Đoạn tư liệu dưới đây được trích từ cuốn sách Vietnam since the Fall of Saigon (Việt Nam sau khi Sài Gòn thất thủ) của William J. Duiker, nhà sử học Mỹ chuyên nghiên cứu về lịch sử Việt Nam hiện đại. Trong tài liệu này, tác giả miêu tả các chính sách chính trị, kinh tế và xã hội được triển khai ngay sau ngày đất nước thống nhất, đồng thời chỉ ra những thách thức mà chính quyền mới phải đối mặt. Bài viết thể hiện một góc nhìn học thuật khách quan về giai đoạn đầu sau năm 1975 tại Việt Nam.
Trong những tuần cuối cùng của cuộc chiến, Hà Nội khẩn trương tìm cách lấp khoảng trống sẽ xuất hiện khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ. Trong chiến dịch cuối cùng, khi những đòn tấn công sấm sét của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) ngày càng áp sát Sài Gòn, một Ủy ban Quân quản đã được thành lập dưới sự chủ trì của Tướng Trần Văn Trà, vị chỉ huy kỳ cựu của các lực lượng cách mạng miền Nam.

Mục đích hiển nhiên của việc đặt chính quyền quân sự trước chính quyền dân sự là nhằm tạo điều kiện khôi phục trật tự và loại bỏ các lực lượng trung thành với chế độ trước đó. Có những dấu hiệu cho thấy nhiệm vụ này sẽ không khó khăn. Phần lớn các nhân vật lãnh đạo chủ chốt của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (VNCH), trong đó có cựu Tổng thống Thiệu, đã rời khỏi đất nước bằng tàu biển, máy bay hoặc những chiếc trực thăng Mỹ lượn trên bầu trời Sài Gòn như những con chim khổng lồ trong giờ phút cuối của cuộc chiến. Trong số các quan chức dân sự và quân sự còn ở lại, một số ít chạy lên vùng đồi núi hoặc xuống đầm lầy để tiếp tục kháng cự, nhưng đa số chấp nhận điều không thể tránh khỏi và chờ đợi số phận của mình. Đối với toàn bộ người dân miền Nam, chắc chắn có nhiều người hoan nghênh chiến thắng của các lực lượng cách mạng; tuy nhiên, nếu các báo cáo của những quan sát viên nước ngoài có mặt tại Sài Gòn vào thời điểm chiến tranh kết thúc là đáng tin cậy, thì phần lớn dân chúng đón nhận những người cầm quyền mới không hẳn bằng lòng nhiệt tình hay nỗi sợ hãi, mà bằng tâm thế cam chịu. Nếu có một cảm xúc nào đó gắn kết phần lớn người dân miền Nam, thì đó có thể là cảm giác nhẹ nhõm thuần túy trước sự kết thúc của cuộc chiến trường kỳ. Nếu đúng như vậy, những người cộng sản sẽ có thời gian để thực hiện điều kỳ diệu của mình.
Các nhà cầm quyền mới ngay lập tức bắt tay vào việc lập lại trật tự từ tình trạng hỗn loạn. Trong những tuần đầu tiên, quyền lực hữu hình duy nhất ở miền Nam vừa được kiểm soát nằm trong tay Ủy ban Quân quản Sài Gòn gồm 11 thành viên do Tướng Trần Văn Trà đứng đầu. Tháng 6, một chính phủ dân sự do Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLT) Huỳnh Tấn Phát lãnh đạo chính thức nhậm chức. Một tháng sau, một Hội đồng Cố vấn gồm 59 thành viên được thành lập, bao gồm các thành viên của CPCMLT và các thành phần khác thuộc “lực lượng thứ ba”, vốn đã từng chống lại chế độ Thiệu. Tuy nhiên, quyền lực thực tế vẫn tiếp tục nằm trong tay Ủy ban Quân quản và Đảng, được đại diện phía sau hậu trường bởi Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị và là người phụ trách hoạt động của Đảng ở miền Nam từ năm 1967.
Một trong những vấn đề cấp bách mà chế độ mới phải đối mặt là tình trạng thiếu cán bộ có kinh nghiệm. Phong trào cách mạng đã chịu tỷ lệ tổn thất cao trong những năm cuối của cuộc chiến, hệ quả của cuộc Tổng tiến công Tết, khiến tổ chức này ước tính thiệt hại khoảng 40.000 người, phần lớn thuộc các đơn vị địa phương, và hệ quả của Chương trình Phượng Hoàng – một chiến dịch do Hoa Kỳ bảo trợ nhằm làm suy yếu cơ sở hạ tầng cộng sản thông qua các vụ ám sát. Đến cuối cuộc chiến, số lượng đảng viên ở miền Nam được cho là đã giảm từ mức cao hơn 400.000 xuống còn khoảng 200.000, tức chỉ chiếm khoảng 1% tổng dân số khu vực.
Sự thiếu hụt nhân sự được đào tạo dường như đã gây ra một số khó khăn cho chính quyền cách mạng mới trong nỗ lực thiết lập bộ máy ở cấp cơ sở. Mô hình tổ chức điển hình được chế độ sử dụng để xây dựng chính quyền cách mạng ở cấp cơ sở là Ủy ban nhân dân cách mạng. Các ủy ban này, được thành lập ở mọi cấp và bao gồm các đảng viên cùng những thành viên khác trong cộng đồng địa phương được xem là trung thành với mục tiêu cách mạng, được giao trách nhiệm thiết lập chính quyền cách mạng và duy trì luật pháp, trật tự trước khi tổ chức bầu cử và thành lập các hội đồng địa phương do dân bầu. Tại miền Nam, các ủy ban cách mạng được thành lập theo nhiều cách khác nhau. Trong một số trường hợp, ủy ban được hình thành từ các nhà hoạt động cách mạng có liên hệ với tổ chức Đảng. Trong những trường hợp khác, do thiếu cán bộ đảng, các ủy ban cách mạng xuất hiện một cách tự phát. Theo một bài viết trên tạp chí lý luận của Đảng, Tạp chí Cộng sản, thậm chí có những ủy ban được thành lập “từ những phần tử phản động giả danh cách mạng”. Ở một số địa bàn, nhiều ủy ban cách mạng cùng cạnh tranh quyền lực, và như tác giả bài viết nói trên phàn nàn, thường rất khó phân biệt đâu là tổ chức chân chính và đâu là tổ chức giả mạo.
Để lập lại trật tự trong bối cảnh có nguy cơ hỗn loạn, nhà chức trách đã cử cán bộ xuống cấp cơ sở nhằm xây dựng chính quyền cách mạng từ nền tảng. Ở những nơi thiếu nhân sự có kinh nghiệm, các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) đảm nhiệm cùng chức năng này. Các tổ công tác cán bộ hoặc các đơn vị QĐNDVN đến từng nhà để đăng ký nhân khẩu và xác định những phần tử phản động để tách ra và có thể xử lý. Sau đó, các gia đình được phân loại theo mức độ trung thành đối với trật tự mới và được xếp vào các “tổ đoàn kết”, nằm dưới sự quản lý của ủy ban cách mạng ở cấp địa phương. Tiếp theo, một bộ máy hành chính chính thức được thiết lập nhằm chuẩn bị cho việc tổ chức bầu cử địa phương, bắt đầu diễn ra từ tháng 7/1975.
Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chính quyền cách mạng mới ở cấp cơ sở là duy trì trật tự và phát hiện các nguồn chống đối tiềm tàng đối với chế độ mới. Thông thường, nhiệm vụ này do các lực lượng tự vệ được tổ chức tại địa phương, gọi là dân quân, đảm nhiệm; lực lượng này được mô tả là “công cụ chuyên chính của chính quyền cách mạng”, có thẩm quyền “trực tiếp trấn áp phản cách mạng tại chỗ”. Khi cần thiết, các đơn vị QĐNDVN đóng gần đó có thể được điều động hỗ trợ. Ở phần lớn các khu vực, sự kháng cự rất ít hoặc hầu như không có, mặc dù có những báo cáo về sự chống đối tại Tây Nguyên và gần thành phố Mỹ Tho ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi có đông đảo tín đồ Hòa Hảo.

Nhìn chung, những cá nhân bị nghi ngờ sẽ không tuân thủ trật tự mới, chẳng hạn như quan chức chế độ cũ hoặc thành viên lực lượng vũ trang VNCH, được yêu cầu trình diện chính quyền. Sau đó, họ được phân loại theo nhiều nhóm khác nhau. Những người không bị xem là nguồn đối kháng tiềm tàng được cho phép trở về nhà và chờ chỉ thị tiếp theo; phần lớn sau đó tham gia các khóa học chính trị ngắn hạn về chủ nghĩa Mác-Lênin. Những người khác được yêu cầu đến các trại cải tạo, thường trong vài tuần để học tập chính trị. Các trường hợp bị đánh giá là nghiêm trọng hơn được đưa đến các trại lao động biệt lập, nơi họ dự kiến phải ở lại trong thời gian dài.
Tổng số người miền Nam phải đi học tập cải tạo lên tới hơn 1 triệu người. Dưới 150.000 người ủng hộ chế độ cũ đã rời khỏi đất nước trong những tuần cuối cùng của cuộc chiến. Ban đầu, nhiều người không ra trình diện theo yêu cầu, hoặc bỏ trốn để gia nhập các nhóm kháng cự ở nông thôn, hoặc ở nhà chờ đợi. Tháng 6, CPCMLT báo cáo rằng có 1/3 chưa trình diện. Tuy nhiên, khi trật tự cách mạng ở địa phương dần được thiết lập, phần lớn những người này đã được xác định, và đến cuối năm, ít nhất 1 triệu người từng ủng hộ hoặc làm việc cho chính quyền Sài Gòn đã trình diện đăng ký.
Nhìn chung, chính quyền cách mạng được thiết lập với rất ít bằng chứng về tình trạng đổ máu trên diện rộng. Hàng trăm nghìn đối tượng bị xem là có khả năng chống đối đã bị đưa vào các trại cải tạo; những tin tức rải rác được truyền về gia đình họ cho biết điều kiện trong trại còn thô sơ và đôi khi khắc nghiệt, nhưng hiếm có các phiên tòa xét xử các nhân vật nổi tiếng hoặc các vụ hành quyết công khai. Dương Văn Minh được cho là sống trong tình trạng bị giám sát. Chế độ mới cũng tiến hành tập trung những “thành phần không mong muốn” như người ăn xin, trẻ bụi đời, nữ tiếp viên quán bar và gái mại dâm. Tuy nhiên, để tránh gây hoảng loạn, không có dấu hiệu nào của một chiến dịch bắt bớ hàng loạt hay một cuộc “tắm máu” mà nhiều người từng lo sợ. Trong một số trường hợp, những kẻ cực đoan cách mạng đã đi khắp trung tâm Sài Gòn – nay được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh – tấn công các thanh niên ăn mặc theo kiểu phương Tây. Theo các bản tin báo chí, một số người bị lôi xuống khỏi xe buýt rồi bị cắt tóc dài và xé rách quần áo theo phong cách phương Tây. Tuy nhiên, các chỉ thị của chính phủ nhanh chóng xuất hiện trên báo chí, cảnh báo rằng những hành vi quá khích như vậy sẽ bị xử lý nghiêm khắc.
Mặt khác, chế độ mới khẩn trương loại bỏ hoặc ít nhất làm giảm bớt “cỏ dại độc hại” của văn hóa tư sản phương Tây và gieo trồng hạt giống của một nền văn hóa xã hội chủ nghĩa mới và tốt đẹp. Những cuốn sách phản ánh ảnh hưởng phương Tây bị thu khỏi các hiệu sách và thư viện. Việc phát những thể loại âm nhạc phương Tây “phản cảm” nhất, chẳng hạn như rock’n’roll, bị cấm. Theo một báo cáo, các đài phát thanh Sài Gòn – nay đặt dưới sự kiểm soát của Đảng – chỉ được phép phát nhạc phương Tây hai giờ mỗi ngày, nhịp điệu cùng ca từ đều được điều chỉnh giảm nhẹ. Công cụ chủ yếu để kiểm soát hành vi và truyền tải các giá trị văn hóa cho thế hệ trẻ dĩ nhiên là giáo dục. Trong một thời gian ngắn, toàn bộ hệ thống trường học bị đóng cửa; giáo viên phải tham gia các khóa học cải tạo tư tưởng trước khi được cấp phép giảng dạy dưới chế độ mới. Khi trường học mở cửa trở lại, học sinh được phát sách giáo khoa mới, được khẩn trương chuyển từ miền Bắc vào để thay thế các sách cũ đã bị thu hồi. Một chương trình học mới được áp dụng, dựa trên hệ thống đang được sử dụng ở miền Bắc.

Cuối cùng, chế độ mới thực hiện một loạt biện pháp nhằm kiểm soát các nguồn hoạt động chính trị độc lập hoặc thù địch tiềm tàng. Tất cả các đảng phái chính trị được thành lập dưới chính quyền trước đó đều bị cấm. Một số tổ chức bán chính trị thuộc “lực lượng thứ ba” – nhiều tổ chức trong đó từng có cảm tình với phong trào cách mạng – bị giải thể hoặc sáp nhập vào các tổ chức quần chúng mới do nhà nước kiểm soát. Chính quyền tuyên bố sẽ bảo đảm tự do tôn giáo, nhưng không lâu sau đó các hoạt động mang tính thế tục của những tổ chức tôn giáo như Giáo hội Công giáo, Giáo hội Phật giáo Thống nhất, cũng như các giáo phái Hòa Hảo và Cao Đài sẽ bị đặt dưới sự giám sát chặt chẽ hoặc bị cấm. Trong trường hợp Hòa Hảo, từ lâu được xem là một trong những nhóm có tổ chức thù địch nhất với cách mạng, cơ cấu tổ chức trung ương của giáo hội bị giải tán, một số lãnh đạo chủ chốt bị bắt giữ. Việc hành lễ được cho phép, nhưng chỉ ở cấp độ cá nhân.
Thúc đẩy phục hồi kinh tế
Một thách thức khác quan trọng đối với chế độ là kích thích phục hồi kinh tế sau nhiều năm chiến tranh. Trong những năm cuối của cuộc xung đột, nền kinh tế miền Nam, từ lâu được duy trì nhờ nguồn viện trợ dồi dào của Hoa Kỳ, đã dần suy thoái. Tăng trưởng công nghiệp đình trệ. Sản xuất lương thực, do bị cản trở bởi chiến sự ở nông thôn, thấp hơn nhiều so với mức cần thiết để tự túc lương thực. Tình trạng thất nghiệp lan rộng. Trong những năm cuối chiến tranh, hàng nghìn nông dân rời bỏ làng quê, chạy ra thành phố để tránh giao tranh ở nông thôn. Làn sóng người tị nạn từ các vùng quê làm trầm trọng thêm vấn đề thất nghiệp vốn đã nghiêm trọng trong số cư dân đô thị làm việc trong các ngành dịch vụ gắn với sự hiện diện của người Mỹ. Khi khách hàng của họ rời đi và “sợi dây rốn” gắn với nền kinh tế Mỹ bị cắt đứt, nguồn sinh kế của họ cũng chấm dứt. Theo ước tính của phía cộng sản, vào cuối chiến tranh có khoảng 8 triệu người Việt Nam – chiếm 34% tổng dân số miền Nam – sinh sống tại các đô thị. Trong quá trình đó, dân số Sài Gòn tăng từ dưới 1 triệu người vào thập niên 1950 lên hơn 4 triệu người vào năm 1975.
Hệ quả của làn sóng rời bỏ nông thôn thể hiện rất rõ ràng: nhiều làng mạc hầu như bị bỏ hoang và sản lượng nông nghiệp suy giảm đáng kể. Theo một ước tính của phía cộng sản, sản xuất nông nghiệp năm 1975 chỉ chiếm khoảng 10% tổng sản phẩm quốc gia của VNCH. Trong bối cảnh miền Bắc đông dân thường xuyên thiếu lương thực, việc khôi phục miền Nam giàu lúa gạo trở lại vai trò lịch sử là “vựa lúa” của Việt Nam rõ ràng là ưu tiên cao của lãnh đạo Đảng. Đối với chế độ mới, giải pháp hợp lý là đảo ngược dòng di cư và khuyến khích những người tị nạn trở về quê nhà.
Phương tiện chủ yếu được sử dụng để tái lập dân cư ở nông thôn là thành lập các “Vùng Kinh tế Mới”. Khái niệm này bắt nguồn từ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất vào đầu thập niên 1960, khi các nhà hoạch định ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) kêu gọi xây dựng các trung tâm đô thị quy mô trung bình kết hợp cả sản xuất lương thực và công nghiệp. Được thiết lập ở cấp huyện, các trung tâm dân cư mới này (được mô tả là “đô thị hóa nông thôn”) dự kiến đặt tại những khu vực kém phát triển ở miền núi và cao nguyên, nhằm đưa đất hoang vào canh tác và tạo ra các tâm điểm phát triển công nghiệp, hoặc ít nhất đạt được mức tự cung tự cấp công nghiệp tại địa phương ở nông thôn. Kế hoạch được khởi xướng từ năm 1961. Mặc dù gặp trở ngại do quy hoạch chưa tốt và do nông dân không muốn rời bỏ quê quán, đến cuối chiến tranh, chương trình này đã di chuyển được gần 1 triệu nông dân từ khu vực đồng bằng sông Hồng đông đúc lên vùng núi hoặc trung du, qua đó hình thành vài trăm hợp tác xã nông nghiệp và khai phá hơn 100.000 hecta đất hoang.
Khi hòa bình lập lại, khái niệm Vùng Kinh tế Mới được khôi phục như một biện pháp giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế ở miền Nam. Các kế hoạch được khẩn trương soạn thảo nhằm thiết lập các Vùng Kinh tế Mới tại những tỉnh thưa dân trên khắp miền Nam Việt Nam. Trong khi một số được đặt tại đồng bằng sông Cửu Long hoặc dọc theo duyên hải miền Trung, thì phần lớn được thành lập ở khu vực Tây Nguyên thưa thớt dân cư hoặc tại các vùng chân núi dọc biên giới Campuchia, nơi tác động của chiến tranh đặc biệt nghiêm trọng. Về mặt lý thuyết, địa điểm được lựa chọn dựa trên tiềm năng kinh tế, nhưng có khả năng các yếu tố chính trị và an ninh thường xuyên được tính đến. Khi các khu vực này đã được các tổ cán bộ chuẩn bị sẵn sàng cho việc định cư, chính phủ sẽ tuyển mộ những người tình nguyện, cung cấp cho họ hạt giống, nông cụ, vật liệu xây dựng và lương thực đủ trong vài tháng. Để chuẩn bị cho việc chuyển đổi cuối cùng thành các nông trại tập thể, phần lớn đất đai được quản lý chung, nhưng mỗi gia đình được phân một mảnh đất riêng để sử dụng.

Các nguồn tin của chính phủ cho biết mục tiêu cuối cùng là định cư tới 2 triệu người tại các vùng dân cư mới. Theo quy định, việc tuyển mộ phải dựa trên tinh thần tự nguyện, nhưng không lâu sau đó đã xuất hiện những lời phê bình trên báo chí rằng một số nhóm công dân – gồm thành viên của chế độ cũ, các nhóm thiểu số, người nghèo và những người không thể tìm được việc làm – bị cưỡng ép tuyển chọn. Vấn đề trở nên trầm trọng hơn khi xuất hiện các báo cáo phản ánh tình trạng chuẩn bị yếu kém của cán bộ, thiếu thốn cơ sở vật chất và khó khăn kinh tế tại các khu định cư mới. Khó khăn này thường đặc biệt nghiêm trọng đối với cư dân đô thị, nhiều người trong số họ là Hoa kiều, vốn không quen với những điều kiện khắc nghiệt của đời sống nông thôn. Tuy vậy, đến cuối năm, chính phủ tuyên bố rằng đã có nửa triệu người dân Việt Nam được chuyển đi theo chương trình mới này.
Một nhiệm vụ quan trọng thứ hai của chế độ mới là thúc đẩy sản xuất công nghiệp và tăng lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế. Ở một mức độ nào đó, điều này đơn giản là vấn đề củng cố lòng tin trong giới kinh doanh. Một trong những hành động đầu tiên của chính quyền mới tại Sài Gòn là kêu gọi các thương nhân và nhà sản xuất mở lại cửa hàng và nhà máy, đồng thời bảo đảm với họ rằng lợi nhuận của họ sẽ được chính phủ mới bảo hộ, “miễn là điều đó có lợi cho nền kinh tế quốc gia và phúc lợi của nhân dân”. Một số dự án xây dựng quy mô lớn do nhà nước sở hữu và điều hành (và trong một số trường hợp do các đơn vị QĐNDVN vận hành) được tuyên bố sẽ góp phần làm giảm tình trạng thất nghiệp và giúp nền kinh tế phục hồi. Các biện pháp ổn định tiền lương cũng được thực hiện. Các công đoàn cũ bị giải thể, thay thế bằng các “công đoàn giải phóng”.
Tuy nhiên, vấn đề khuyến khích năng lực sản xuất của nền kinh tế đô thị phải được xử lý một cách thận trọng, bởi mục tiêu lâu dài của Đảng là loại bỏ ảnh hưởng của khu vực tư nhân ở miền Nam. Chừng nào phần lớn lĩnh vực sản xuất và thương mại còn nằm dưới sự kiểm soát tư nhân, chế độ sẽ không thể ổn định giá cả và phân phối hàng hóa, cũng như không thể thiết lập các cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Tuy vậy, quá trình làm suy yếu quyền lực của tư bản tư nhân phải được tiến hành theo cách giảm thiểu những tác động kinh tế và chính trị gây xáo trộn tại các thành phố.
Những bước đi thận trọng đầu tiên nhằm thiết lập quyền kiểm soát đối với nền kinh tế đô thị ở miền Nam được thực hiện gần như ngay sau khi chính quyền cách mạng được thiết lập. Tất cả tài sản thuộc sở hữu của chính quyền VNCH bị tịch thu, các ngân hàng tư nhân cùng một số doanh nghiệp thuộc về các nhà tư bản nước ngoài bị tiếp quản. Để giảm bớt quyền lực của các nhà công nghiệp và thương nhân lớn, chính phủ phát động một chiến dịch tịch thu tài sản của giới gọi là giai cấp tư sản mại bản (được mô tả trong một bài báo là gồm các chủ ngân hàng, nhà thầu chiến tranh, cựu tay sai đế quốc, nhà đầu tư và giới đầu cơ). Cho rằng những thành phần này có tội đầu cơ, tích trữ và các hành vi liên quan nhằm phá hoại sự vận hành hiệu quả của thị trường, chính phủ nhanh chóng loại bỏ họ bằng cách tiếp quản doanh nghiệp và tịch thu tài sản trong một chiến dịch được tờ báo hàng đầu Sài Gòn mô tả là “khó khăn, bạo lực và cực kỳ phức tạp”. Một số doanh nhân cá nhân, được mệnh danh “vua dược phẩm” hoặc “vua dây thép gai”, bị đưa ra xét xử và buộc tội với những tội danh nghiêm trọng chống lại nhân dân. Một vài người bị tử hình, có lẽ nhằm mục đích răn đe những người khác. Theo tạp chí lý luận của Đảng, tờ Học Tập (đến đầu năm 1977 đổi tên thành Tạp chí Cộng sản), mục tiêu của chiến dịch là “xóa bỏ tàn tích của chủ nghĩa thực dân mới, giai cấp tư sản mại bản, cùng những tàn dư quan liêu và quân phiệt của chế độ phong kiến”. Để ngăn chặn tình trạng hoảng loạn lan rộng trong giới kinh doanh, chế độ áp dụng chiến lược “mặt trận thống nhất” đã được chứng minh hiệu quả, và khuyến khích tầng lớp trung lưu thương nghiệp miền Nam (theo thuật ngữ Mác-xít là giai cấp tư sản dân tộc, với những “mặt tích cực” riêng cần được phát huy) “nhiệt tình tham gia đấu tranh” chống các phần tử phản động.
Tác động thực tế của chiến dịch là làm suy giảm quyền lực kinh tế của cộng đồng Hoa kiều tại miền Nam Việt Nam. Dưới chính quyền Sài Gòn, người Hoa kiểm soát một nửa tổng số hoạt động bán lẻ ở miền Nam và chiếm ưu thế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Theo một nguồn tin, 42 trong số 60 công ty lớn nhất dưới chính quyền VNCH nằm trong tay người Hoa. Mặc dù chế độ kiên quyết phủ nhận rằng chiến dịch có động cơ sắc tộc, nhiều người trong cộng đồng Hoa kiều tin rằng hành động này nhắm trực tiếp vào việc loại bỏ vai trò của họ trong nền kinh tế.
Một biện pháp thứ hai nhằm giảm ảnh hưởng của kinh tế tư nhân ở miền Nam Việt Nam là việc thiết lập một đồng tiền mới. Đồng piastre cũ bị bãi bỏ với tư cách là phương tiện trao đổi và được thay thế bằng đồng tiền mới của miền Nam. Đồng tiền mới này không được phép lưu thông trao đổi với đồng tiền đang sử dụng ở miền Bắc và được mô tả là một biện pháp tạm thời cho đến khi hai miền được thống nhất hoàn toàn. Về lý thuyết, toàn bộ số piastre do tư nhân nắm giữ ở miền Nam sẽ được đổi sang đồng tiền mới (theo tỷ lệ một đồng mới đổi lấy 500 piastre), nhưng trên thực tế, mỗi gia đình sở hữu dưới 1 triệu piastre chỉ được phép đổi tối đa 100.000 piastre (khoảng 1.000 đô la Mỹ) lấy 400 đồng mới, và phải gửi phần còn lại vào Ngân hàng Trung ương.

Tại các vùng nông thôn, chính quyền mới phải đối mặt với những vấn đề còn nghiêm trọng hơn. Việc gia tăng sản lượng lương thực ở miền Nam được coi là ưu tiên hàng đầu. Với diện tích đất canh tác lớn hơn gần 50% và khí hậu thuận lợi hơn so với miền Bắc, các tỉnh miền Nam được định hướng trở thành vựa lúa của nước Việt Nam thống nhất. Tuy nhiên, sự tàn phá của chiến tranh đã làm suy giảm nghiêm trọng sản lượng nông nghiệp dưới chính quyền VNCH, và trong giai đoạn từ năm 1969 đến khi ký Hiệp định Paris tháng 1/1973, Hoa Kỳ đã cung cấp cho chính quyền Sài Gòn trung bình khoảng 650.000 tấn lương thực mỗi năm.
Trước yêu cầu cấp thiết đó, chế độ mới vẫn hành động một cách thận trọng. Mặc dù có một vài báo cáo rải rác về “đấu tranh giai cấp” ở nông thôn, các hoạt động như vậy chính thức bị hạn chế, và chính quyền quyết định không phát động một chiến dịch cải cách ruộng đất trên toàn quốc tương tự như chiến dịch đã tiến hành ở miền Bắc hai thập niên trước đó. Theo tuyên bố của chính quyền, đất đai tạm thời vẫn nằm trong tay tư nhân. Một phát ngôn viên chính thức cho biết không có nhu cầu cấp bách về phân phối lại ruộng đất, vì về cơ bản quyền lực của giai cấp địa chủ ở miền Nam đã bị phá vỡ (một sự thừa nhận gián tiếp đối với chương trình “người cày có ruộng” của chính quyền VNCH vào cuối thập niên 1960, cũng như hệ quả của các chiến dịch cải cách ruộng đất trước đó của cộng sản tại các vùng giải phóng).
Vấn đề cấp bách trước mắt của chính phủ là cố gắng ổn định giá gạo và bảo đảm nguồn cung lương thực đầy đủ cho cư dân đô thị. Để đạt được mục tiêu này, các cửa hàng quốc doanh mới được thành lập nhằm thu mua và phân phối gạo, qua đó thiết lập quyền kiểm soát giá cả và lưu thông. Các thương nhân bán lẻ tư nhân được phép tiếp tục hoạt động nhưng phải xin giấy phép từ chính quyền địa phương. Nông dân cá thể bị thúc ép ký các hợp đồng tương hỗ với các cơ quan thu mua của nhà nước để cung cấp một lượng lúa định sẵn cho nhà nước. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế và giao nộp số gạo theo hợp đồng, nông dân “phải được phép tự do buôn bán phần gạo dư thừa của mình trên thị trường”.
Tuy nhiên, đối với những người tinh ý, đã có những dấu hiệu cho thấy các thay đổi tiếp theo đang đến gần. Trên báo chí xuất hiện những ý kiến về việc hình thành các hợp tác xã thử nghiệm ở nông thôn. Một bài viết trong số tháng 11/1975 của tờ Học Tập bàn về dự án thành lập các “nông trường quốc doanh quy mô lớn” và “hợp tác xã nông-công nghiệp” ở những nơi có điều kiện thích hợp, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải “từ từ, tích cực và kiên trì” thuyết phục nông dân về giá trị của hợp tác hóa. Như một bước đi đầu tiên theo hướng đó, chính phủ tuyên bố sẽ thành lập các tổ đổi công ở những nơi khả thi. Tổ đổi công – một hình thức chia sẻ công việc theo mùa giữa nông dân – trước đây từng được áp dụng ở miền Bắc nhằm giới thiệu cho nông dân những lợi ích của lao động tập thể và thường được mô tả là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình xã hội hóa.
Trong những tháng đầu nắm quyền, trên thực tế chế độ mới đang thực hiện những bước thử nghiệm đầu tiên nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Nam, đồng thời tạm thời dung nạp kinh tế tư nhân ở một mức độ đáng kể trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. Chính sách này được chính thức hóa qua tuyên bố rằng trong tương lai trước mắt, nền kinh tế Việt Nam sẽ được chia thành năm khu vực riêng biệt: (1) quốc doanh, (2) tập thể, (3) công–tư hợp doanh, (4) tư bản tư nhân, và (5) sở hữu cá thể. Một nhà bình luận nhận xét rằng do sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, sự hiện diện của các thành phần tư bản ở miền Nam có thể tạm thời được chấp nhận. Cách tiếp cận thận trọng này rõ ràng phản ánh hy vọng của Đảng rằng quyền kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế miền Nam có thể được thực hiện dần dần mà không cần phải gây xáo trộn sản xuất và không làm dấy lên tâm lý bất an trong quần chúng.■ (còn nữa)
William J. Duiker
Thanh Trà (dịch)
Nguồn: Duiker, William J. Vietnam since the Fall of Saigon. Athens, Ohio: Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Đại học Ohio, Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, 1985, trang 7-20.