Tài liệu giải mật - "Không còn gì để từ bỏ": Tình báo tín hiệu và sự sụp đổ của Sài Gòn, tháng 4/1975

Tài liệu “Nothing Left to Give Up” (Không còn gì để từ bỏ) do Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSA) công bố trong loạt tài liệu giải mật về lịch sử tình báo tín hiệu (SIGINT) Hoa Kỳ mang đến một góc nhìn đặc biệt về những tuần cuối cùng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam năm 1975, khi hệ thống SIGINT Mỹ và các đơn vị liên quan tại Nam Việt Nam đứng trước sự sụp đổ nhanh chóng của toàn bộ cấu trúc quân sự – chính trị tại Sài Gòn. Tạp chí Phương Đông trân trọng giới thiệu tới bạn đọc.

Ngày 30/4/1975, thành phố Sài Gòn, thủ đô của Nam Việt Nam, thất thủ trước lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN). Sự kiện này đánh dấu sự kết thúc của cuộc đấu tranh thống nhất Việt Nam bắt đầu từ tháng 9/1945 dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản theo chủ nghĩa dân tộc, Việt Minh, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hoa Kỳ đã can dự từ năm 1950, trước tiên là giúp đỡ Pháp giữ vững đế chế Đông Dương của họ, nhưng không thành công, rồi sau đó trực tiếp can thiệp quân sự vào năm 1965. Tháng 1/1973, Hoa Kỳ đã ký một hiệp định hòa bình với Bắc Việt Nam, cho phép Washington rút khỏi cuộc xung đột. Tuy nhiên, không ai ở Hà Nội hay Sài Gòn tin rằng có bất kỳ cơ hội nào cho một nền hòa bình lâu dài; cả hai bên đều căng thẳng chuẩn bị cho cuộc chiến cuối cùng.

Trạm chặn thu tình báo tín hiệu của Không quân Hoa Kỳ đặt tại Núi Khỉ, Đà Nẵng, thập niên 1960. Ảnh: Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ

Cuối năm 1974, sau gần hai năm xung đột gián đoạn giữa hai bên nhằm giành lợi thế quân sự và chính trị, Hà Nội đã vạch ra một kế hoạch chấm dứt chiến tranh. Theo đó, Hà Nội sẽ triển khai một cuộc tấn công quy mô lớn vào vùng Tây Nguyên, khu vực chiến lược dễ bị tổn thương của miền Nam Việt Nam. Một số chính trị gia hàng đầu ở Hà Nội lo ngại về sự can thiệp của Mỹ, đặc biệt là bằng không quân (các cuộc không kích của Mỹ đã đóng vai trò quan trọng trong việc làm chùn bước cuộc tấn công mùa xuân năm 1972 của Bắc Việt Nam). Vì vậy, họ đã lập kế hoạch cho một chiến dịch quy mô nhỏ hơn. Một cuộc tấn công ba giai đoạn sẽ bắt đầu vào cuối năm 1974. Một cuộc tấn công hạn chế dọc biên giới Campuchia – Nam Việt Nam sẽ bắt đầu vào tháng 12. Giai đoạn thứ hai sẽ bắt đầu vào tháng 3/1975, trong đó quân đội Bắc Việt Nam sẽ chiếm giữ nhiều tiền đồn ở vùng cao nguyên. Sau đó, quân đội miền Bắc sẽ củng cố vị trí của mình trong mùa mưa. Đến cuối năm 1975, họ có thể bắt đầu đợt tấn công cuối cùng với hy vọng sẽ kết thúc bằng chiến thắng vào mùa xuân năm 1976. Tuy nhiên, Bộ trưởng Quốc phòng Bắc Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã để ngỏ khả năng một “cơ hội chiến lược” sẽ xuất hiện. Khi ấy, QĐNDVN phải sẵn sàng tận dụng nó.

Tại Hoa Kỳ, dư luận cho rằng Hà Nội đang lên kế hoạch cho một cuộc tấn công cuối cùng. Một bản đánh giá tình báo quốc gia đặc biệt của CIA, ban hành vào cuối tháng 12/1974, đã khẳng định khả năng này. Bản đánh giá cũng dự đoán rằng nếu điều kiện có vẻ thuận lợi, phe cộng sản có thể huy động lực lượng dự bị chiến lược cho cuộc tấn công cuối cùng để giành chiến thắng. Đây là một đánh giá tỉnh táo về ý định của Hà Nội. Điều mà không ai có thể dự đoán được là khả năng chống cự của Sài Gòn trước các cuộc tấn công được dự đoán trước. Mặc dù lực lượng Sài Gòn đông hơn Hà Nội ở hầu hết các hạng mục quan trọng, chẳng hạn như binh lính, pháo binh và máy bay, nhưng chế độ này lại yếu kém về mặt chính trị. Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) mạnh hơn đánh giá của hầu hết các nhà phê bình, nhưng đó là một lực lượng quân sự có lịch sử phụ thuộc vào sự hỗ trợ không quân và cố vấn của Hoa Kỳ. Trong trận chiến này, cả hai yếu tố đó đều vắng bóng. Hơn nữa, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã cam kết theo đuổi chiến lược phòng thủ toàn diện trên tất cả các khu vực. Điều này, trên thực tế, đã trói buộc hầu hết lực lượng của Sài Gòn vào thế phòng thủ tĩnh. Lực lượng Hà Nội được tự do lựa chọn thời gian và địa điểm tấn công.

Bức điện mật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các đơn vị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh với thông điệp “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, ngày 7/4/1975. Ảnh tư liệu

Tại Washington, chính quyền Ford và Quốc hội không có ý định tái can thiệp vào các cuộc giao tranh sắp tới. Quốc hội Hoa Kỳ đã giới hạn số tiền viện trợ quân sự ở mức 700 triệu đô la. Các nhà phê bình cho rằng chừng đó là không đủ, nhưng tính đến thời điểm Sài Gòn thất thủ, chỉ một nửa số tiền này đã được chi tiêu. Trong bài phát biểu Thông điệp Liên bang tháng 1/1975, Tổng thống Gerald Ford thậm chí còn không nhắc đến Việt Nam, mặc dù các cuộc giao tranh khi đó vẫn đang diễn ra. Trong một cuộc họp báo vài ngày sau đó, ông nói rằng ông không thấy lý do gì để can thiệp.

Vào thời điểm này, Việt Nam đã trở thành mục tiêu thứ yếu đối với tình báo tín hiệu (SIGINT) Hoa Kỳ. Nó đã bị thay thế bởi lợi ích chiến lược ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trạm thực địa lớn cuối cùng trong khu vực, cơ sở của Cơ quan An ninh Lục quân Mỹ tại Ramasun (Thái Lan), đã bị rút đi phần lớn các nguồn lực hỗ trợ chặn thu tín hiệu […][1] Từ mức cao gần 8.000 nhân viên tình báo tín hiệu vào cuối năm 1969, đến năm 1975 chỉ còn lại chưa đến 100 người ở Nam Việt Nam […] Nhiệm vụ của họ bị giới hạn ở việc tư vấn và hỗ trợ hậu cần. Ba người làm cố vấn kỹ thuật cho các trạm thu thập tín hiệu tiền phương của tổ chức SIGINT Nam Việt Nam, được biết đến với tên gọi “trung tâm kỹ thuật”, tại Sài Gòn, Pleiku (Tây Nguyên) và Đà Nẵng (ven biển). Nhưng không có bất kỳ nguồn lực tình báo tín hiệu nào của Mỹ tại Nam Việt Nam. Sự hỗ trợ duy nhất có thể huy động được chỉ bao gồm các nhiệm vụ chặn thu tín hiệu lẻ tẻ chẳng hạn như Combat Apple […] và một số hỗ trợ từ trạm thực địa ở Ramasun, Thái Lan.

Tháng 12/1974, quân đội Bắc Việt Nam mở cuộc tiến công. Họ bao vây Phước Long. Chỉ trong vài ngày, tỉnh này đã thất thủ. Sự thiếu vắng nỗ lực mạnh mẽ của Nam Việt Nam trong việc bảo vệ tỉnh và việc Mỹ không can thiệp đã khuyến khích giới lãnh đạo Bắc Việt Nam nhắm đến một mục tiêu lớn hơn ở Tây Nguyên. Ngoài ra, trận chiến này đã thiết lập một số tiền lệ nguy hiểm […] và hiệu quả hoạt động trên chiến trường cực kỳ cao của các đơn vị tình báo thông tin chiến thuật (COMINT) của Hà Nội, được biết đến với tên gọi “đơn vị trinh sát kỹ thuật”.

Lúc này Hà Nội bắt đầu hướng tầm nhìn về Tây Nguyên. Hai thành phố Ban Mê Thuột và Pleiku là mục tiêu hợp lý. Các nhà hoạch định quân sự cộng sản đã chọn chiếm Ban Mê Thuột, nằm ở phía nam Pleiku. Nếu chiếm được thành phố này, một đầu mối liên lạc quan trọng, quân đội Bắc Việt Nam sẽ có thể lựa chọn tấn công lên phía bắc hoặc về phía đông và đe dọa chia cắt Nam Việt Nam làm đôi. Hà Nội phải tìm cách đánh lạc hướng để quân đội Nam Việt Nam tưởng rằng cuộc tấn công chính của họ nhắm vào Pleiku. Để làm được điều này, họ phải ngăn chặn Sài Gòn (và tình báo Mỹ) tiếp cận thông tin làm lộ kế hoạch. Quân đội Bắc Việt Nam đã vạch ra một kế hoạch đánh lừa. Một sư đoàn sẽ “biểu dương” gần Pleiku và Kontum bằng cách di chuyển trên khu vực trống trải và tạo ra nhiều tín hiệu vô tuyến. Trong khi đó, ba sư đoàn khác sẽ lặng lẽ di chuyển vào vị trí xung quanh Ban Mê Thuột. Một trong các đơn vị, Sư đoàn 316 của Bắc Việt Nam, phải di chuyển về phía nam gần 800 km từ miền Trung của Bắc Việt Nam qua Lào và vượt núi đến phía nam Ban Mê Thuột. Liệu quân cộng sản có thể tránh bị phát hiện và thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ?

Cuối cùng họ đã thành công. Mặc dù một số khía cạnh của kế hoạch đã bị những kẻ đào ngũ và tù binh từ phía cộng sản tiết lộ, nhưng chỉ huy Nam Việt Nam vẫn tin chắc rằng Pleiku là mục tiêu chính […]. Trong khi đó, các đơn vị trinh sát kỹ thuật, khai thác thông tin liên lạc của phía Nam Việt Nam, đã giúp chỉ huy lực lượng Bắc Việt, Tướng Văn Tiến Dũng, nắm đầy đủ tình hình phòng thủ mỏng của Sài Gòn tại Ban Mê Thuột.

Ngày 10/3, 5 trung đoàn QĐNDVN, được yểm trợ bởi xe tăng và các đơn vị xung kích, đã ồ ạt tấn công Ban Mê Thuột. Ngày hôm sau, thành phố thất thủ, cùng với một phó chỉ huy sư đoàn và toàn bộ trung tâm thông tin liên lạc của thành phố, bao gồm cả máy vô tuyến và tài liệu mật mã. Trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm tái chiếm thành phố, tư lệnh khu vực đã ra lệnh phản công. Hai trung đoàn được trực thăng vận đổ bộ phía đông thành phố. Tuy nhiên, họ đã đụng phải hai sư đoàn cộng sản đang tiến quân, vốn đã được báo động về sự hiện diện của họ. Tàn dư của các đơn vị QLVNCH rút lui về phía đông. Ngày 14/3, Tổng thống Thiệu và tư lệnh khu vực đã gặp nhau để bàn về tình hình chiến lược. Họ quyết định rút khỏi Pleiku, tập hợp lại lực lượng và tìm cách tái chiếm Ban Mê Thuột. Đáng tiếc, quyết định này được ban hành mà hầu như không có sự chuẩn bị hay cảnh báo trước. Ngày hôm sau, vị tư lệnh cùng bộ tham mưu rời Pleiku. Các đơn vị chủ lực dự kiến sẽ rút lui vào ngày kế tiếp. Sự hoảng loạn bắt đầu lan ra, kéo theo làn sóng di tản ồ ạt của dân thường và các lực lượng phòng thủ địa phương. Chỉ có một con đường duy nhất dẫn về phía đông, và lực lượng cộng sản đã áp sát tuyến đường này từ cả phía bắc lẫn phía nam.

QĐNDVN tiến vào giải phóng Ban Mê Thuột, tháng 3/1975. Ảnh: TTXVN

Bị cuốn vào cuộc rút lui hỗn loạn ấy là nhân sự của Trung tâm Kỹ thuật Pleiku […] đã được rút đi từ trước, cùng với trang thiết bị của trung tâm. Việc rút quân nhanh chóng biến thành một cuộc tháo chạy trong hoảng loạn, nhân viên trung tâm và gia đình họ phải rời đi cùng các đơn vị đang rút lui và đoàn dân thường di tản. Khoảng 600 nhân viên rời Pleiku vào ngày 15/3. Bị lực lượng cộng sản tấn công, nhiều lần rơi vào ổ phục kích và bị cắt đứt đường rút, chỉ khoảng 200 người sống sót tới được Đà Nẵng ở vùng duyên hải.

Tình hình tại Nam Việt Nam lúc này đã bước vào giai đoạn khủng hoảng. Con đường ra biển giờ đây đã mở toang. Tuyến phòng thủ cuối cùng chỉ còn lại các thành phố ven biển và Sài Gòn. Liệu Nam Việt Nam có thể giữ được những vị trí này? Và nếu không, số phận người Mỹ sẽ ra sao? Mối quan tâm chủ yếu của Đại diện Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ khu vực Thái Bình Dương tại Việt Nam chẳng bao lâu nữa sẽ chuyển từ việc cố vấn và hỗ trợ cho Nha Kỹ thuật QLVNCH sang lập kế hoạch di tản.

Trong phần đầu của bài viết này, chúng ta đã xem xét tình hình Nam Việt Nam vào đầu năm 1975. Mặc dù Sài Gòn dường như vẫn nắm ưu thế quân sự so với Hà Nội, nhưng đã xuất hiện những vấn đề nghiêm trọng về hiệu quả tác chiến và tinh thần của lực lượng vũ trang. Gắn chặt với chính sách của Tổng thống Thiệu là không nhượng bất kỳ tấc đất nào, Sài Gòn thực tế đã trói buộc lực lượng của mình vào một thế phòng thủ cố định, hầu như không còn lực lượng cơ động dự bị để đối phó với một cuộc tiến công lớn của phía cộng sản.

Các đòn tiến công của lực lượng cộng sản tại Phước Long và Ban Mê Thuột đã nghiền nát hệ thống phòng thủ của QLVNCH. Nhằm củng cố vị trí và tổ chức phản công tái chiếm Ban Mê Thuột, Tổng thống Thiệu đã ra lệnh rút khỏi Pleiku. Nhưng cuộc rút lui nhanh chóng biến thành tháo chạy, và chẳng bao lâu toàn bộ Tây Nguyên rơi vào tay lực lượng cộng sản. Những nơi an toàn duy nhất còn lại là các thành phố ven biển. Họ buộc phải giữ bằng được các vị trí này. Quan trọng hàng đầu là cảng biển và tổ hợp quân sự khổng lồ tại Đà Nẵng. Đà Nẵng cũng là nơi đặt một trung tâm của Nha Kỹ thuật QLVNCH. Việc mất Đà Nẵng có thể giáng một đòn nặng nề vào nỗ lực hỗ trợ quân đội Sài Gòn của Nha Kỹ thuật.

Đà Nẵng không trụ được lâu. Ngay khi Pleiku đang bị bỏ ngỏ, Đà Nẵng đã bị các đơn vị QĐNDVN tiến dọc bờ biển từ phía bắc cắt đứt. Các đơn vị QLVNCH dự kiến tăng cường phòng thủ cho Đà Nẵng lại được lệnh rút về phía nam để bảo vệ Sài Gòn. Binh sĩ thuộc Sư đoàn 3 QLVNCH – đơn vị chịu trách nhiệm giữ cảng – đã tan rã, chiếm lấy thuyền bè trong cảng để tìm đường thoát thân. Trưởng trạm CIA lệnh cho Cố vấn Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ tại Trung tâm Kỹ thuật Đà Nẵng rút đi. Ông bỏ lại toàn bộ tư trang và lên một trong những chuyến bay thương mại cuối cùng rời thành phố – tình hình đã cận kề đến mức đó.

Trong khi đó, Đại diện Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ khu vực Thái Bình Dương tại Việt Nam tổ chức hai chuyến bay vận tải vào Đà Nẵng nhằm di tản thiết bị của trung tâm và nhân viên người Việt. Trên đường băng, giữa cảnh hỗn loạn và tiếng súng nổ, đã xảy ra một sự việc khắc sâu mãi trong ký ức của những người chứng kiến. Khi người Mỹ đang chất các pallet thiết bị, tài liệu và những vật dụng cứu vãn được từ trung tâm lên máy bay, một nhóm nhân viên người Việt tiến đến. Họ xin được nhường chỗ cho gia đình mình đi thay. Không còn nhiều thời gian để thuyết phục họ thay đổi quyết định, người Mỹ đồng ý đưa phụ nữ và trẻ em lên máy bay. Họ hiểu rằng sẽ không bao giờ còn gặp lại những đồng nghiệp Việt Nam ấy nữa. Như một nhân viên Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ sau này nhớ lại, “chúng tôi khóc và ngậm ngùi nói lời từ biệt”. Những chiếc máy bay đóng cửa sau, lăn bánh trên đường băng và bay về Sài Gòn. Các bức ảnh trinh sát sau đó cho thấy những nhân viên Việt Nam đã quay lại trung tâm và tự phá hủy cơ sở này thay vì để nó rơi vào tay các lực lượng QĐNDVN đang tiến đến.

Trọng tâm của chiến dịch lúc này chuyển sang Sài Gòn. Bỗng nhiên, chiến thắng dường như đã nằm trong tầm tay lực lượng Hà Nội. Không giống năm 1972, khi các đơn vị QĐNDVN dường như còn do dự trong việc tận dụng những thành công ban đầu, lần này sẽ không có sự chững lại nào. Tại sở chỉ huy tiền phương của QĐNDVN gần Lộc Ninh, Lê Đức Thọ, người đã đàm phán Hiệp định Paris vào năm 1973 (và đã từ chối Giải Nobel Hòa bình được trao chung cho ông và Henry Kissinger), phối hợp với Tướng Dũng. Lê Đức Thọ đi xe máy đến để giám sát những giai đoạn cuối cùng của cuộc tấn công. Một cuộc tổng công kích cuối cùng, mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh, được vạch ra. Từ Hà Nội, Tướng Giáp gửi thông điệp cho Tướng Dũng, thúc giục các đơn vị QĐNDVN phải “thần tốc” và “táo bạo”.

Dù cố gắng đến đâu, người Mỹ và các đối tác Việt Nam ở Nha Kỹ thuật hầu như không còn gì để huy động. Hơn 600 người từ hai trung tâm và nhiều đơn vị chiến thuật cùng trang thiết bị quý giá không còn nữa. Phi đoàn máy bay SIGINT của Nha Kỹ thuật chỉ còn lại vỏn vẹn 11 chiếc, tất cả đều dễ bị tổn thương trước các tên lửa Grail xuất hiện khắp nơi. Thiết bị có thể được chắp vá tạm thời, nhân sự có thể điều chuyển, nhưng với nguồn lực hiện có, hầu như không thể làm được bao nhiêu. Tệ hơn nữa, người đứng đầu Nha Kỹ thuật rơi vào một giai đoạn suy sụp kéo dài, tự nhốt mình trong văn phòng và không chịu bước ra ngoài. Vì vậy, việc tái tổ chức Nha Kỹ thuật tại Sài Gòn được giao lại cho một trong […] Đại diện Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ khu vực Thái Bình Dương tại Việt Nam.

Trong khi đó, các lực lượng Bắc Việt tiếp tục gia tăng áp lực lên lực lượng Sài Gòn. Ngay từ cuối tháng 3 […] đã nhận ra rằng chế độ Sài Gòn sẽ sớm sụp đổ. Điều này đặt ra ba vấn đề mới: di tản người Mỹ và thân nhân của họ, di tản ban lãnh đạo chủ chốt của Nha Kỹ thuật, và tiêu hủy toàn bộ tài liệu mật mã và an ninh thông tin liên lạc còn lại ở Nam Việt Nam. Yếu tố then chốt trong những hành động này là lập trường của Đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam, Graham Martin. Martin muốn trì hoãn việc di tản người Mỹ càng lâu càng tốt, bởi ông cho rằng sự ra đi của họ có thể ảnh hưởng bất lợi đến tinh thần người Nam Việt Nam. Vì vậy, Martin đã từ chối […] những lời khẩn cầu cho phép mở rộng cuộc di tản vượt quá đợt rời đi ban đầu của các thân nhân. Số người Mỹ còn lại, 13 người, đại diện cho một trong những nhóm chuyên gia mật mã am hiểu nhất trong hệ thống SIGINT của Hoa Kỳ. Việc họ tiếp tục ở lại và khả năng bị bắt giữ có thể dẫn đến nguy cơ lộ lọt thông tin ở mức độ cực kỳ nghiêm trọng. Phải có sự can thiệp của Giám đốc Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, Trung tướng Lew Allen, cùng với Giám đốc Tình báo Trung ương William Colby, mới thuyết phục được Đại sứ Martin cho phép nhóm cuối cùng này rời đi vào ngày 23/4. Cuối cùng, ban lãnh đạo Nha Kỹ thuật cũng thoát khỏi Nam Việt Nam. Phần lớn rời đi chỉ vài ngày trước khi Sài Gòn thất thủ.

Người di tản trên con tàu Mỹ Pioneer Contender tại vịnh Cam Ranh, 29/3/1975. Con tàu đã di tản khoảng 5.000 người từ Đà Nẵng. Ảnh: UPI/Bettmann Archive/Getty Images

Về việc tiêu hủy tài liệu và thiết bị an ninh thông tin liên lạc và mật mã, một số tác giả, như James Bamford trong cuốn sách Body of Secrets, cho rằng tổn thất này cấu thành một vụ lộ lọt nghiêm trọng. Điều đó hoàn toàn không đúng. Tất cả các thiết bị và tài liệu hiện hành hoặc nhạy cảm đã được phía Mỹ và Nam Việt Nam loại bỏ hoặc tiêu hủy. Tuy nhiên, một lượng lớn tài liệu, chủ yếu là các bộ mã, hệ mật và tài liệu khóa của phía Nam Việt Nam, đã bị mất. Ngoài ra, một số lượng đáng kể thiết bị mật mã, chẳng hạn như máy mật mã M-209 và các thiết bị thoại bảo mật chiến thuật như KY-8 (Nestor), cũng bị thất lạc. Tuy nhiên, một cuộc khảo sát của Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ đã đánh giá chính xác rằng nguy cơ lộ lọt do những tổn thất này là không đáng kể. Tài liệu mật mã của Nam Việt Nam không có mối liên hệ mật mã học nào với các hệ thống của Hoa Kỳ. Còn các thiết bị đã lỗi thời và không còn được Hoa Kỳ sử dụng, như trường hợp của M-209, hoặc, như các thiết bị thoại bảo mật chiến thuật, nhiều bộ đã bị mất trong suốt cuộc chiến.

Đến giữa tháng 4, các kế hoạch di tản người Mỹ và những nhân sự chủ chốt của Nam Việt Nam đã được triển khai. Một lực lượng đặc nhiệm được tập hợp ngoài khơi. Tổng thống Ford ra lệnh chuẩn bị kế hoạch di tản mang tên Gió Lốc. Tình báo tín hiệu phải trả lời hai câu hỏi: Bắc Việt sẽ phản ứng như thế nào đối với cuộc di tản, và liệu Nam Việt Nam có tìm cách cản trở người Mỹ rời đi hay không? Hỗ trợ mật mã bao gồm việc theo dõi từ 8 trạm thực địa trên đất liền, do trạm lục quân tại Thái Lan dẫn đầu. Các phi vụ thu thập trên không được triển khai. Các chuyến bay RC-135 (Combat Apple) được nâng lên chế độ bao phủ 24 giờ mỗi ngày. Hải quân bổ sung nhiệm vụ P-3 (Big Look) với cường độ 16 giờ mỗi ngày. […] các chuyến bay sử dụng máy bay trinh sát U-2 cải tiến (TR-1) trở thành một phần không thể thiếu của Gió Lốc. Loại máy bay này được dùng để theo dõi và chuyển tiếp liên lạc của các phi công trực thăng cứu hộ. Các nhà phân tích của trạm thu tín hiệu xuống tại […] có thể nghe các phi công Mỹ và phát hành những bản báo cáo ngắn cập nhật nhanh, được chuyển cho Tổng Tư lệnh Thái Bình Dương (CINCPAC), Đô đốc Noel Gayler.

Đến ngày 21/4, cứ điểm cuối cùng trước Sài Gòn là Xuân Lộc thất thủ. Năm ngày trôi qua khi lực lượng Bắc Việt điều động các đơn vị vào vị trí cho cuộc tấn công cuối cùng. Ngày 26/4, đợt tổng công kích bắt đầu. Ngày 29/4, Tổng thống Ford ra lệnh triển khai chiến dịch Gió Lốc. Trong vòng một ngày rưỡi tiếp theo, khoảng 7.000 người được di tản bằng trực thăng ra lực lượng đặc nhiệm đang chờ ngoài khơi. Nhìn chung, cuộc giải cứu diễn ra suôn sẻ. Ngoại trừ đôi lúc có đạn lạc hoặc tên lửa bay qua, cả phía Nam Việt Nam lẫn Bắc Việt đều không can thiệp vào các trực thăng. Nhóm chuyên gia mật mã cuối cùng […] cùng hai nhân viên thông tin liên lạc, rời đi vào cuối ngày 29/4. Đại sứ Martin đi vào rạng sáng ngày 30/4. Khi chiếc trực thăng của ông rời khỏi, phi công phát mật hiệu “Tiger” để thông báo ông đã đi. Các trạm theo dõi vô tuyến của Bắc Việt cũng bắt được tín hiệu này cùng lúc và báo cho Tướng Dũng biết rằng đại sứ Mỹ đã rời đi.

Chiều hôm đó, vị Tổng thống cuối cùng của Nam Việt Nam, Dương Văn Minh đầu hàng, chuyển giao những gì còn lại của chính quyền mình cho một sĩ quan cấp dưới của QĐNDVN. “Chúng tôi đang chờ để bàn giao chính quyền cho các ông”, ông nói. Viên sĩ quan QĐNDVN đáp lại: “Ông không còn gì để bàn giao nữa”.■

Anh Dũng (dịch)

Nguồn: Hanyok, Robert J. “SIGINT and the Fall of Saigon (Part I).” NSA (Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ), 1998.

Chú thích:

[1] Ký hiệu […] chỉ những đoạn đã bị che đi trong tài liệu gốc. (ND)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN