Việt Nam trên báo Mỹ: Chiến tranh Việt Nam đã thay đổi báo chí Mỹ như thế nào?

Đã nhiều thập kỷ trôi qua, nhưng những ký ức đau thương về cuộc chiến tranh tại Việt Nam vẫn không thôi ám ảnh những người đã từng trực tiếp đi qua chiến trận ở cả hai phía. Với nhà báo Mỹ Andrew Pearson, chúng không đơn thuần chỉ là những hồi cố cá nhân, mà còn là những bài học xương máu về đạo đức tập thể của toàn bộ những người làm báo. Tạp chí Phương Đông xin giới thiệu với bạn đọc bài viết “Chiến tranh Việt Nam đã thay đổi báo chí Mỹ như thế nào?” của Andrew Pearson, đăng tải trên The New York Times ngày 29/3/2018. Xuất phát từ việc lột tả một cách chân xác ký ức chiến trường, đến trình bày rành mạch những hệ lụy của vấn nạn đưa tin nhưng thiếu vắng thái độ thấu cảm ở các cuộc xung đột sau này, bài viết là những suy ngẫm của một phóng viên chiến trường về vai trò của báo chí trong việc giúp công chúng hình thành thái độ hoài nghi quyền lực, không mặc nhiên chấp nhận những “sự thật” được rao giảng sẵn. (Ngôn từ trong bài được giữ nguyên như bản gốc để độc giả tham khảo)

Khi tôi lần đầu đặt chân tới Sài Gòn với tư cách một nhà báo, vào năm 1963, tôi mặc nhiên cho rằng chính sách của Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản vào miền Nam Việt Nam là điều đúng đắn cần làm. Đó là nhận thức chung lúc bấy giờ, được hình thành từ tình hình thực tiễn tại châu Âu, nơi Liên Xô đã dựng nên nhiều quốc gia vệ tinh dọc theo biên giới của mình. Ban đầu, cách tôi dùng nhãn quan báo chí để nhìn cuộc chiến là “bình thường”. Một góc nhìn đúng kiểu một người Mỹ chuẩn mực.

Càng hiểu thêm về những tầng nấc phức tạp của cuộc chiến, những gì tôi viết và đưa tin càng trở nên chính xác hơn. Những người bênh vực chiến tranh có lẽ đã cho rằng tôi ngày càng trở nên gay gắt, thậm chí mang nhiều thiên kiến. Nhưng thật ra, tôi đang trở nên khách quan hơn: tôi gạt đi “bộ lọc” thân Mỹ, chống Cộng mà mình đã mang theo đến Việt Nam, tường thuật những gì mình tận mắt chứng kiến. Trong các bản tin và những thước phim tài liệu tôi thực hiện, tôi chỉ ra rằng bất chấp mọi tàn phá, đau thương và phí tổn, cuộc chiến đang bị đẩy đến bờ vực thất bại. Còn bây giờ, tôi sẽ nói thẳng: lẽ ra, nó không bao giờ nên được bắt đầu.

Trải nghiệm của tôi cũng như phần lớn, thậm chí là hầu hết các nhà báo Mỹ từng đưa tin về Chiến tranh Việt Nam, đã làm thay đổi chính cách chúng tôi làm nghề. Năm tháng trôi đi, chúng tôi nhận ra chính quyền đã thiếu hiểu biết, thậm chí sai lầm trong các vấn đề liên quan tới sống chết. Kết quả của nhận thức đó là ngày nay, giới phóng viên đang làm việc một cách hiệu quả hơn, bởi họ hiểu được diễn trình biến đổi của sự dối trá kể trên, cũng như những hệ quả mà nó để lại cho xã hội Mỹ.

Các phóng viên hiện trường Mỹ chụp ảnh một thi thể người Việt Nam trong Chiến dịch Mậu Thân ở Sài Gòn, năm 1968. Ảnh: AP

Khi nhận ra rằng không có gì diễn ra theo cách Hoa Kỳ mong muốn, tôi bắt đầu thực hiện những chương trình truyền hình cho thấy tình hình tồi tệ đến mức độ nào. Đôi khi, những người ở văn phòng New York nói với tôi: chuyện này không thể là sự thật được, vì nó trái với những gì chúng ta nghe được từ Nhà Trắng. Tôi trở thành kẻ mang tin gở. Nhưng tôi có thể thấy rõ rằng cuộc “chiến tranh đếm xác” đang dần thất bại. Anh không thể dùng xác người để mở đường tới chiến thắng giống như hồi Chiến tranh Thế giới thứ II. Lịch sử, văn hóa, sự phát triển của Đảng Cộng sản dưới thời Hồ Chí Minh – tất cả đều khác biệt so với tình thế ở châu Âu.

“Điểm cực hạn” trong cuộc “chiến tranh đếm xác” mà Tổng thống Lyndon Johnson trông chờ, cũng như Tướng William Westmoreland quả quyết với ông rằng đã gần ngay trước mắt, thực chất chỉ là một ảo tưởng, bởi những người nắm quyền ở Hà Nội có thể điều chỉnh quy mô của cuộc giao tranh theo hướng có lợi cho họ, trong khi lớp thanh niên tiếp tục xung phong ra trận, bởi họ biết họ đang chiến đấu vì điều gì. Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu không bao giờ đề bạt những sĩ quan giỏi nhất của mình, bởi ông ta sợ rằng nếu không để bạn bè thân hữu nắm quyền chỉ huy Quân đội, một cuộc đảo chính quân sự có thể diễn ra. Về phần chương trình kiến thiết quốc gia, đôi khi còn được gọi là bình định, đã không đạt đủ tiến triển để tạo ra bất kỳ khác biệt đáng kể nào.

Chính quyền Sài Gòn hầu như không nắm thực quyền ở nhiều vùng rộng lớn ở miền Nam, và cũng không phải lỗi của người dân ở đó khi mà các tướng tá VNCH chưa bao giờ có đủ khả năng quản trị. Các cuộc bầu cử đôi khi cũng được tổ chức, nhưng chúng chỉ là những vở diễn quan hệ công chúng đã được dàn xếp, nhằm phục vụ lợi ích của Washington. Dân cư sống ở nông thôn miền Nam gần như là một quốc gia thứ hai, phần lớn họ đều ủng hộ Hồ Chí Minh. Họ đã ủng hộ ông từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II, nhưng đặc biệt là kể từ khi cụ Hồ đánh bại quân Pháp vào năm 1954. Đối với họ, đó là cuộc chiến giành độc lập dân tộc; nhưng Washington lại hiểu sai hệ quả từ chiến thắng của Hồ Chí Minh và quyết định đảo ngược kết quả ấy.

Nguyễn Văn Thiệu (trái) trong buổi gặp mặt với Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson tại Trụ sở Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương ở Honolulu, Hawaii, Mỹ, ngày 19//7/1968. Ảnh: AP

Ngày nay, những người làm báo nghiêm túc với nghề đều mang theo bên mình nhận thức về lịch sử ấy, không nhất thiết là từng chi tiết cụ thể, mà là ý thức về cách nhìn ngày một thêm chín chắn của truyền thông đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam – khi họ bắt tay vào việc. Họ đọc cuốn The Best and the Brightest (tạm dịch: Những người giỏi nhất và ưu tú nhất) của David Halberstam, mô tả những quan điểm nông cạn, ngạo mạn của các quan chức chính phủ, những người nghĩ rằng mình chẳng cần phải hiểu nhiều đến thế về Việt Nam, và cũng quá bận rộn nên chỉ xem đất nước này như một mẩu địa giới trên tấm bản đồ mà họ mong muốn kiểm soát. Các phóng viên ngày nay cũng hiểu rằng các tổng thống và những cố vấn của họ do lo lắng về cuộc bầu cử kế tiếp ở Mỹ, đã sợ hãi ra sao trước viễn cảnh “để mất” một phần nào đó của thế giới vào “phe Cộng sản”; và sự hoang tưởng ấy đã góp phần kéo dài cuộc chiến như thế nào, ngay cả khi trên thực tế cuộc chiến đó đã thất bại.

Họ thấm nhuần thông điệp của Daniel Ellsberg và Pentagon Papers (Hồ sơ Lầu Năm Góc), được phơi bày qua những bản tường thuật can đảm của Neil Sheehan trên tờ The New York Times. Họ đã nghiền ngẫm những trước tác kinh điển của sử gia Bernard Fall về các cuộc chiến tranh của Pháp và Mỹ ở Đông Dương. Họ bước vào nghề với quyết tâm đem những hiểu biết từ quãng thời gian vừa qua soi rọi vào việc đưa tin về tình hình quốc tế, và hiểu rằng giới quan chức dân cử của Mỹ nhìn chung có hiểu biết rất hạn chế về những quốc gia khác.

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam sau rốt đã đặt lên vai những phóng viên trẻ, các tòa soạn báo và những đài truyền hình một gánh nặng bất thường. Quá nhiều áp lực bị dồn vào việc tường thuật những chuyển biến mới nhất của một câu chuyện đang diễn ra, đặc biệt là khi liên quan đến những cuộc xung đột hiện thời hoặc đang diễn ra âm ỉ của Hoa Kỳ tại nước ngoài. Mô hình kinh doanh của truyền thông tin tức phụ thuộc vào điều đó. Nhưng để phục vụ công chúng một cách đúng nghĩa, ngành báo chí cần có thời gian và không gian để cho phép các phóng viên đưa vào những bản tin nước ngoài một bối cảnh rộng lớn hơn. Nếu không, tin tức sẽ trở thành kiểu tường thuật tuyến tính “họ đến chỗ này, đi chỗ kia” về các hành động quân sự – thứ không có đủ chiều sâu ý nghĩa để người Mỹ hiểu được những cuộc xung đột mới này đang đưa họ tới đâu.

Với tôi, khi tuổi đã cao, cuộc chiến cũng trở lại, một cách lộn xộn, tiềm thức tôi tự dâng lên những ký ức mà tôi chẳng hề gọi mời. Ở đây: lần ấy, tôi đang len qua một bụi tre rậm trên sườn đồi trong một buổi hành quân, khi cái nóng gay gắt như trườn bò bên trong cơ thể; vậy mà tôi uống bao nhiêu nước cũng không đủ, cứ vậy nôn mửa. Tôi đã nghĩ rằng mình sẽ chết mất thôi. Ở kia: những chiếc trực thăng chở quân đáp xuống ruộng lúa, bùn lầy sâu tới hơn 30cm, binh lính tản ra, tâm trạng căng thẳng vì đây là vùng Việt Cộng, rồi họ đốt trụi xóm làng, dù đối phương không hề chủ động tấn công, phớt lờ tiếng gào khóc của trẻ em và phụ nữ, những người đang gắng sức ngăn chặn ngọn lửa cướp đi tất cả mọi thứ, chạy vội ra giếng nước xách từng xô, hất lên những mái tranh đang bốc cháy.

Năm 1995, hai mươi năm sau ngày chiến tranh kết thúc, tôi được giao nhiệm vụ thực hiện một phóng sự kỷ niệm. Tôi chọn đến Beallsville, bang Ohio, một thị trấn nhỏ từng chịu rất nhiều thương vong. Một trong những cựu binh mà tôi tìm gặp, một lính thủy đánh bộ, ra mở cửa nhưng không mời tôi vào nhà, cũng chẳng bắt tay tôi. Tôi giải thích những gì mình đang làm: thực hiện một bộ phim cho PBS về trải nghiệm của ông và mất mát của thị trấn. Ông lắng nghe, nhưng vẻ mặt đầy thù địch. Tôi nói rằng bản thân tôi cũng từng ở Việt Nam, làm phóng viên truyền hình trong 5 năm, rải rác trong suốt hơn một thập niên. Tôi cố nghĩ xem làm thế nào để vượt qua khoảnh khắc ngượng ngập ấy, bởi đôi khi, bằng cách chia sẻ trải nghiệm, ta có thể giúp người khác nhận ra rằng ta đứng cùng phía với họ, chứ không chống lại họ. Nhưng tôi không thể vượt qua được sự thù địch của ông, dù đã bao nhiêu năm trôi qua sau khi cuộc chiến được cho là đã kết thúc. Tôi rời đi sau khi cảm ơn ông.

Có lẽ, tôi là một lời nhắc nhở về tất thảy mọi tin gở vọng ra từ Việt Nam, nhất là trên truyền hình. Tin tức khi ấy bao giờ cũng quá vắn tắt, quá thẳng thừng – một trận phục kích, một quả mìn, những người bị thương, chiếc trực thăng tải thương cố đáp đất để đưa binh lính ra ngoài. Rồi cắt cảnh sang quảng cáo. Gia đình ông có thể đã viết thư gửi ông, kể về những gì họ chứng kiến trên truyền hình và thắc mắc: ở đó có đúng như vậy hay chăng? Rõ ràng là ông oán hận tôi, có lẽ là ghét bỏ điều mà ông cho là sự xuyên tạc của báo chí về cuộc chiến mà chính ông cũng biết đến. Hoặc cũng có thể, ông hiểu những tin xấu ấy là chính xác, nhưng cũng không muốn đối diện với sự thật này.

Thường có một sự bất bình trong hàng ngũ lính bộ Hoa Kỳ đối với kiểu đưa tin “đánh nhanh rút gọn” – ý chỉ việc lấy tin và hình ảnh về trận giao tranh mới nhất bằng cách theo trực thăng bay vào, rồi bay ra khỏi chiến trường ngay trong cùng một ngày. Lối tường thuật ấy là sự phản ứng trước sức ép từ đội ngũ biên tập viên tại Mỹ: phải đưa tin ra càng nhanh càng tốt, phải vượt qua đối thủ cạnh tranh, những hãng thông tấn khác, những kênh truyền hình khác. Những phóng viên giỏi hơn thì ở lại thêm một thời gian, qua đêm cùng đơn vị, chia sẻ khẩu phần dã chiến, cái nóng và mưa rừng, kết bạn với lính trước khi rời đi. Bởi vậy, những người lính bộ cảm thấy anh không chỉ đang lợi dụng họ – như một phông nền sân khấu để mua vui cho khán giả ở quê nhà bằng chút cảnh “đùng đoàng”, như chúng tôi vẫn gọi hồi đó.

Một lính Mỹ thuộc Sư đoàn kỵ binh số 1 đốt nhà và ném bỏ vật dụng sinh hoạt của người dân Việt Nam trong một trận càn gần Tam Kỳ, Quảng Ngãi, ngày 27/10/1967. Ảnh: AP

Khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, Lầu Năm Góc kết luận rằng đã có quá nhiều bản tin tiêu cực từ vùng chiến sự và từ đó quyết định hạn chế các nhà báo tiếp cận chiến trường. Những bản thông tin phát sẵn về những gì đã xảy ra sẽ do bộ phận quan hệ công chúng soạn thảo; còn các sĩ quan, được gọi là “người giám sát”, sẽ đi kèm các phóng viên để kiểm soát lộ trình di chuyển cũng như nguồn thông tin họ thu được. Một đồng nghiệp kể với tôi rằng ở Iraq, anh không được phép nói chuyện với người dân địa phương. Trong những điều kiện bị siết chặt như vậy, cũng có thể tìm hiểu xem điều gì đang thực sự diễn ra, nhưng điều này khó và mất nhiều thời gian hơn. Giờ đây, việc làm ấy cũng nguy hiểm hơn nhiều, bởi chiến tranh đã ngày càng trở nên bạo lực hơn.

Làm báo tử tế bao giờ cũng khó, nhưng hiện nay đã xuất hiện một thế hệ phóng viên mới không xem bất kỳ điều gì là hiển nhiên, nhờ những gì họ biết về Việt Nam. Công việc của họ hiện diện ở khắp nơi: trên những nhật báo uy tín nhất, trên truyền hình cáp, trong các bản tin trực tuyến, blog và các trang thông tin điện tử. Dĩ nhiên, nghề báo cũng là nơi quy tụ đủ hạng người. Không có kỳ thi đầu vào nào cho nghề này, nên rất nhiều bản tin được thực hiện bởi những người vừa thiếu hiểu biết, vừa thiếu kinh nghiệm về những chủ đề mà họ vờ là mình thấu tỏ. Báo chí cũng chẳng tốt hơn hay tệ hơn bất kỳ thiết chế Mỹ nào khác. Nhưng những phóng viên trẻ xuất sắc nhất đã học được từ cuộc chiến tranh ở Việt Nam rằng phải chất vấn quyền lực và tự mình tìm hiểu xem điều gì đang thực sự xảy ra. Và trong một nền dân chủ, báo chí vốn dĩ phải vận hành như thế.■

Andrew Pearson
Hưng Thịnh (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN