Việt Nam trên báo - Mỹ Cuộc di tản: Chiếc trực thăng cuối cùng rời Sài Gòn

Lúc 7 giờ 52 phút sáng ngày 30/4/1975, chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng cất cánh từ nóc tòa Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, kết thúc chiến dịch di tản và cũng chấm dứt sự hiện diện của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Bài báo “The Exodus: Last Chopper Out of Saigon” (Cuộc di tản: Chiếc trực thăng cuối cùng rời Sài Gòn) đăng trên Tạp chí TIME ngày 12/5/1975 thuật lại những giờ phút căng thẳng cuối cùng của cuộc di tản, tái hiện cảnh hỗn loạn tại sân bay Tân Sơn Nhất và Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, thậm chí tại các căn cứ quân sự Mỹ và trại tị nạn ở Thái Lan. Đây là một tư liệu báo chí tiêu biểu về những giờ phút sụp đổ của chế độ Mỹ – ngụy, trước khi bộ đội ta tiến vào giải phóng Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975 (ngôn từ trong bài được giữ nguyên so với bản gốc để độc giả tham khảo).

“Các quý ông, hãy khởi động động cơ”. Mệnh lệnh ngắn gọn, y hệt như trong các cuộc đua ô tô Indianapolis 500 ở Mỹ, vang lên từ hệ thống loa thông báo trên tàu sân bay USS Hancock. Vài khoảnh khắc sau, chỉ huy Phi đội Trực thăng hạng nặng 463, Trung tá Herbert Fix, đã nâng chiếc CH-53 Sea Stallion của mình rời khỏi boong của con tàu sân bay cũ kỹ. Khi 7 chiếc trực thăng khác trong phi đội của ông ta rời boong, chúng bay đi theo một đội hình chặt chẽ, chao lượn giữa những cơn gió mạnh và những đám mây mưa đen kịt, nặng nề đang bao phủ Biển Đông. Chiến dịch “Gió Lốc” (Frequent Wind), chiến dịch di tản khẩn cấp những người Mỹ cuối cùng khỏi Sài Gòn, đã bắt đầu.

Trực thăng của thủy quân lục chiến đậu trên nóc Đại sứ quán Mỹ đón người di tản ngày 29/4/1975. Ảnh: Dirck Halstead

Chiến dịch giải cứu đã bị yêu cầu phải trì hoãn càng lâu càng tốt – mà theo quan điểm của nhiều quan chức Lầu Năm góc thì là “quá lâu”. Trong những tuần gần đây, 44 tàu hải quân Mỹ, 6.000 lính thủy đánh bộ, 120 máy bay chiến đấu và tiếp nhiên liệu của Không quân cùng 150 máy bay của Hải quân Hoa Kỳ đã được điều động đến khu vực này. Nhưng Ngoại trưởng Henry Kissinger và Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, Graham Martin, lập luận rằng việc rút toàn bộ cộng đồng người Mỹ có thể gây ra làn sóng hoảng loạn ở Sài Gòn và đẩy nhanh sự sụp đổ của chính quyền Nam Việt Nam.

Trong 8 ngày trước đó, máy bay Mỹ đã sơ tán gần 40.000 người tị nạn Mỹ và Nam Việt Nam khỏi căn cứ không quân Tân Sơn Nhất gần Sài Gòn. Nhưng đến tuần trước, hoạt động không vận ngày càng trở nên nguy hiểm. Pháo kích và tên lửa đã khiến sân bay Tân Sơn Nhất phải đóng cửa vào sáng thứ Hai. Ngày hôm sau, một chiếc máy bay vận tải C-130 của Mỹ bị trúng tên lửa ngay trên đường băng và bốc cháy trong khi phi hành đoàn đang thoát ra ngoài. Một lúc sau, hai hạ sĩ lính thủy đánh bộ Mỹ đang canh gác khu nhà của Tùy viên quốc phòng Mỹ tại Tân Sơn Nhất đã thiệt mạng do pháo kích của lực lượng Cộng sản.

Tin tức về việc chiếc C-130 bị phá hủy và binh lính Thủy quân lục chiến thiệt mạng được chuyển đến Tổng thống Gerald Ford khi ông ta đang họp với các cố vấn về năng lượng và kinh tế. Ford đã viết vội một ghi chú cho Phó Giám đốc Hội đồng An ninh Quốc gia, Trung tướng Brent Scowcroft: “Tốt nhất là chúng ta nên họp Hội đồng An ninh Quốc gia lúc 7 giờ”.

Rõ ràng, việc sơ tán bằng các chuyến bay thương mại, máy bay quân sự hoặc đường biển không còn khả thi nữa. Các cố vấn an ninh đã bàn bạc liệu tình hình có cho phép khôi phục cầu hàng không quân sự hay không. Nếu không, họ sẽ phải chuyển sang phương án thứ tư, phương án rủi ro nhất: sơ tán bằng trực thăng của Thủy quân lục chiến. Chưa đầy hai giờ sau khi cuộc họp kết thúc mà không có quyết định nào được đưa ra, Ford biết được rằng hai chiếc máy bay vận tải C-130 đang cố gắng hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất đã phải bay vòng trở lại; sân bay bị hàng nghìn người miền Nam Việt Nam hoảng loạn chặn kín. Đến lúc đó, tất cả các cố vấn của Ford, kể cả Đại sứ Graham Martin, đều đồng ý rằng phải thực hiện “Phương án 4”. Lúc 10:45 tối, Tổng thống ra lệnh bắt đầu Chiến dịch Gió Lốc.

Ngoại trưởng Kissinger gọi điện cho Tổng thống Ford để báo cáo rằng một phi đội gồm 81 chiếc máy bay trực thăng sắp sửa bắt tay vào nhiệm vụ, sau đó, vào lúc 01:08 sáng thứ Ba (ngày 29/4), ông ta gọi lại để báo tin rằng cuộc sơ tán đã bắt đầu. Tại Sài Gòn, nơi nhộn nhịp nhất trong phần lớn thời gian trong ngày chính là khu vực hạ cánh tại sân bay Tân Sơn Nhất, một sân tennis gần khu nhà của tùy viên quốc phòng. Các trực thăng lần lượt hạ cánh hai chiếc một lúc, thả xuống các tiểu đội Thủy quân lục chiến – tổng cộng 860 người, tăng viện cho 125 lính thủy đánh bộ đã có mặt tại hiện trường – rồi nhanh chóng đón những người cần di tản.

Hơn 4 giờ chiều ngày 29/4/1975, Ngoại trưởng Kissinger xông vào phiên họp kinh tế của Tổng thống Ford để thông báo với Tổng thống rằng cuộc di tản khỏi Sài Gòn đã gần như hoàn tất, và ông nghĩ Đại Sứ Martin sẽ sớm bay ra ngoài. Ảnh: David Hume Kennerly

Khi chiến dịch tiếp tục, nhiều trực thăng bị bắn. Phần lớn người được di tản ngồi trong nỗi hoảng sợ lạnh người khi trực thăng cất cánh. “Trong 3 phút tiếp theo khi máy bay tăng độ cao”, phóng viên Tạp chí TIME William Stewart tường thuật, “chúng tôi gần như nín thở. Chúng tôi biết phía Cộng sản đang sử dụng tên lửa tầm nhiệt, và chúng tôi chuẩn bị tinh thần có thể bị bắn rơi bất cứ lúc nào. Khi tôi ngó nghiêng xung quanh xem ai đang ở trên máy bay thì Bửu Viên, Bộ trưởng Nội vụ VNCH, mỉm cười và giơ ngón tay cái ra hiệu mọi việc đã ổn. 40 phút sau, chúng tôi đã ở trên tàu đổ bộ USS Denver của Hải quân Mỹ, và an toàn”.

Đến tối, nhiệm vụ tại Tân Sơn Nhất đã hoàn thành, nhưng việc sơ tán Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn vẫn chưa được thực hiện. Mưa xối xả trút xuống thành phố, và tầm nhìn giảm xuống chỉ còn khoảng một dặm. Một số trực thăng phải dựa vào pháo sáng do lính thủy quân lục chiến bắn lên từ bên trong khuôn viên Đại sứ quán để tìm bãi đáp; những chiếc khác dựa vào đèn pin.

Trực thăng của thủy quân lục chiến Mỹ hạ xuống trụ sở DAO ở Tân Sơn Nhất để di tản nhân viên Việt Nam và Mỹ ngày 29/4/1975. Ảnh: Dirck Halstead

Suốt đêm thứ Ba, đám đông người Việt càng trở nên hỗn loạn hơn; hàng trăm người cố gắng trèo qua bức tường cao ba mét, bất chấp hàng rào dây thép gai giăng phía trên. Lính thủy quân lục chiến phải dùng hơi cay và báng súng để ngăn chặn đám đông đang tràn vào. Một số người la hét, một số khác van xin được đưa đi cùng. Lính thủy quân lục chiến rút dần lên từng tầng rồi lên mái nhà của Đại sứ quán, những kẻ hôi của bám sát phía sau. Các văn phòng bị bỏ lại biến thành bãi phế liệu với những chiếc máy đánh chữ bị đập vỡ và tủ hồ sơ bị lục tung. Ngay cả tấm bảng đồng khắc tên 5 quân nhân Mỹ đã thiệt mạng tại Đại sứ quán trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 cũng bị giật khỏi bức tường ở sảnh. Lính thủy quân lục chiến ném lựu đạn hơi cay vào giếng thang máy; có lúc không khí đặc quánh hơi cay đến nỗi các phi công trực thăng trên mái nhà cũng bị ảnh hưởng.

Trước tình hình đó, không khí căng thẳng leo thang ở cả Washington và Sài Gòn. Đại sứ Martin đã lập danh sách 500 người Việt Nam cần được di tản; ông ta không chịu rời đi cho đến khi tất cả đều an toàn. Sự chậm trễ của ông khiến một quan chức chính quyền mỉa mai: “Ông Martin đã đưa được 600 trong số 500 người Việt Nam ra khỏi đó”. Cuối cùng, vào lúc 5 giờ chiều (giờ Washington) – tức là 5 giờ sáng ở Sài Gòn – Kissinger thông báo với Tổng thống rằng ông Martin đang đóng cửa Đại sứ quán và phá hủy các thiết bị liên lạc. Vài phút sau, một chiếc trực thăng phát đi thông điệp: “Lady Ace 09, Code 2 đang ở trên máy bay”. Lady Ace 09 là tín hiệu gọi của chiếc trực thăng; Code 2 là mật mã chỉ một đại sứ.

Trong khi đó, có tới 130 chiếc máy bay và trực thăng của Nam Việt Nam, bao gồm cả máy bay chiến đấu F-5, máy bay vận tải và máy bay tấn công, được báo cáo đã đến Căn cứ không quân Utapao do Mỹ điều hành tại Thái Lan, chở theo khoảng 2.000 binh lính và thường dân; lúc đó đã có khoảng 1.000 người tị nạn Campuchia chen chúc trong các lều trại ở đó. Lo ngại trước tình hình này, chính phủ Thái Lan tuyên bố rằng những người tị nạn phải rời đi trong vòng 30 ngày và họ sẽ trả lại máy bay cho “chính phủ kế tiếp ở miền Nam Việt Nam”. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Schlesinger kiên quyết khuyên Bangkok không nên làm như vậy; theo các thỏa thuận viện trợ, thiết bị không thể được chuyển giao cho chính phủ mới mà phải được trả lại cho Hoa Kỳ.

Đến cuối tuần đó, khoảng 7 chiếc máy bay trực thăng của Nam Việt Nam đã hạ cánh hoặc cố gắng hạ cánh xuống các tàu của Hải quân Hoa Kỳ. Một phi công Nam Việt Nam đã hạ cánh chiếc trực thăng của mình lên trên một chiếc khác khi cánh quạt của chiếc trực thăng bên dưới vẫn còn đang quay. Những người khác phải cho máy bay hạ cánh xuống biển và được vớt lên khỏi mặt nước. Một chiếc máy bay trực thăng tìm kiếm cứu nạn của Mỹ từ tàu sân bay USS Hancock đã bị rơi xuống biển, và hai trong số 4 thành viên phi hành đoàn được liệt kê là mất tích – có thể là những trường hợp tử vong cuối cùng của người Mỹ trong cuộc chiến tranh này.

Cảnh hỗn loạn tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn ngày 29/4/1975. Ảnh: Nik Wheeler

“Những ngày cuối cùng của cuộc di tản thực sự rất căng thẳng”, sau này Tổng thống Ford thừa nhận. “Chúng ta không bao giờ chắc chắn liệu có gặp rắc rối với đám đông hay không”. Như Ford đã nhận xét, toàn bộ chiến dịch đã diễn ra tốt đẹp hơn “những gì chúng ta có quyền mong đợi”. Theo Bộ Quốc phòng, 1.373 người Mỹ và 5.680 người miền Nam Việt Nam – nhiều hơn nhiều so với dự định ban đầu của Mỹ – đã được sơ tán. Thêm 32.000 người Việt Nam tuyệt vọng khác đã tìm cách vượt biển bằng thuyền, bè và xuồng đến các tàu của Mỹ ngoài khơi, nâng tổng số người được di tản trong tuần đó lên khoảng 70.000 người.

Gần ba giờ sau khi đại sứ rời đi, người lính thủy quân lục chiến Mỹ cuối cùng đã được rút khỏi Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Một vài nhà báo, nhà truyền giáo và những người Mỹ khác vẫn ở lại, cũng như 6 công dân Mỹ đang bị giam giữ trong các nhà tù của VNCH. Nhưng sự hiện diện của Mỹ tại Việt Nam có thể nói là đã kết thúc vào sáng thứ Tư tuần trước (ngày 30/4/1975) lúc 7 giờ 52 phút giờ địa phương, khi một phi công trực thăng phát đi thông điệp chính thức cuối cùng từ Sài Gòn: “Trực thăng Swift 22 đã cất cánh với 11 hành khách. Lực lượng an ninh mặt đất đã có mặt trên máy bay”.

Người tị nạn từ miền Nam Việt Nam đang chờ được đón sau 24 giờ lênh đênh trên biển. Ảnh trong bài báo gốc trên Tạp chí TIME/SIPA Press

Cuối tuần đó, một nhóm gần 600 người tị nạn khác đã đến Thái Lan sau một hành trình gian khổ kéo dài 3 ngày rưỡi bằng xe tải từ Phnom Penh. Hầu hết là người Pháp, họ đã tìm nơi trú ẩn tại Đại sứ quán Pháp khi thủ đô của Campuchia rơi vào tay Khmer Đỏ và kể từ đó gần như trở thành tù nhân. Điều khiến Pháp vô cùng khó chịu là mặc dù là một trong những quốc gia phi cộng sản đầu tiên công nhận Khmer Đỏ, nhưng Đại sứ quán của họ vẫn bị biến thành một nhà tù thực sự. Thực phẩm, thuốc men và liên lạc đều bị cắt đứt. Sau những phản đối từ Paris, Khmer Đỏ cuối cùng đã cho phép 600 người này rời đi. Sidney Schanberg, phóng viên của tờ New York Times, là một trong số vài nhà báo trong nhóm này. Hầu hết họ đều có vẻ khỏe mạnh. Tất cả các nhà báo đã đồng ý không viết bài nào cho đến khi khoảng 250 người còn lại trong Đại sứ quán cũng được an toàn.■

Hoàng Anh (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN