Hồi cố về ngày Sài Gòn sụp đổ

Tạp chí Phương Đông xin giới thiệu tới bạn đọc trích đoạn chương 5 “Hồi cố về ngày Sài Gòn sụp đổ” trong cuốn sách Vietnam, Now: A Reporter Returns của David Lamb, xuất bản năm 2002 – một câu chuyện đa thanh về sự kiện 30/4/1975. Qua hồi ức và suy ngẫm của nhiều nhân chứng, đặc biệt là Phạm Xuân Ẩn – chiến sĩ tình báo cách mạng hoạt động trong lòng chính quyền Sài Gòn và George Esper – phóng viên người Mỹ làm việc cho tờ Associated Press, câu chuyện không chỉ tái hiện thắng lợi của cách mạng Việt Nam, mà còn mở ra những suy ngẫm sâu sắc về thân phận con người trong chiến tranh. (Ngôn từ trong bài được giữ nguyên so với bản gốc để đảm bảo giá trị nghiên cứu, tham khảo).

[…]

Vào 10 giờ sáng ngày 30/4/1975, Phạm Xuân Ẩn đang có mặt tại văn phòng của tờ Time cùng với một số sĩ quan tình báo của chính quyền miền Nam Việt Nam, nghe Đài phát thanh Sài Gòn.

“Đồng bào, xin giữ bình tĩnh”, giọng phát thanh viên vang lên. “Tổng thống sẽ sớm có một tuyên bố quan trọng”. Các phóng viên người Mỹ của tờ Time đã rời Sài Gòn hai ngày trước đó để lên máy bay di tản; lúc này, nhiệm vụ tường thuật tình hình trong những giờ cuối cùng của thành phố được giao lại cho Ẩn, nhân vật được tin cẩn và kính trọng bậc nhất trong số các phóng viên người Việt làm việc cho các hãng thông tấn phương Tây. Trong những năm chiến tranh, tôi không mấy thân thiết với Ẩn, nhưng cứ hễ khi nào tôi hỏi đồng nghiệp về lịch sử của Việt Cộng, hay cần một bản phân tích sự kiện chính trị nào đó, câu trả lời bao giờ cũng giống nhau, “Anh cứ qua bên Time mà hỏi nhờ anh Ẩn”.

Người dân Việt Nam đổ ra đường ăn mừng sau sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn ngày 30/4/1975. Ảnh: Jacques Pavlovsky

Ẩn từng làm việc cho Caltex vào năm 1952, sau đó qua Hoa Kỳ du học hai năm, rồi gia nhập Đội ngũ Cố vấn Quân sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn năm 1954 với tư cách cố vấn. Ông là một trong số rất ít phóng viên Việt Nam có thẻ hành nghề của báo chí Hoa Kỳ, các bài phóng sự của ông thì luôn được đánh giá là tuyệt đối đáng tin: chính xác, sâu sắc, mang tầm nhìn dài hạn. Ông sẵn lòng chia sẻ vốn hiểu biết mình có cho những người thậm chí còn không làm việc cho Time, đồng thời còn là một ông bạn nhậu vui hết biết – khi ta có kịp mời ông một cốc bia bên ngoài ban công khách sạn Continental.

Thông tin Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng miền Bắc được phát trên đài phát thanh không khiến Ẩn bất ngờ. Thực chất, có rất ít thứ có thể khiến Ẩn ngạc nhiên, bởi năng lực tình báo của ông cũng vững vàng chẳng kém gì khả năng làm báo. Hóa ra, Ẩn thực chất là một Đại tá Việt Cộng, từng hoạt động cho phong trào kháng chiến từ năm 1945.

“Tôi không nghĩ là có ai nghi ngờ”, 25 năm sau khi chiến tranh kết thúc, Ẩn tâm sự với tôi khi tôi bước qua cánh cổng sắt sơn xanh bao quanh căn nhà do chính phủ cấp cho ông với giá thuê 6 đô mỗi tháng. “Thậm chí vợ tôi còn chả biết. Bà ấy biết tôi có liên hệ gì đó với Mặt trận Giải phóng, nhưng không rõ chi tiết cụ thể”.

