ủng hộ. Chế độ Sài Gòn thực ra là một chế độ độc tài đàn áp, bỏ tù những người chỉ trích và cản trở sự hình thành một chính phủ đa thành phần. Ngày 20 tháng 6 năm ngoái, Bộ trưởng Đặc trách Liên lạc Quốc hội Sài Gòn, ông Võ Hữu Thu, xác nhận có 34.540 tù chính trị đang bị giam giữ và nhiều người trong số họ không phải là Cộng sản mà chỉ “phạm tội” kêu gọi một tương lai hòa bình trung lập cho đất nước. Tính theo tỷ lệ dân số, số tù chính trị bị Sài Gòn giam giữ tương đương với nửa triệu tù chính trị ở Hoa Kỳ.
Chế độ Thiệu – Kỳ không hề gần gũi với lý tưởng Mỹ hơn đối thủ của nó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Quả thật du kích Việt Nam và những người ủng hộ họ có tinh thần tự quyết và độc lập hơn nhiều so với phe chính phủ Sài Gòn.

Tôi chưa bao giờ cảm thấy lợi ích và lý tưởng của nước Mỹ được đại diện bởi các tướng lĩnh Sài Gòn hay những người tiền nhiệm tham nhũng của họ. Chúng ta nên chấm dứt ủng hộ chế độ này ngay bây giờ và ngừng nói với người dân Mỹ rằng nó đại diện cho tự do.
Tôi muốn làm rõ rằng tôi phản đối cả nguyên tắc lẫn thực tiễn của chính sách Việt Nam hóa. Tôi phản đối chính sách này, bất kể nó có hiệu quả theo tiêu chuẩn của những người ủng hộ hay không. Tôi phản đối vì thấy đó là một chính sách vô đạo đức và tự hủy hoại, khi nó cung cấp vũ khí hay máu của người Mỹ để duy trì một chế độ nước ngoài tham nhũng và không đại diện cho người dân. Việc duy trì một chính phủ như vậy không phục vụ lợi ích của cả người dân Mỹ lẫn người dân Việt Nam.
Tôi cho rằng việc chúng ta tạo ra một nhóm tướng lĩnh Việt Nam lệ thuộc tại Sài Gòn rồi trao cho họ những công nghệ quân sự chết chóc để sử dụng chống lại chính đồng bào mình là điều đáng ghê tởm cả về mặt đạo đức lẫn chính trị.
Về bản chất, Việt Nam hóa là một nỗ lực nhằm xoa dịu lương tâm của người dân Mỹ trong khi chính phủ của chúng ta tiến hành một cuộc chiến tranh ủy nhiệm tàn nhẫn và không cần thiết.
Một chính sách đối ngoại sáng suốt của Mỹ sẽ chấm dứt nỗ lực áp đặt kết quả cho một cuộc đấu tranh về bản chất là vấn đề nội bộ giữa các nhóm người Việt Nam khác nhau. Nếu chúng ta lo ngại về một mối đe dọa trong tương lai đến từ Trung Quốc đối với Đông Nam Á, hãy đủ tỉnh táo để nhận ra rằng một chính quyền độc lập mạnh mẽ, ngay cả khi được tổ chức bởi Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Hà Nội, sẽ tạo ra một rào cản đáng tin cậy hơn trước chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc so với chế độ bù nhìn yếu kém mà chúng ta đã duy trì với cái giá là 40.000 sinh mạng người Mỹ và hàng trăm nghìn sinh mạng người Việt Nam.
Ngay cả khi chúng ta có thể rút phần lớn lực lượng khỏi Việt Nam, làm sao chúng ta có thể biện minh trước Chúa và nhân loại về việc sử dụng hỏa lực khổng lồ của mình để tiếp tục một cuộc tàn sát không phục vụ lợi ích của chúng ta cũng như lợi ích của người Việt Nam?
Chính sách Việt Nam hóa là một trò lừa bịp tàn nhẫn được dựng lên để che giấu người dân Mỹ về sự phá sản của cuộc can thiệp quân sự không cần thiết vào công việc nội bộ của người dân Việt Nam. Thay vì Việt Nam hóa chiến tranh, chúng ta hãy khuyến khích Việt Nam hóa chính quyền ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta có thể làm điều đó bằng cách loại bỏ sự bảo trợ hiện đang ngăn cản các nhóm chính trị khác đảm nhận vai trò lãnh đạo ở Sài Gòn, những nhóm có khả năng thể hiện khát vọng hòa bình của người dân Việt Nam.■
Anh Dũng dịch
Nguồn: Katsiaficas, George N., ed. Vietnam Documents: American and Vietnamese Views of the War. ME Sharpe, 1992.