Đêm ngày 20, rạng sáng ngày 21/11/1970, sau nhiều tháng lên kế hoạch và diễn tập, quân đội Mỹ đã đột kích bằng máy bay trực thăng vào trại giam ở Sơn Tây nhằm giải cứu các phi công Mỹ bị quân dân miền Bắc Việt Nam bắn hạ và bắt làm tù binh. Tuy nhiên, chiến dịch này đã không đạt được mục tiêu đề ra do toàn bộ tù binh Mỹ đã được chuyển đến một trại giam khác từ trước đó. Bài phân tích của nhà báo Mỹ Stuart H. Loory trên Los Angeles Times ngày 2/2/1971 đi sâu lý giải những gì diễn ra phía sau cuộc tập kích này. Không tập trung vào diễn biến tác chiến, bài viết đặt trọng tâm vào vấn đề cốt lõi của tình báo: cách thông tin được thu thập, phân tích, diễn giải và chuyển hóa thành quyết định chính trị – quân sự ở cấp cao nhất. Tạp chí Phương Đông xin giới thiệu bài viết tới bạn đọc (ngôn từ trong bài được giữ nguyên so với bản gốc để đảm bảo giá trị nghiên cứu, tham khảo).
Khi Bộ trưởng Quốc phòng Melvin R. Laird làm chứng rằng chính quyền không có cách nào để biết chắc chắn rằng các tù binh Mỹ sẽ được tìm thấy tại Sơn Tây vào tháng 11 năm ngoái, ông ta đã nói giảm nói tránh một vấn đề tình báo khiến các nhà hoạch định quân sự Mỹ phải run rẩy.
Trong số tất cả những khó khăn của cuộc chiến tranh ở Đông Dương, việc đoán biết ý đồ, kế hoạch và động thái của Bắc Việt vẫn là khó khăn nhất.

Vấn đề này đã biến cuộc đột kích của nhóm biệt kích vào khu trại nhỏ cách Hà Nội gần 40km về phía tây trở thành một trong những canh bạc lớn nhất trong lịch sử quân sự Mỹ – một canh bạc do Tổng thống Nixon quyết định để cố gắng giải cứu những người Mỹ bị giam giữ ở Bắc Việt, nhưng cũng vì điều mà một quan chức cấp cao trong chính quyền Mỹ gọi là “những lý do siêu việt”.
Về mặt chính thức, cuộc đột kích Sơn Tây chỉ được tiến hành vì một lý do duy nhất: giải cứu các tù binh Mỹ. Những lý do “siêu việt” chỉ được thừa nhận trong những bối cảnh sâu xa nhất. Nhưng do chính quyền thừa nhận sự tồn tại của chúng, nên mọi người bắt đầu suy đoán xem những lý do đó có thể là gì.
Ý tưởng số 1: Bộ máy quân sự Mỹ – bị cuốn vào một “cuộc chiến bẩn thỉu, tồi tàn” mà không ai muốn, bị ám ảnh bởi những thảm kịch ở Mỹ Lai và những câu chuyện về các vụ tàn sát khác, bị lên án trong nước và đối mặt với sự bất đồng nghiêm trọng trên chiến trường – cần một hành động anh hùng để nâng cao tinh thần.
Ý tưởng số 2: Chính quyền Nixon – sau khi giúp tạo ra một nhóm vận động hành lang cho tù binh chiến tranh ngày càng lên tiếng mạnh mẽ – cảm thấy một nhu cầu chính trị là phải đáp lại yêu cầu của nhóm này rằng phải làm điều gì đó cho 339 người Mỹ đang sống trong điều kiện khắc nghiệt ở Bắc Việt.
Ý tưởng số 3: Tổng thống phải cho phía Bắc Việt thấy rằng họ không thể trông chờ vào việc sử dụng các tù nhân làm con tin để đạt được một thỏa thuận chính trị làm bẽ mặt nước Mỹ, rằng ông sẽ thực hiện những bước đi quyết liệt như xâm lược Bắc Việt để giành lại tự do cho họ.
Canh bạc của Tổng thống đã thất bại. Để hiểu rõ hơn tại sao, hãy theo dõi quá trình này từ khi nó được nhen nhóm vào cuối tháng 5 năm ngoái tại một văn phòng ít người biết đến ở hành lang thứ 9 tầng một của Lầu Năm góc.
Văn phòng 1E962 ghi tên “SACSA” (Special Assistance for Counter insurgency and Special Activities) – Trợ lý Đặc biệt về Chống nổi dậy và Các hoạt động Đặc biệt. Chính SACSA là nơi đã lên ý tưởng, lập kế hoạch, tổ chức và giám sát chiến dịch ở Sơn Tây.
SACSA vừa là một sĩ quan quân đội, vừa là văn phòng mà ông ta điều hành. Viên sĩ quan vào thời điểm cuộc đột kích Sơn Tây được lên kế hoạch là Chuẩn tướng Donald Dunwoody Blackburn, một lính bộ binh 54 tuổi có sự nghiệp đầy những phẩm chất như trong truyện cổ tích…
Blackburn là một trong những chuyên gia được công nhận về “chiến tranh đặc biệt”, thuật ngữ quân sự dùng để chỉ sự can thiệp của Mỹ để bảo vệ các chính phủ thân thiện trước các cuộc cách mạng mới chớm nở. Năm 1957, khi Hiệp định Geneva năm 1954 hầu như bị tất cả các bên liên quan vi phạm, Blackburn đã tham gia nhóm cố vấn viện trợ quân sự của Mỹ tại Nam Việt Nam để giúp củng cố chính quyền Ngô Đình Diệm chống lại lực lượng Việt Cộng đang nổi lên lúc bấy giờ. Tháng 8/1969, sau một loạt nhiệm vụ tại Hoa Kỳ và Việt Nam, Blackburn được bổ nhiệm làm SACSA.
“Kinh thánh” Chiến tranh đặc biệt
Văn phòng SACSA được Tổng thống John F. Kennedy thành lập vào đầu nhiệm kỳ nhằm hệ thống hóa vai trò của Hoa Kỳ trong việc đối phó với các cuộc nổi dậy trên toàn thế giới. Học thuyết của SACSA ban đầu được trình bày trong một cuốn sách dày cộp, sau đó trở thành cuốn “kinh thánh” về chiến tranh đặc biệt. Ban đầu, cuốn sách chủ yếu đề cập đến chống nổi dậy.
Học thuyết chống nổi dậy sơ khởi này dựa trên tiền đề đơn giản rằng công nghệ của Mỹ – những bí quyết có thể đưa con người lên mặt trăng và tạo ra cuộc sống tiện nghi nhờ máy móc cho người tiêu dùng – sẽ chinh phục được các cuộc nổi dậy. Để giành ưu thế trước một du kích đã sống ở một vùng nào đó suốt nhiều năm, bạn chỉ cần chiến đấu với hắn trong bóng tối, miễn là bạn có thể nhìn thấy, còn hắn thì không. Vì vậy, các thiết bị vô tuyến được phát triển để xuyên qua được những tầng lá của rừng rậm, máy bay trực thăng có thể bay với tốc độ gần 130km/h trên các khu vực mà du kích chỉ chạy bộ đã được đưa vào sử dụng. Các cảm biến hồng ngoại dò nhiệt để phát hiện lửa trại của đối phương cũng được phát triển.
Nhưng đối phương thấy việc đối phó với công nghệ phương Tây tương đối đơn giản. Ví dụ, khi biết về máy dò lửa trại, họ chỉ cần ra lệnh cấm đốt lửa trại trong phạm vi một dặm quanh doanh trại, và điều đó khiến các cảm biến hồng ngoại trở nên gần như vô dụng.
Vì vậy, cuộc nổi dậy ở Nam Việt Nam, thay vì được kiểm soát, đã phát triển thành cuộc chiến dài nhất mà Hoa Kỳ từng tham gia. Vài nghìn cố vấn người Mỹ vào đầu những năm 1960 đã “phình ra” thành một lực lượng hơn nửa triệu binh lính trên bộ.
Vào thời điểm Blackburn lên được vị trí tại Phòng 1E962 của Lầu Năm Góc, hoạt động chống nổi dậy đã qua thời kỳ hoàng kim.
Tháng 5 năm ngoái, khi mối lo ngại về số phận của các tù binh chiến tranh Mỹ ở Bắc Việt ngày càng gia tăng trên cả nước Mỹ và trong quân đội nói riêng, Blackburn bắt đầu suy nghĩ xem văn phòng của ông ta có thể đóng góp gì. Blackburn đã nghiên cứu những gì được biết đến vào thời điểm đó về Sơn Tây và các trại giam tù binh chiến tranh khác của Bắc Việt mà Mỹ đã biết, và quyết định rằng nếu tù binh bị giam giữ tại Sơn Tây thì đó là nơi duy nhất nhóm đột kích có thể đổ bộ. Các nhà tù khác được biết đến đều nằm ở trung tâm Hà Nội.
Tháng 6, ông ta đã trình bày ý tưởng giải cứu một số tù binh Mỹ với Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân và được cho phép tiến hành một “nghiên cứu khả thi”. “Bước đầu tiên bắt đầu vào tháng Sáu,” Blackburn nói với tờ Times. “Chúng tôi thực sự muốn chắc chắn về các tù nhân Mỹ…”.

Blackburn hoàn toàn tin tưởng vào khả năng quân đội sẽ hoàn thành nhiệm vụ này mà không cần sự trợ giúp từ bên ngoài. Trong quá trình nghiên cứu tính khả thi, ông ta chỉ nhờ đến sự hỗ trợ tối thiểu từ Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). Dựa trên các bức ảnh trinh sát, CIA đã xây dựng một mô hình thu nhỏ của khu trại giam phức hợp nhỏ bé này – chỉ rộng hơn 2.000 mét vuông, bằng kích thước của một lô nhà giá tầm trung ở ngoại ô, dài hơn 55 mét theo hướng bắc – nam và hơn 40 mét theo hướng đông – tây. Mô hình này chính xác đến từng chi tiết nhỏ nhất, kể cả vị trí của các cành cây.
“CIA chỉ tham gia ở mức tối thiểu vào việc này,” Blackburn nói.
Nhưng rõ ràng là cơ quan này không được yêu cầu đóng góp thông tin tình báo hoặc được hỏi câu hỏi quan trọng: có hay không có tù nhân tại Sơn Tây?
Nghiên cứu khả thi đã được hoàn thành vào tháng 7 và được trình lên Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân và Bộ trưởng Quốc phòng Laird. Nixon không được xem báo cáo này. Henry A. Kissinger, Cố vấn chính sách đối ngoại hàng đầu của ông Nixon, cũng như mọi thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia đều không được xem.
Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, và Bộ trưởng Laird đã phê duyệt nghiên cứu khả thi này và bật đèn xanh cho việc soạn thảo kế hoạch vào khoảng tháng 7. Nhóm của Blackburn đã viết một kế hoạch dài 200 trang, một kịch bản chi tiết đến từng giây cho cuộc đột kích, bao gồm cả nhiệm vụ của từng người và từng thiết bị tham gia. Kế hoạch thậm chí còn bao gồm cả đề xuất về các cuộc không kích nghi binh trên một khu vực rộng lớn ở phía bắc Việt Nam. “Càng đi sâu vào chi tiết, toàn bộ kế hoạch càng trở nên khả thi hơn”, Blackburn nói. “Chúng tôi đã chia nhỏ kế hoạch từng giây một. Chỉ mất 5 giây từ lúc trực thăng hạ cánh cho đến khi chúng tôi vào được tòa nhà đầu tiên có lính gác”.
Kế hoạch chi tiết về chiến dịch Sơn Tây đã được Moorer và Laird phê duyệt vào đầu tháng 8 và, vào ngày 8/8, Chuẩn tướng Không quân Leroy J. Manor và Đại tá Lục quân Arthur D. Simons được chọn làm chỉ huy và phó chỉ huy của Lực lượng Đặc nhiệm Ứng phó chung Bờ Biển Ngà, với nhiệm vụ thực hiện kế hoạch của Blackburn. Simons từng đến Việt Nam năm 1965 và theo một số báo cáo, ông ta đã đóng vai trò trong việc cài cắm các nhóm tình báo vào Bắc Việt.
Trước khi Laird và Moorer phê duyệt kế hoạch, họ đã trình bày với Tổng thống và được Tổng thống chấp thuận. Một số dấu hiệu cho thấy Kissinger không được thông báo về kế hoạch vào thời điểm đó.
Bắt đầu huấn luyện tại Florida
Đến ngày 21/8, Lực lượng Đặc nhiệm Ứng phó chung Bờ Biển Ngà – tổng cộng 101 người, một nửa trong số đó sẽ thực sự đổ bộ xuống Sơn Tây – đã tập trung tại Eglin, một khu bảo tồn rộng 800 dặm vuông ở vùng “cán chảo” Florida.
Việc cho phép huấn luyện lực lượng đặc nhiệm Bờ Biển Ngà được đưa ra dựa trên “giả định” rằng sẽ tìm thấy tù nhân tại Sơn Tây.
Thực tế, dựa trên hồ sơ, dường như khả năng không tìm thấy tù nhân nào cao hơn nhiều.
“Chúng tôi đã từng “công cốc” nhiều lần ở đó,” Blackburn nói, thẳng thắn thừa nhận rằng nhiều lần chính quyền Mỹ tiến hành các cuộc giải cứu dựa trên thông tin tình báo nhận được, các cuộc đột kích đều quá muộn. Ông ta cũng nói thêm với người phỏng vấn rằng đã có nhiều nỗ lực giải cứu ở Nam Việt Nam nhưng không nỗ lực nào thành công. Tù binh Mỹ hầu như không bao giờ được tìm thấy ở nơi họ được báo cáo là đã bị giam giữ. Từ “hầu như” ở đây rất quan trọng.
Tháng 7/1969, quân đội Nam Việt Nam nhận được tin từ một người đào ngũ rằng binh nhì Larry D. Aiken, một lính bộ binh đến từ thành phố New York bị bắt giữ hai tháng trước đó, đang bị quân đội Bắc Việt giam giữ ở phía bắc thị trấn Tam Kỳ thuộc phía bắc của Nam Việt Nam. Một chiến dịch giải cứu chung giữa Nam Việt Nam và Mỹ đã được tổ chức. Aiken được giải cứu trong tình trạng bất tỉnh. Vụ giải cứu được công bố công khai; còn cái chết của Aiken ba tuần sau đó lại không được đưa tin.
Một vài người trong số 9 cựu tù binh Mỹ được Bắc Việt trả tự do, cùng với một số quan chức quân sự khác và những người am hiểu về quy trình giam giữ tù binh chiến tranh, hiện đang dự đoán rằng các nỗ lực giải cứu trong tương lai sẽ dẫn đến nguy hiểm nghiêm trọng cho các tù binh ở Bắc Việt.
“Không thể có chuyện tù nhân sẽ bị bắn chết”, Blackburn nói. “Tôi dám cá cả năm lương rằng khi chúng tôi vào đó, sẽ không một ai bị thương. Không có cách nào những người đó có thể bị thương. Đối phương cũng phải xộc vào các buồng giam đó giống như chúng tôi đã làm. Và hắn ta sẽ phải lo lắng cho tính mạng của chính mình”.
Thu thập thông tin tình báo
Nếu việc thu thập thông tin tình báo chính xác về đối phương ở Nam Việt Nam là bất khả thi, thì ở Bắc Việt lại càng khó khăn hơn gấp bội.
Một vị tướng kỳ cựu với nhiều năm kinh nghiệm ở Việt Nam từng nói: “Mọi thông tin tình báo chúng ta thu thập được đều đã cũ. Nó không thể mới được. Nếu là thông tin mới thì chắc chắn đó là gài bẫy để đánh lừa chúng ta”.
Blackburn cho biết thông tin tình báo cho nhiệm vụ này đến từ ba nguồn: thẩm vấn các binh lính Bắc Việt bị bắt giữ ở Nam Việt Nam, các tài liệu thu được và các chuyến bay trinh sát của máy bay Mỹ.
Các tài liệu thu giữ được và những người Bắc Việt mang theo chúng khó lòng mô tả được tình hình cập nhật đang diễn ra ở phía Bắc. Một người lính Bắc Việt thường mất tối thiểu ba tháng để hành quân dọc đường mòn Hồ Chí Minh.


Trinh sát trên không lại là một vấn đề khác. Thông tin mà máy bay phản lực do thám thu thập được có thể được chuyển về Nam Việt Nam, Thái Lan hoặc một số tàu sân bay trên biển, được xử lý và chuyển tiếp về Washington trong vòng vài giờ. Kể từ Thế chiến II, các kỹ sư quang học và hàng không của Mỹ đã làm nên những điều kỳ diệu với nhiếp ảnh. Máy bay mang máy ảnh có thể chụp những bức ảnh lập thể, từ đó các nhà phân tích có thể suy luận ra những chi tiết nhỏ như kích thước của gạch trong tường, thảm thực vật trên mặt đất, vật liệu xây dựng trong một tòa nhà. Từ máy quét hồng ngoại còn có thể xác định liệu một tòa nhà có đang được sưởi ấm hay không.
Từ một loạt hình ảnh cho thấy mô hình giao thông, sự di chuyển của nhân viên, thậm chí cả cách xử lý rác thải, một nhà phân tích giàu kinh nghiệm có thể đưa ra những suy luận chính xác về những gì đang diễn ra trên thực địa.
Có hai trở ngại chung trong hoạt động trinh sát trên không liên quan đến Bắc Việt, và một trở ngại đặc thù liên quan đến Sơn Tây.
Thứ nhất, cũng giống như nhiều thứ khác trong chiến tranh Việt Nam, công nghệ trinh sát của Mỹ đơn giản là quá tinh vi. “Họ thường xuyên thấp hơn khả năng của chúng ta quá nhiều”. Amrom Katz đến từ Los Angeles, trước đây làm việc tại RAND Corp và là chuyên gia về công nghệ trinh sát, cho biết. “Ví dụ, chúng ta được trang bị để phát hiện xe tải nhưng họ lại sử dụng xe đạp. Họ hoạt động dưới ngưỡng phát hiện của chúng ta”.
Sau cuộc đột kích Sơn Tây, Bộ trưởng Quốc phòng Laird than thở rằng việc ứng dụng công nghệ thực sự chưa đủ. Ông ta nói với Ủy ban Đối ngoại Thượng viện rằng một loại camera nhìn xuyên được qua mái nhà đã có thể giúp xác định chắc chắn liệu có tù nhân ở Sơn Tây hay không.
Lời khẳng định của Laird gợi mở nhiều tranh luận. Giá trị của bức ảnh phụ thuộc vào người đọc nó.
Đó là trở ngại thứ hai. Một chiếc máy ảnh nhìn xuyên thấu có thể cho thấy con người. Nhưng người phân tích cần phải có đủ kinh nghiệm nghiên cứu về Bắc Việt để có thể xác định liệu những người trong ảnh có phải là tù nhân Mỹ hay không.
Theo Manor, những bức ảnh trinh sát về Sơn Tây cho thấy đặc điểm địa hình của sân trong đang thay đổi, nhưng các nhà phân tích ảnh đã đoán sai về ý nghĩa của sự thay đổi đó. Họ cho rằng những thay đổi – thể hiện một khu vườn rau đang mọc – có liên quan đến các hoạt động của tù nhân.
Kinh nghiệm là điều cần thiết
Để “đọc” đúng các bức ảnh về Bắc Việt, cần có những nhà phân tích có kinh nghiệm thực địa. Hoa Kỳ có rất ít những người như vậy, nếu không muốn nói là không có.
Patrick J. McGarvey, một cựu nhân viên của CIA và Cơ quan Tình báo Quốc phòng (DIA), kể lại câu chuyện về việc các nhà phân tích ảnh đã tìm kiếm hình ảnh mục tiêu cho chiến dịch ném bom của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam vào đầu năm 1966: Trong một bức ảnh, họ phát hiện một khu phức hợp khổng lồ, được canh gác nghiêm ngặt tại một ngôi làng tên là Quynh Loc (Quỳnh Lập). Khu phức hợp này biệt lập, được bao quanh bởi dây thép gai và bao gồm một số tòa nhà. Bên trong khu phức hợp có những khu vực được ngăn cách với nhau bằng nhiều dây thép gai hơn nữa. McGarvey cho biết, kết luận của các chuyên gia đọc ảnh là: cơ sở này là một sở chỉ huy sư đoàn. Và vì vậy, một cuộc không kích đã được ra lệnh nhằm vào đó vào ngày 6/5/1966. Vài ngày sau, phía Bắc Việt cáo buộc Hoa Kỳ đã ném bom một trại phong ở Quynh Loc, khiến 30 bệnh nhân thiệt mạng và 34 người bị thương. Theo McGarvey, Lầu Năm Góc sau đó đã thừa nhận sai lầm này trong phạm vi hẹp.

Việc phân tích ảnh cho nhiệm vụ Sơn Tây do Christopher R. Guenther thực hiện. Guenther đã làm việc nhiều năm tại DIA với tư cách một chuyên viên phân tích ảnh, chuyên nghiên cứu hình ảnh vùng nông thôn Bắc Việt, xác định các công trình có thể gây nguy hiểm cho máy bay Mỹ thực hiện nhiệm vụ trên không phận Bắc Việt. Ông ta không đồng ý trả lời phỏng vấn, nhưng theo những người khác kể lại, công việc của ông với những bức ảnh cũng không làm sáng tỏ câu hỏi liệu có tù nhân nào ở Sơn Tây hay không, mà chủ yếu tập trung vào các khía cạnh tác chiến của cuộc đột kích – đưa lính đặc nhiệm vào và ra an toàn.
Khó khăn trinh sát đặc thù ở Sơn Tây là quá nhiều chuyến bay sẽ cảnh báo quân đội Bắc Việt về mối nguy hiểm sắp xảy ra.
Tuy nhiên, Laird làm chứng rằng ảnh trinh sát là nguồn thông tin tình báo chính cho nhiệm vụ này.
Cả Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đều không công bố thời điểm gần nhất mà chính quyền Mỹ còn chắc chắn rằng có người Mỹ bị giam ở Sơn Tây.
Được phát hiện là trại tù binh từ năm 1967
Các quan chức quốc phòng cho biết nơi này được phát hiện là trại giam giữ tù binh chiến tranh từ năm 1967. Có một báo cáo được công bố hồi tháng 9 năm ngoái cho biết một người đào tẩu từ Bắc Việt là Tran Thuai (?), đã nói với các quan chức chiến tranh tâm lý của Mỹ rằng vào năm 1967, ông ta là người quan sát tù binh tại Sơn Tây, nơi ông ta biết đến với tên gọi Lam Sơn I.
Thực ra, lời khai của Thuai đã được cung cấp cho các chuyên gia tình báo Mỹ từ trước và là một phần của báo cáo tình báo mà Blackburn nhận được hồi tháng 5.
Về mặt chính thức, người phát ngôn Lầu Năm Góc nói rằng họ không thể tiết lộ ngày cuối cùng mà họ biết có tù nhân ở Sơn Tây vì điều đó sẽ làm ảnh hưởng đến quy trình thu thập thông tin tình báo. Cũng có thể suy đoán rằng đó sẽ là một sự hổ thẹn cho Lầu Năm Góc.
Có thể giả định rằng ngày tháng xác định cuối cùng là trước khi Blackburn bắt đầu nghiên cứu tính khả thi của cuộc đột kích. Trên thực tế, đó có thể chính là thông tin ông ta đã sử dụng từ đầu để bắt đầu nghiên cứu. Khi quá trình huấn luyện được khởi động vào cuối tháng 8, thì vấn đề liệu có tù binh ở Sơn Tây hay không, theo một nghĩa nào đó, cũng không còn quan trọng nữa. Chiến dịch đã bắt đầu vào guồng.

“Những người lập kế hoạch nhắm đến hai ngày khả thi mà họ gọi là “cửa sổ”. Một ngày vào tháng 10 và một ngày vào tháng 11, khi trăng khuyết sẽ chiếu sáng Sơn Tây – một mặt trăng đủ sáng để soi đường nhưng đủ mờ để che giấu chuyển động của quân đột kích”.
Ngày tháng 10 sau đó đã bị hủy bỏ do dự báo thời tiết. Ít nhất, đó là tuyên bố chính thức. Tuy nhiên, cần phải nêu ra khả năng rằng những vấn đề như cuộc bầu cử Quốc hội sắp tới ở Hoa Kỳ cũng đóng một vai trò nào đó trong việc trì hoãn cuộc đột kích.
Nhiều nhân vật quan trọng không được thông báo
Vào thời điểm đó, ngay cả Tướng Creighton W. Abrams, Tổng tư lệnh toàn bộ quân đội Mỹ ở Đông Nam Á, cũng chưa được thông báo về cuộc tập kích sắp diễn ra.
Đầu tháng 11, Blackburn và Manor bay đến Sài Gòn và báo cáo tóm tắt kế hoạch cho Abrams và Tướng Lucius D. Clay Jr., chỉ huy lực lượng không quân Mỹ ở Đông Nam Á. Có một nguồn tin cho rằng Abrams phản đối ý tưởng này. Nhưng Blackburn phủ nhận. Ông ta thuật lại rằng Abrams đã nghe báo cáo, nhận được yêu cầu hỗ trợ không quân kèm theo mà quân của Clay sẽ phải thực hiện, và sau đó nói: “Dường như các anh đã nghĩ đến mọi thứ rồi”.
Chỉ vài ngày trước khi thực hiện nhiệm vụ, nhóm biệt kích được chuyển từ Eglin (Florida) đến Thái Lan. Vào thời điểm đó, họ vẫn chưa biết mình sắp xâm nhập sâu vào lãnh thổ Bắc Việt.
“Vài giờ trước khi cất cánh, Simons mới báo cho họ biết”, Blackburn nói, “và tất cả bọn họ đều đứng dậy reo hò”.
Ngày 18/11, Tổng thống Nixon thảo luận về cuộc đột kích sắp tới với Laird, Moorer, Kissinger và William P. Rogers, Ngoại trưởng. Trong Bộ Ngoại giao, chỉ có Rogers và U. Alexis Johnson, Thứ trưởng phụ trách các vấn đề chính trị, biết về kế hoạch này. Không rõ Rogers và Johnson được thông báo như thế nào, khi nào hoặc vì sao. Blackburn nói rằng những người lập kế hoạch đã cố tình loại bỏ các cơ quan dân sự của chính phủ vì lý do an ninh – không phải vì họ không được tin tưởng mà chỉ để cẩn thận hơn.
Ngày 19/11, tại một cuộc họp thường kỳ của Hội đồng An ninh Quốc gia, Nixon dường như đã quyết định giữ bí mật ngay cả với những cố vấn đáng tin cậy nhất. Thay vì nói thẳng với họ điều gì sẽ xảy ra vào ngày hôm sau, Nixon đã lén đưa cho Bộ trưởng Quốc phòng Laird một mẩu giấy ghi rằng, bất kể kết quả thế nào, chiến dịch này vẫn nhận được sự ủng hộ hoàn toàn của ông ta.
Ngày hôm sau, sáng thứ Sáu ở Washington và là tối thứ Sáu ở Đông Nam Á, các binh sĩ chuẩn bị lên những chiếc trực thăng phản lực HH-53 cỡ lớn. Tại các căn cứ ở Thái Lan và trên các tàu sân bay ngoài khơi, các máy bay được giao nhiệm vụ yểm trợ và thực hiện các cuộc tấn công nghi binh đã sẵn sàng cất cánh. Và tại các căn cứ không quân khác, khoảng 250 máy bay Mỹ đang chuẩn bị thực hiện một cuộc ném bom quy mô lớn nhằm vào các mục tiêu ở phía nam của Bắc Việt, được cho là để trả đũa việc máy bay trinh sát của Mỹ bị phía Bắc Việt bắn rơi vào tuần trước đó.
Vào khoảng thời gian Phó chỉ huy Simons đang tóm tắt nhiệm vụ cho binh lính của mình ở Thái Lan, Nixon đang ở Nhà Trắng xem lại bản tin thời tiết từ hiện trường. Bản tin khá khả quan và, theo đúng thủ tục, ông ta đã ra hiệu lệnh “xuất phát”.
Đó là một cuộc đột kích lịch sử. Trong khi máy bay Mỹ thực hiện các cuộc tấn công nghi binh trên một khu vực rộng lớn của Bắc Việt từ Hà Nội đến Biển Đông, bắn tên lửa thật vào các trạm radar cũng như đốt pháo sáng giả, thì đội quân đột kích, được bảo vệ bởi máy bay chiến đấu, đã cẩn trọng di chuyển dọc theo vùng thượng nguồn sông Hồng và tiến thẳng đến Sơn Tây.
Một chiếc trực thăng hạ cánh lúc 2 giờ 18 phút sáng thứ Bảy (giữa buổi chiều ở Washington), và chỉ trong vòng 5 giây, buồng giam trống đầu tiên đã được tiếp cận.
Lực lượng đặc nhiệm Bờ Biển Ngà lập tức nhận ra rằng trại đã bị bỏ trống một thời gian, “có lẽ là 3 tháng”, như Chỉ huy Manor nói sau này.
Những kẻ đột kích có một lượng khán giả cấp cao đang theo dõi ở nửa bên kia trái đất. Tại Trung tâm Chỉ huy Quân sự Quốc gia ở Lầu Năm Góc, một nhóm người tụ tập quanh chiếc loa phóng thanh. Có mặt là Laird, Blackburn cùng cấp phó của ông ta, Moorer và các thành viên khác của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân.
Các diễn biến được báo cáo liên tục
Vào khoảng 11 giờ sáng thứ Sáu tại Washington, một đường dây liên lạc trực tiếp dài 12.000 dặm đã được thiết lập từ trụ sở bí mật của chiến dịch Bờ Biển Ngà của Chỉ huy Manor ở Đông Nam Á, đến trung tâm chỉ huy trong tầng hầm của Lầu Năm Góc. Và trên đường dây đó, Manor đã báo cáo liên tục cho cấp trên về nhiệm vụ từ lúc cất cánh đến khi hạ cánh xuống Sơn Tây, từ kỳ vọng đến thất vọng, từ những báo cáo “zero-zero” đầu tiên cho đến khi kết thúc.
Manor cho rằng những báo cáo đầu tiên từ Sơn Tây bị sai lệch và không muốn tin. Ông ta truyền lại sự hoài nghi này đến Washington.
Tại trung tâm chỉ huy, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Moorer lần lượt báo cáo định kỳ cho Nhà Trắng. Không rõ ông ta có nói chuyện trực tiếp với Tổng thống không, nhưng hầu hết các báo cáo của ông được cho là gửi đến Chuẩn tướng Alexander Haig thuộc đội ngũ của Kissinger.

Một cuộc tranh cãi đã nổ ra về việc Giám đốc CIA Richard Helms, hoặc tổ chức của ông ta, đã được tham vấn chặt chẽ đến mức nào về cuộc đột kích, sau khi tờ Times đăng tải thông tin rằng ông ta không tham gia vào quá trình xem xét cuối cùng và Thượng nghị sĩ J. William Fulbright, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, đã phàn nàn với Bộ trưởng Quốc phòng Laird về điều này tại một phiên điều trần. Laird nói với Ủy ban rằng ông đã tư vấn cho Helms và tham khảo ý kiến của ông ấy về cuộc đột kích “4 hoặc 5 tuần” trước khi nó diễn ra (vào thời điểm đó, việc huấn luyện tại Eglin đã diễn ra rồi).
Sau đó, Laird nói với các nhà báo, “Tôi nhớ rõ mình đã ngồi trong văn phòng với Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương khi chúng tôi chờ đợi những chiếc trực thăng cất cánh đến Sơn Tây, chờ đợi chúng vượt qua biên giới, chờ đợi những báo cáo đầu tiên về việc liệu có tù binh chiến tranh nào được giải cứu ở Sơn Tây hay không. Tôi vẫn nhớ rõ từng tiếng tích tắc của đồng hồ khi chúng tôi chờ đợi những tin tức đó”.
Thực tế, theo một nguồn tin, Helms đã đến văn phòng của Laird vì một vấn đề khác và Laird, sau khi nhận được những báo cáo sơ bộ ban đầu cho thấy không tìm thấy tù binh nào ở Sơn Tây, đã rời trung tâm chỉ huy trong sự thất vọng vì biết rằng không có tù binh nào được giải cứu, và quay trở lại văn phòng để gặp Helms.
Và thế là thời gian dần trôi qua trong cuộc đột kích Sơn Tây, không còn cách nào khác ngoài việc đưa tất cả lính biệt kích trở về nhà, trao tặng huân chương cho lòng dũng cảm của họ – và giải thích về cuộc phiêu lưu này cho người dân Mỹ và cả thế giới.
Tất cả những điều đó có ý nghĩa gì?
“Chắc chắn nó đã đưa vấn đề tù binh chiến tranh (POWs) lên trang nhất các tờ báo”, một quan chức quân sự cấp cao nhận xét. “Trước cuộc đột kích, chẳng ai quan tâm đến POWs cả, còn bây giờ thì ai cũng bàn tán về họ”.
POWs trên trang nhất các tờ báo
POWs chắc chắn đang xuất hiện trên các trang nhất hiện nay. Nhưng liệu điều đó có giúp đảm bảo việc phóng thích họ hay không vẫn còn là một vấn đề nan giải. Có thể lập luận rằng Hà Nội sẽ chỉ đáp trả áp lực đó bằng cách biến các tù binh thành con bài mặc cả quan trọng hơn trong bất kỳ cuộc đàm phán nào nhằm kết thúc chiến tranh.
“Cuộc đột kích đã cho Hà Nội thấy rằng không có phần lãnh thổ nào của họ miễn nhiễm với các cuộc tấn công của Mỹ”, một sĩ quan quân đội cấp cao khác phát biểu.
Tuy nhiên, điều này cũng cho Hà Nội thấy rằng thông tin tình báo của Mỹ về những gì đang diễn ra ở miền Bắc là rất yếu kém, đến nỗi ngay cả với kế hoạch và sự phối hợp cẩn thận nhất, cùng việc thực thi tài tình nhất, các chiến dịch quân sự của Mỹ ở miền Bắc vẫn không thể đạt được mục tiêu.
Điều đó khiến vợ của các tù nhân và chính các tù nhân biết rằng chúng ta quan tâm tới họ, và điều đó sẽ nâng cao tinh thần, Laird nói.
Hiện tại, những người vợ đã được an ủi phần nào. Tuy nhiên, không ai có thể nói liệu các tù nhân có được thắp lên hy vọng mới hay không. Hầu hết trong số 9 tù nhân người Mỹ được thả cho đến nay đều nói rằng an ninh của Bắc Việt trong các nhà tù rất nghiêm ngặt, đến nỗi người Mỹ ở đó chắc vẫn không biết gì về nỗ lực giải cứu bất thành này.■
Stuart H. Loory
Hoàng Anh (dịch)