Ẩn chân trần đón tôi ngay trước cửa, trên môi là điếu Marlboro. Hồi đó, Ẩn đã 72 tuổi, gương mặt gầy và mệt mỏi bên dưới mái tóc đen nhánh. Hai con chó béc-giê Đức bao giờ cũng nối gót theo ông giờ đã không còn, mà thế vào đó là một con Rottweiler được ông gọi là Bella. Ông dẫn tôi tham quan thư phòng, nơi có những kệ sách ken đặc những đầu sách tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp: Last Reflections on a War của Bernard Fall, The Best and the Brightest của David Halberstam, A Bright Shining Lie của Neil Sheehan, Brother Enemy của Nayan Chanda, Vietnam: A History của Stanley Karnow. Có hai tựa sách khiến tôi không khỏi giật mình chú ý: Is South Vietnam Viable? và How to Stay Alive in Vietnam. Giấy tờ, thư từ trải kín mặt bàn làm việc của ông, đến mức khó có thể đoán được là ông đang vô cùng bận rộn, hay chỉ đơn giản là chưa kịp sắp xếp hết những việc cần làm.

“Ẩn à, thật lòng là tôi không biết nói sao cho phải”, tôi giãi bày, “nhưng chuyện trở thành một điệp viên hai mang không khiến anh tự thẹn với lòng hay sao? Ý tôi là, làm thế thì khác gì anh đã phản bội lại niềm tin của bạn bè anh ở Time – những người từng tin yêu anh hết mực?”.

“Không”, ông đáp. “Thực ra thì chuyện đơn giản lắm, đâu có gì phức tạp đâu. Tôi có nghĩa vụ với Tổ quốc, tôi có công việc phải làm. Tôi là một chuyên viên phân tích, không phải mật thám. Chẳng hạn, trước Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, phía Mặt trận cần một bản báo cáo chi tiết về tình hình quân sự xung quanh Sài Gòn. Quân đội Việt Nam Cộng hòa đáng gờm ra sao? Kỷ luật, tinh thần thế nào? Phía Hoa Kỳ có thể có những phản ứng gì? Tôi đã đảm nhiệm phần đó. Nghiên cứu của tôi mang tính chiến lược, chứ không phải chiến thuật. Việc của tôi cũng giống như làm việc cho RAND thôi. Tôi không phải là điệp viên. Tôi cũng không có nhiệm vụ thêu dệt nên các câu chuyện. Đó là việc của bên tuyên truyền. Chưa có bất cứ chuyện gì tôi làm có thể khiến tính mạng của một người Mỹ rơi vào vòng nguy hiểm. Tôi trung thành với cách mạng, nhưng đồng thời, tôi cũng có bạn bè và nguồn tin cần được bảo vệ ở cả hai bên”.

“Muốn làm việc cho Time, anh phải giữ được thái độ khách quan. Hiểu được điều này đã giúp tôi nhiều trên hành trình phụng sự Tổ quốc. Báo chí Mỹ rất khác với bất kỳ nền báo chí nào tôi từng biết. Anh là một phóng viên, Anh hiểu mà, một phóng viên giỏi là một phóng viên tường thuật chính xác những gì mình thấy. Anh không thể tìm cách này cách kia để biện minh. Vì thế, khi viết báo cáo cho Mặt trận, bao giờ tôi cũng tự hỏi: ‘Mình có đang khách quan không?’ Việc trở thành một phóng viên giúp tôi học hỏi được nhiều điều. Nước Mỹ cũng dạy cho tôi nhiều bài học, như là phải mở rộng cách mình tư duy”.

Phạm Xuân Ẩn trong cuộc gặp với tác giả. Ảnh: David Lamb

Năm 1945, Ẩn lên chiến khu cùng Việt Minh, trở thành Trung đội trưởng khi chỉ mới 17 tuổi. Bảy năm sau, Ẩn bắt đầu làm việc trong một đơn vị tình báo chiến lược do Hà Nội thiết lập tại miền Nam Việt Nam. Ẩn cho rằng khi Tổ quốc đang bị thực dân cai trị, quyết định nhập ngũ kháng chiến là điều chẳng cần đắn đo, do dự.

“Khi đó, mặt trận trước hết là về chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa cộng sản là thứ đến sau. Chúng tôi chiến đấu vì hai mục tiêu: chống quân Pháp xâm lược và để dân cày không còn bị hà hiếp bởi cường quyền, ác bá. Chính vì thế mục tiêu ấy cuốn hút những người trẻ như tôi hơn cả. Nó là lời thề công lý. Hồi đó, lịch sử Pháp là môn bắt buộc. Chúng tôi được dạy về Cách mạng Pháp, rồi tự kháo nhau rằng, nếu người Pháp có thể tiến hành cách mạng thành công, cớ sao chúng ta lại không thể? Mỉa mai thay, chính người Pháp đã truyền cảm hứng để chúng tôi tiến hành cách mạng chống lại nước Pháp”.

“Với những thanh niên như tôi, tranh đấu với cái bất công là thứ đơn giản nhất trên đời. Nhưng tới lúc đầu anh điểm bạc, anh nhận ra rằng không phải cái gì cũng chỉ có hai màu trắng – đen. Bây giờ thì có vẻ như tôi đã nhìn thấy cả cái khởi sự lẫn cái kết của cuộc cách mạng. Tôi hiểu ra rằng, anh không thể nghiền nát mọi bất công trong xã hội chỉ trong một sớm một chiều. Lúc này, tôi không phải người lạc quan, cũng chẳng phải là kẻ yếm thế gì cả. Tôi chỉ là kẻ hiện thực chủ nghĩa. Tôi cố gắng soi xét tất cả mọi thứ một cách khách quan nhất có thể, giống như cách tờ Time đã từng dạy tôi với tư cách của một người phóng viên”.

Đứa cháu trai 6 tuổi của Ẩn bước lại, ngồi trên thành ghế chỗ tôi. Cậu bé không cười mà cũng chẳng cau mày. Em chỉ lặng lẽ nhìn tôi bằng đôi mắt nâu mở to. Ẩn châm thêm một điếu Marlboro nữa.

Suốt 10 năm trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, đầu mối liên lạc của Ẩn với Việt Cộng là một phụ nữ lớn tuổi – người mà ông chẳng rõ họ tên cũng chưa từng một lần chuyện trò gì thêm ngoài đôi ba câu chào. Những cuộc trao đổi chớp nhoáng họ có thường diễn ra giữa dòng người tại trung tâm Chợ Lớn, hoặc trên đường Nguyễn Huệ hay Lê Lợi, nhưng không bao giờ họ chọn cùng một điểm hẹn để gặp mặt lần thứ hai. Mật thư họ trao tay được viết bằng thứ mực tàng hình, kín đáo giấu trong hộp bánh quy, trên bao thuốc lá, hoặc trong những bó hoa.

Ba hôm sau ngày Sài Gòn thất thủ, một vị Đại úy đi cùng một Trung sĩ Bắc Việt ghé qua văn phòng của tờ Time. Hai ông tỏ ra hết mực lịch thiệp, thậm chí còn thân thiện, yêu cầu người mà chính quyền Hà Nội gọi bằng mật danh Hai Trung – cùng những nhân vật khác từng làm việc cho các cơ quan Hoa Kỳ – đến trình diện tại tòa đại sứ cũ của Hàn Quốc. Ẩn không nói với họ rằng ông từng đứng về phía họ trong suốt cuộc chiến, bởi điều đó chỉ bao hàm một phần sự thật. Điều ông dành cả đời phụng sự là công lý của nền độc lập. Ông không muốn miền Bắc thống trị miền Nam, cũng không ước ao miền Nam sẽ thống trị đất Bắc. Ông không bài Mỹ, mà tin rằng Việt Nam có thể học hỏi được nhiều bài học giá trị từ phương Tây. Ẩn cũng tự hỏi rằng, liệu chủ nghĩa cộng sản có phải là điều hợp lẽ nhất đối với Việt Nam lúc này.

Chính quyền miền Bắc cho Ẩn thăng hàm tướng và đề nghị ông làm một công việc trong lĩnh vực kiểm duyệt. “Khi anh đã từng làm việc cho một nền báo chí tự do, anh sẽ không muốn làm kiểm duyệt viên. Thế nên tôi từ chối”, Ẩn giải thích. Ẩn vẫn tiếp tục nghe đài BBC và Đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA). Ông thường xuyên nhắc tới những người bạn Mỹ đã rời đi. Thậm chí, đây đó người ta còn kháo nhau rằng, trong thời khắc Sài Gòn hấp hối, ông đã giúp nhiều lính VNCH đang hoang mang cực độ có thể tìm lối thoát thân bằng đường biển. Ẩn lấy cuốn Indochina Geographic Handbook (Cẩm nang địa lý Đông Dương) từ giá sách của ông, do tình báo hải quân Anh biên soạn năm 1943, chỉ cho họ dòng chảy của hải lưu trong tháng Tư, những khu vực có khả năng xuất hiện áp thấp thời tiết, thời điểm gió mùa bắt đầu, đồng thời gợi ý cho họ một lộ trình vượt biên. Ẩn không chiến đấu chống lại bất kỳ ai. Ẩn chỉ đơn giản vì người Việt Nam.

Chính quyền cách mạng tiếp quản Sài Gòn cho Ẩn nghỉ hưu non, đồng thời cấp cho ông một căn nhà khang trang. Sự nghiệp ông vậy là kết thúc. Cuộc đời hai mang của ông bị tình báo Pháp “phanh phui” vào năm 1978; Đảng Cộng sản yêu cầu Ẩn không được trả lời bất kỳ lời mời phỏng vấn nào về vấn đề này. Thỉnh thoảng, khi một nhà báo Hoa Kỳ trở lại Việt Nam và ngỏ lời với chính phủ muốn ghé thăm Ẩn, họ đều được báo rằng Ẩn đang đau bệnh, nên không tiện tiếp chuyện. Ẩn hiếm khi rời nhà, còn đống thư từ trên bàn làm việc của ông ngày một cao thêm.

“Tôi nợ bạn bè khắp thế giới quá nhiều lá thư”, Ẩn bộc bạch cùng tôi. “Tôi nghĩ là đã 12, 13 năm nay tôi chẳng còn biên thư cho ai cả. Chuyện này tệ thật bởi tôi là người hơi đa cảm, và tôi rất nhớ các nhà báo đồng nghiệp ngày xưa. Jack Foise, Dan Sutherland, Stan Karnow – đó đều là những người tử tế. Tôi muốn viết thư trả lời họ nhưng tiếng Anh của tôi thì ngày một tệ đi. Tiếng Pháp thì còn kinh hoàng hơn nữa. Thậm chí tôi còn chả nhớ cái máy đánh chữ của tôi ở đâu. Karnow giục tôi viết hồi ký. Nhà xuất bản Random House cũng hứng thú lắm, nhưng tôi bảo họ tôi không định làm đâu. Tôi nghèo nhưng tôi đâu cần tiền. Hơn nữa, tôi không nỡ khiến những người ở cả hai bên chiến tuyến phải cảm thấy bối rối. Thậm chí kể cả khi họ đã qua đời, con cháu của họ sẽ nghĩ gì khi tôi viết những lời không hay về những bậc cha chú của họ?”.

Ẩn, một người lính lương thiện, từng tin rằng một khi người Pháp và người Mỹ sạch bóng khỏi địa giới Tổ quốc, cuộc cách mạng rồi cũng sẽ kết thúc. Ông không khỏi cảm thấy nuối tiếc vì quyền tự do ngôn luận vẫn bị kiểm soát, nhưng cũng đồng thời công nhận rằng nền kinh tế Việt Nam ngày một thêm khởi sắc và đất nước cũng ngày một tự do hơn. Tôi hỏi ông rằng theo ông, đâu là lỗi lầm tệ hại nhất mà người Mỹ mắc phải khi họ đặt chân tới miền đất này.

“Anh nhìn đi”, Ẩn nói, “một vài trong số những người Mỹ có sức ảnh hưởng nhất mà tôi từng tiếp xúc, như Colby, Lansdale, họ đều là những cá nhân trác tuyệt. Họ rất khôn ngoan, và cũng chẳng hề mù mờ về tình hình tại Việt Nam. Nhưng khôn ngoan và có thể đưa ra những quyết định đúng lại là hai điều hoàn toàn khác biệt. Lỗi lớn nhất mà người Mỹ phạm phải đó là không thấu tỏ lịch sử, văn hóa và tinh thần người Việt Nam. Họ chắc mẩm rằng sức mạnh quân sự sẽ đem lại cho họ chiến thắng, họ nào có thèm bận tâm tìm hiểu về đối thủ của mình”.

*

Vào hồi 11 giờ 10 phút sáng ngày 30 tháng 4, chiếc xe tăng T-34 đầu tiên của lực lượng cộng sản, do Bùi Đức Mai điều khiển, chở theo một kíp lái đội mũ sắt đã húc đổ cổng Dinh Độc Lập. Tổng thống Dương Văn Minh, gặp khó khăn trong việc triệu tập nội các vì các nhân viên tổng đài đã sớm tháo chạy, ngồi cùng 30 cố vấn cao cấp của mình, xếp thành hai hàng ghế, chờ đợi những người chiến thắng. “Cách mạng đã đến. Chúng tôi đã chờ các ông suốt cả buổi sáng”, ông nói.

Tại tầng thứ tư của văn phòng tờ Associated Press trên đường Nguyễn Huệ, George Esper lắng nghe bản tin đầu hàng của Dương Văn Minh được phát qua đài phát thanh Sài Gòn, run rẩy đánh máy một bản thông cáo chỉ vỏn vẹn một đoạn. Ông đưa bản tin cho nhân viên điện báo, người này mau chóng đọc qua. Quai hàm anh ta trễ xuống, hai mắt thao láo sững sờ. Anh ta lao ra cửa. Esper cùng đồng sự là Peter Arnett buộc phải vật anh ta trở lại ghế, nhất quyết không thả ra cho tới khi anh ta gửi xong bản thông cáo cho các biên tập viên của AP tại New York, loan tin rằng miền Bắc đã chiếm được Sài Gòn.

“Sau đó, tôi chạy ra phố để dò xem thái độ của mọi người”, Esper kể, hồi tưởng lại những biến cố ngày ấy trong một bài phỏng vấn. Người đầu tiên ông bắt gặp là một viên sĩ quan cảnh sát Việt Nam Cộng hòa, hai mắt long sòng sọc, hai tay vung vẩy liên hồi, miệng thét lớn, “Fini, fini!” Esper tiến lại, định đặt cho anh một câu hỏi, thì người đàn ông rút ra khẩu súng lục bên hông. “Tôi đã nghĩ là ‘Ôi Chúa ơi, gã sẽ bắn mình. Mình sống sót cả một thập kỷ ròng tại đây chỉ để chết ngay trong cái ngày mà chiến tranh kết thúc’. Cá nhân tôi không bao giờ hứng thú với vũ khí. Chúng luôn khiến tôi không khỏi bồn chồn”. Viên sĩ quan tự chĩa súng vào đầu, trịnh trọng chào điều lệnh một bức tượng lính VNCH gần đó, rồi bóp cò. Thi thể anh ta đổ gục dưới chân Esper.

Ngày 30/4/1975: George Esper (thứ hai từ phải sang), một trong những phóng viên cuối cùng của hãng tin AP ở lại Sài Gòn, đang được một người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ lại các tuyến tiến công cuối cùng vào thành phố trên bản đồ. Ảnh: Sarah Errington

Khi Esper quay trở lại trụ sở của AP, ba người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đứng đây chờ sẵn. Họ đặt những khẩu AK-47 được sản xuất tại Trung Quốc lên quầy. “Những anh lính này chỉ mới độ 21, 22 tuổi, có chút ngại ngần nhưng vô cùng thân thiện. Chúng tôi cử một phiên dịch viên phía mình để có thể hỏi họ đôi điều. Họ lôi ra một tấm bản đồ, chỉ cho chúng tôi các tuyến tiến công. Họ bảo rằng họ đã xông pha ở tiền tuyến hai năm ròng rồi. Họ lôi từ trong ví ra và chỉ cho chúng tôi xem những tấm hình chụp vợ và người yêu họ. Một anh đã làm bố. Những năm vừa qua, tôi đã từng viết về vô khối những người cộng sản không tên không tuổi, giờ đây, họ đứng trước mặt tôi, ai cũng có vẻ con người quá đỗi. Tôi nghĩ là, “Trời ơi, quá nhiều người Mỹ, người miền Bắc rồi người miền Nam cứ vậy giết chóc lẫn nhau, để rồi hóa ra ai cũng đều có những cảm giác giống nhau, và cùng sẻ chia một nỗi cô đơn đau đáu”. Đó là cách cuộc chiến này kết thúc với tôi.

[…]

*

Đối với người Mỹ, sự sụp đổ của Sài Gòn là dấu chấm hết, nhưng với người Việt Nam, đó lại là sự khởi đầu. Dẫu vậy, khi cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ Hai đi tới hồi kết, người Việt lại không tìm thấy được sự an bình mà họ luôn khát cầu. Những mối hiềm khích chưa được giải quyết cùng những mối nghi kỵ chưa được đáp lời dần dần trỗi dậy. Sự trừng phạt vẫn chưa được thực thi. Người Mỹ cũng chẳng thể tìm lại được niềm tin ngây thơ về một thời đại đã qua. Vào năm 1964, Lou Harris tiến hành một cuộc bình chọn, có tới 76% người được hỏi tin rằng “trong hầu hết mọi trường hợp, chính quyền luôn làm điều đúng”; tới năm 1976, con số đó chỉ còn lại 34%.

Trong suốt nhiều năm ròng, người Mỹ vẫn không ngừng tranh luận, rằng ai đã “để mất” Việt Nam? “Chúng tôi thực sự có ý định giúp đỡ và ổn định tình hình”, Đô đốc Noel Gayler, Tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, tuyên bố sau khi Sài Gòn thất thủ. “Nhưng mọi việc đã chệch hướng theo nhiều cách”. Có phải báo giới đã để mất Việt Nam? Những chính trị gia? Hay quân đội? Hay các nhà hoạt động phản chiến? Có lẽ, sau rốt, Việt Nam không phải là một thứ mà người ta có thể “giành lấy” theo bất kỳ cách định nghĩa thông thường nào. Hoa Kỳ đã đến đây để dập tắt một cuộc cách mạng, nhưng cuối cùng lại dung dưỡng nó. Người Mỹ tới để kiến thiết, cuối cùng lại thành phá hủy. Họ bước vào những khu rừng Việt Nam với mục tiêu giành được trái tim và tâm trí của người Việt, để rồi khi tiến hành cuộc chiến tranh dài nhất của mình – cũng là cuộc chiến đầu tiên mà họ thất bại – người Mỹ nhận ra rằng cỗ máy chiến tranh không thể thay thế cho sức sống bất diệt của tinh thần dân tộc. Chính lịch sử, chứ không phải là những tư tưởng ý thức hệ, mới là thứ định hình tương lai.■

David Lamb

Toàn Thắng (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN