Nhân chứng từ Tòa Đại sứ Mỹ: Bối cảnh Việt Nam trước ngày Sài Gòn thất thủ

Wolfgang J. Lehmann đến Việt Nam vào tháng 6/1973, ban đầu giữ chức Tổng Lãnh sự tại thành phố Cần Thơ. Sau đó ông đến Sài Gòn vào tháng 3/1974 làm Phó Trưởng Phái bộ dưới quyền Đại sứ Graham Martin. Trong khoảng 13 tháng trước sự kiện Sài Gòn thất thủ ngày 30/4/1975, ông nhiều lần đảm nhiệm chức vụ Đại biện lâm thời. Ông là một trong những người cuối cùng rời Tòa Đại sứ Mỹ vào ngày 30/4/1975.

Trong thời kỳ ông Lehmann công tác ở Việt Nam, sự ủng hộ của người dân Mỹ đối với cuộc chiến đang suy giảm. Nước Mỹ vừa bước vào nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Nixon. Vụ Watergate đang gây ra những vết thương nghiêm trọng trong đời sống chính trị Hoa Kỳ. Lực lượng quân sự Hoa Kỳ đã được rút khỏi Việt Nam. Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm hỗ trợ vật chất từ Quốc hội Mỹ cho Chính phủ Nam Việt Nam trở nên ngày càng khó khăn.

Tạp chí Phương Đông giới thiệu với bạn đọc trích đoạn bài phỏng vấn Wolfgang J. Lehmann do Robert Martens thực hiện ngày 9/5/1989, trong khuôn khổ Dự án Lịch sử Truyền khẩu về Ngoại giao của Hiệp hội Nghiên cứu và Đào tạo Ngoại giao, Hoa Kỳ. Trong tài liệu này, Lehmann đã tiết lộ nhiều thông tin có giá trị về bối cảnh Việt Nam và thế giới trước sự kiện Sài Gòn thất thủ cũng như diễn biến chi tiết của sự kiện này. Khi chuyển ngữ, chúng tôi giữ nguyên cách dùng từ của tác giả để đảm bảo tính khách quan.

***

Hỏi: Có nhiều ý kiến khác nhau về lý do tại sao Nam Việt Nam – tức là Việt Nam Cộng hòa (VNCH) – chấm dứt tồn tại vào cuối tháng 4/1975. Một số người cho rằng số phận của Việt Nam đã được định đoạt ngay từ thời điểm các Hiệp định Paris được ký kết vào tháng 1/1973, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, và rằng tất cả những gì còn lại chỉ là khoảng nghỉ trước khi kết thúc. Ông có đồng ý với quan điểm đó không?

LEHMANN: Tôi cho rằng các Hiệp định Paris có những khiếm khuyết nghiêm trọng trên nhiều phương diện, nhưng tôi không đồng ý rằng ngay khi các hiệp định đó được ký kết thì kết cục đã được tiền định như thực tế đã xảy ra vào cuối tháng 4/1975.

Ảnh hộ chiếu của Wolfgang J. Lehmann, 1973. Nguồn: Bảo tàng Quốc gia Ngoại giao Hoa Kỳ

Thỏa thuận đó quả thực có thiếu sót, ít nhất ở hai phương diện lớn, trong đó quan trọng nhất là việc cho phép Quân đội Bắc Việt Nam tiếp tục ở lại miền Nam Việt Nam.

Một thiếu sót khác là sự hư cấu rằng tồn tại một thực thể gọi là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLT), và chúng ta chấp nhận quan niệm rằng thực thể hư cấu này là một bên hợp pháp của các Hiệp định Paris. Nhân đây nói thêm, đó cũng là lý do vì sao chúng tôi ở Đại sứ quán, mỗi khi buộc phải nhắc đến CPCMLT, đều luôn đặt tên đó trong dấu ngoặc kép. Chúng tôi không bao giờ để nó đứng độc lập như khi chúng tôi nói đến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), tức danh xưng chính thức của Bắc Việt Nam.

Hà Nội chắc chắn coi các Hiệp định Paris là một chiến thắng của họ và đã công khai nói như vậy sau khi Nam Việt Nam sụp đổ. Tuy nhiên, tôi không tin rằng kết cục đó là điều không thể tránh khỏi. Mọi việc phụ thuộc vào việc Hoa Kỳ và Nam Việt Nam, đặc biệt là Hoa Kỳ, có khả năng và có sẵn sàng – và tôi muốn nhấn mạnh chữ “sẵn sàng” – kiên quyết yêu cầu Hiệp định được thực thi đúng như văn bản hay không.

Điều đặc biệt quan trọng là Hoa Kỳ phải thể hiện tâm thế sẵn sàng hậu thuẫn cho sự kiên quyết ấy bằng cách sử dụng vũ lực ở một mức độ nào đó nếu cần thiết. Điều đó không nhất thiết có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ tái triển khai lực lượng bộ binh, nhưng việc đưa sức mạnh không quân Mỹ trở lại chắc chắn vẫn là một yếu tố được tính đến. Dĩ nhiên, điều đó đã không xảy ra.

Một trang trong cuốn sổ công tác của Lehmann. Vào ngày 30/4/1975, ông viết: “5:20 rời Sài Gòn. 6:10 đến tàu USS Denver”. Nguồn: Bảo tàng Quốc gia Ngoại giao Hoa Kỳ

Ngay sau khi các Hiệp định Paris có hiệu lực, Quốc hội, theo đề xuất của Thượng nghị sĩ Church, đã cấm đưa các lực lượng chiến đấu Hoa Kỳ trở lại Việt Nam. Sự thiển cận của Quốc hội đã khiến chúng ta hầu như không còn đòn bẩy nào để buộc Hà Nội tuân thủ các điều khoản của Hiệp định. Trên thực tế, viện trợ của chúng ta cho VNCH, cả quân sự lẫn kinh tế, đã bị cắt giảm dần dần rất sớm sau khi Hiệp định có hiệu lực, và sự can thiệp của Hoa Kỳ dĩ nhiên ngày càng trở nên xa vời trong khi một cuộc khủng hoảng chính trị bùng phát tại Washington, cuộc khủng hoảng cuối cùng đã buộc Nixon từ chức.

Hỏi: Tôi tin rằng Liên Xô và Trung Quốc, hoặc ít nhất là Liên Xô, vẫn tiếp tục viện trợ cho Bắc Việt Nam. Ông có thể bình luận về quy mô của sự hỗ trợ đó và sự tương phản giữa dòng viện trợ cộng sản cho Bắc Việt Nam và sự sụt giảm viện trợ của Hoa Kỳ cho VNCH không?

LEHMANN: Cả viện trợ của Liên Xô lẫn Trung Quốc, đặc biệt là Liên Xô, đều tiếp tục ở mức rất cao. Hiệp định có một điều khoản quy định rằng cả hai bên có thể thay thế các vật tư quân sự – đạn dược, trang thiết bị… – trên cơ sở một đổi một ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta không bao giờ thực hiện điều đó, vì chúng ta không bao giờ có đủ phương tiện ngân sách để thực sự thay thế các vật tư quân sự bị tổn thất của phía Nam Việt Nam trong giai đoạn xung đột cường độ thấp diễn ra trong các năm 1973 và 1974. Bắc Việt Nam không gặp phải hạn chế đó.

Hoàn toàn không có cách nào để bảo đảm phía bên kia tuân thủ điều khoản này. Nó đơn giản đã bị phớt lờ. Hà Nội không cho phép Ủy ban Quốc tế về Kiểm soát và Giám sát (ICCS) thực thi thẩm quyền của mình trong vấn đề đó, ngay cả khi cơ quan này có muốn làm vậy. Hà Nội cũng không chấp nhận yêu cầu được quy định trong các Hiệp định Paris rằng phải thiết lập một số cửa khẩu nhất định để việc thay thế một đổi một đạn dược và các vật tư quân sự khác được giám sát. Vì vậy, những cửa khẩu đó đã không bao giờ được thiết lập, ngoại trừ ở phía chúng ta.

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973. Ảnh: TTXVN

Hỏi: Rất có thể lượng vật tư đổ vào cao gấp hai hoặc ba lần mức thay thế “một đổi một” được cho phép; ít ra là nhiều hơn mức chỉ đơn thuần bù đắp số vật tư bị hao hụt.

LEHMANN: Ồ, nhiều hơn thế rất nhiều. Chính Tướng Văn Tiến Dũng, chỉ huy Bắc Việt Nam cuối cùng đã chinh phục miền Nam, đã đề cập đến quy mô của lượng đạn dược, trang thiết bị quân sự, xe tải và vũ khí. Bản tường thuật của ông ta, được đăng lần đầu theo dạng nhiều kỳ trên báo Nhân Dân ở Hà Nội và sau đó xuất bản thành sách, nói đến hàng nghìn xe tải và pháo được đưa vào miền Nam qua mạng lưới Đường mòn Hồ Chí Minh. Điều khoản đó chưa bao giờ được họ tôn trọng.

Hỏi: Trở lại với diễn biến bao quát hơn của cuộc chiến và tình hình ở cả Washington và châu Á, ông từng được trích dẫn nói rằng Watergate là lý do cuộc chiến kết thúc bằng một chiến thắng quân sự của Bắc Việt Nam vào tháng 4/1975. Ông có thể bình luận thêm về nhận định này không?

LEHMANN: Hà Nội dĩ nhiên chưa bao giờ từ bỏ ý định cuối cùng sẽ chinh phục miền Nam. Đối với họ, vấn đề chỉ là khi nào và bằng cách nào. Chúng tôi biết rằng trong năm 1973 và kéo dài sang phần lớn năm 1974, giới lãnh đạo Hà Nội có ý kiến khác nhau về việc nên ưu tiên điều gì. Câu hỏi đặt ra cho họ lúc bấy giờ (dựa trên nguồn tình báo rời rạc của mình, chúng tôi vẫn có khả năng đưa ra một ước lượng khá chính xác) là liệu họ có nên dành nguồn lực để giải quyết các vấn đề nội bộ nghiêm trọng trong nước, và đặt việc thống nhất đất nước dưới sự kiểm soát của họ vào một viễn cảnh dài hạn hơn (người châu Á nghĩ rất xa) hay là nên khẩn trương dốc toàn lực và sớm đạt được một giải pháp. Họ đã tranh luận khá nhiều về điều đó.

Tổng thống Nixon từ chức vào đầu tháng 8/1974. Chỉ trong vòng một tuần sau đó, viện trợ quân sự Hoa Kỳ cho Nam Việt Nam bị cắt giảm mạnh theo yêu cầu của Quốc hội. Thực tế, cuộc bỏ phiếu hạ mức viện trợ xuống còn 700 triệu đô la (chưa đến một nửa so với mức trước đó, và phần lớn trong số 700 triệu đó trên thực tế không thực sự khả dụng, điểm này tôi sẽ giải thích sau) đã được tiến hành sau một cuộc bỏ phiếu về một nghị quyết nhằm cắt toàn bộ viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam. 26 Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đã bỏ phiếu cắt toàn bộ viện trợ ngay lập tức. Chính những thực tế đó đã khiến giới lãnh đạo Hà Nội quyết định tiến hành một cuộc tổng tấn công quy mô lớn vào năm 1975 nhằm chấm dứt chiến tranh theo các điều kiện của họ.

Hỏi: Họ tận dụng tình thế này?

LEHMANN: Hà Nội đưa ra quyết định dựa trên đánh giá của họ về tình hình chính trị tại Hoa Kỳ. Họ kết luận rằng, xét đến tình hình chính trị ở Washington do cuộc khủng hoảng Watergate gây ra, Hoa Kỳ sẽ không can thiệp một cách hiệu quả. Tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, trong một bức điện tôi gửi về Washington ngày 13/8/1974 với tư cách Đại biện, chúng tôi đã nói rằng những gì đang diễn ra tại Washington – chủ yếu dưới hình thức cắt giảm mạnh viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam – sẽ khiến Hà Nội quyết định tiến hành một cuộc tổng tiến công nhằm chinh phục miền Nam. Và chúng tôi đã nhận định hoàn toàn đúng.

Hỏi: Quả thực là như vậy.

LEHMANN: Theo những gì chúng tôi có thể xác định được, quyết định đó hẳn đã được đưa ra vào đầu tháng 9/1974. Sau khi chiến tranh kết thúc, trong bản tường thuật mang tên Đại thắng Mùa xuân, Tướng Văn Tiến Dũng đã công khai xác nhận rằng quyết định được đưa ra vào khoảng thời gian đó và được phê chuẩn tại một cuộc họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ở Bắc Việt Nam vào đầu tháng 10. Như vậy, toàn bộ diễn biến dẫn đến quyết định chính trị của Hà Nội vào đầu mùa thu năm 1974 về việc tiến hành một nỗ lực quân sự tổng lực vào đầu năm 1975 đã được thúc đẩy bởi cuộc khủng hoảng chính trị tại Hoa Kỳ vào mùa hè năm 1974.

Hỏi: Có phản ứng nào đối với bức điện của ông không?

LEHMANN: Không, và với tâm lý hoài nghi, tôi cũng không thực sự kỳ vọng sẽ có phản ứng nào. Bức điện của chúng tôi mở đầu bằng một đánh giá tóm lược về tình hình quân sự mà chúng tôi đang phải đối mặt do việc cắt giảm Chương trình Viện trợ Quốc phòng cho Việt Nam (DAV). Tướng John Murray, khi ấy là Tùy viên Quốc phòng, đã soạn phần đó cho tôi và gửi một bản chi tiết hơn tới Lầu Năm Góc. Ở khía cạnh kỹ thuật có một số điểm đáng chú ý, bao gồm việc chúng tôi cho rằng chương trình Việt Nam đang bị tính phí hai lần cho việc mua sắm máy bay F-5 cho Không quân VNCH, và rằng các quân chủng của Hoa Kỳ có thói quen tính một phần rất lớn của khoản ngân sách được phân bổ vào các chi phí gián tiếp, thường được ghi dưới mục PCH&T – viết tắt của packing, crating, handling and transportation (đóng gói, đóng thùng, bốc xếp và vận chuyển) – khiến phần còn lại dành cho súng, đạn và huấn luyện không còn nhiều. Tuy nhiên, thông điệp thực sự quan trọng của bức điện là điều Quốc hội Mỹ đang làm đã phát đi tín hiệu cho Hà Nội rằng họ có thể tiến hành biện pháp quân sự để giành chiến thắng và rằng Hoa Kỳ không có ý định ngăn cản họ.

Hỏi: Ông đã đề cập rằng có một hội nghị ở Hà Nội trong đó quyết định tiến hành một cuộc tổng tấn công vào miền Nam nhằm hoàn tất việc chinh phục đã được phê chuẩn. Theo thời gian, ông có tìm thấy thêm xác nhận nào về điều đó không?

LEHMANN: Có, nhưng chỉ sau khi Tướng Dũng công bố tác phẩm mà tôi đã đề cập. Bản tường thuật đó bao gồm một phát biểu rất đáng chú ý về tầm quan trọng của việc Hà Nội đánh giá tình hình chính trị tại Washington trong quá trình ra quyết định của họ. Đó là một phát biểu rất thẳng thắn. Ông viết: “Những mâu thuẫn nội bộ của chính quyền Hoa Kỳ và giữa các đảng phái chính trị đã gia tăng. Vụ bê bối Watergate đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả nước Mỹ và khiến Nixon, một Tổng thống cực kỳ phản động, phải từ chức. Hoa Kỳ đối mặt với suy thoái kinh tế, lạm phát gia tăng, thất nghiệp nghiêm trọng và một cuộc khủng hoảng dầu mỏ. Ngoài ra, các đồng minh của Hoa Kỳ không có quan hệ tốt với Hoa Kỳ. Viện trợ của Hoa Kỳ cho chính quyền bù nhìn Sài Gòn đang giảm sút”. Rồi ông trích nghị quyết được thông qua tại hội nghị đó rằng: “Sau khi đã rút khỏi miền Nam, Hoa Kỳ khó có thể quay trở lại, và dù có can thiệp theo cách nào, họ cũng không thể cứu được chính quyền Sài Gòn khỏi sụp đổ”.

Có rất nhiều đoạn khác trong bản tường thuật này cho thấy cuộc khủng hoảng chính trị tại Hoa Kỳ đã giữ vai trò quyết định như thế nào trong quá trình ra quyết định của Bắc Việt Nam.

Hỏi: Như vậy, có phải ông đang nói rằng nếu không có Watergate, chế độ Nam Việt Nam đã có thể sống sót và ngày nay Nam Việt Nam có thể vẫn tồn tại như một quốc gia độc lập?

LEHMANN: Không hẳn thế. Ý tôi là kết cục sẽ không phải như đã diễn ra vào thời điểm đó. Chắc chắn việc Nam Việt Nam có thể tồn tại như một thực thể độc lập là điều nằm trong khả năng có thể xảy ra, nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức đó mà thôi. Vì vậy, tất cả những gì tôi thực sự nói là kết cục có thể sẽ không phải là sự kiện cuối tháng 4/1975 như chúng ta đã thấy. Nó sẽ là một điều gì đó khác.

Hỏi: Ông đã đề cập trước đó rằng Liên Xô và, ở mức độ thấp hơn, tôi cho rằng cả Trung Quốc, vẫn tiếp tục viện trợ cho lực lượng Bắc Việt Nam ở quy mô rất lớn, mặc dù sự hỗ trợ của Hoa Kỳ (cho Nam Việt Nam) đã sụt giảm. Ông có thể nói thêm một chút về vai trò của Liên Xô một cách tổng quát hơn, bên cạnh vấn đề cung ứng? Chẳng hạn, Liên Xô có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của Bắc Việt Nam không?

LEHMANN: Ồ, chắc chắn là có. Không có nghi ngờ gì về điều đó. Đã có tiền lệ lịch sử. Vào mùa xuân năm 1972, khoảng một tuần trước khi cuộc Tổng tấn công Mùa Phục sinh của Bắc Việt Nam bắt đầu, một phái đoàn lớn của Liên Xô, do Thứ trưởng Quốc phòng Liên Xô khi đó là ông Vapiski dẫn đầu, đã đến Hà Nội. Họ đã đóng vai trò trong quyết định liên quan đến chiến dịch đó. Điều này lặp lại vào năm 1974, khi Phó Tổng Tham mưu trưởng Liên Xô, Tướng Kulikov – người sau này trở thành Tư lệnh Khối Hiệp ước Warszawa tại châu Âu – dẫn đầu một phái đoàn rất lớn tới Hà Nội khoảng một tuần trước Giáng sinh năm 1974. Trước đó, vào tháng 11, một phái đoàn quân sự lớn của Bắc Việt Nam đã tới Moskva. Kulikov không đến Hà Nội để hát thánh ca Giáng sinh – một cụm từ mà tôi đã đưa vào một bức điện gửi đi vào thời điểm đó về sự kiện này. Rõ ràng Kulikov cùng phái đoàn đến Hà Nội để chốt lại các chi tiết cuối cùng liên quan đến quyết định tiến hành cuộc tấn công, quyết định đã đạt tới điểm không thể đảo ngược, và để hoàn tất các sắp xếp về viện trợ và hỗ trợ quân sự của Liên Xô cho chiến dịch.

Điều mỉa mai là những sự kiện này diễn ra vào đúng thời điểm Tổng thống Ford và Ngoại trưởng Kissinger gặp phía Nga tại Vladivostok vào tháng 11, vào thời điểm phái đoàn quân sự Bắc Việt Nam thăm Moskva và khoảng một tháng trước khi Kulikov đáp lễ bằng chuyến thăm của ông tới Hà Nội. Một trong những điều luôn khiến tôi băn khoăn là Việt Nam không hề được nhắc tới tại hội nghị thượng đỉnh Vladivostok.

Một nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 238 của Quân đội Nhân dân Việt Nam, tháng 8/1967. Ảnh: N. N. Kolesnik

Hỏi: Ông đã thảo luận về vai trò của Liên Xô. Rõ ràng vai trò của Trung Quốc ít quan trọng hơn. Nhưng theo tôi nhớ, trong thời kỳ đỉnh cao của Cách mạng Văn hóa, Trung Quốc đã gây trở ngại cho việc vận chuyển các nguồn viện trợ của Liên Xô tới Việt Nam bằng đường sắt qua lãnh thổ Trung Quốc. Ông có thể nhận xét về cách thức mà Trung Quốc đã cố gắng đối trọng với ảnh hưởng của Liên Xô bằng cách cung cấp các nguồn viện trợ của riêng mình, về mức độ mà họ có thể đã cản trở phía Liên Xô, cũng như mức độ mà Liên Xô đã đưa các nguồn viện trợ vào Việt Nam bằng cả đường bộ và các phương thức khác – chẳng hạn bằng tàu biển tới Hải Phòng hoặc bằng đường không?

LEHMANN: Phần lớn viện trợ quân sự và các loại viện trợ khác đến Bắc Việt Nam bằng đường biển và đường không, hơn là đường bộ. Theo những gì chúng ta có thể xác định, Trung Quốc khi đó ở vào một tình thế khá lúng túng. Một mặt, như ông đã nhận xét, họ muốn duy trì ảnh hưởng tại Hà Nội. Mặt khác, họ cũng rất lo ngại trước tình hình đang diễn ra. Tôi cho rằng – nhưng không nhớ chắc chắn – sau nhiều trì hoãn thì một số vật tư Liên Xô cũng được chuyển đến Bắc Việt Nam bằng đường bộ. Giữa năm 1974, Trung Quốc bất ngờ chiếm lấy quần đảo Hoàng Sa mà phía Nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Cả Hà Nội lẫn Sài Gòn đều không chấp nhận điều này.

Hỏi: Họ rất bận tâm với mối đe dọa từ Liên Xô ở biên giới phía bắc của họ.

LEHMANN: Đúng vậy. Về mặt ý thức hệ thì họ nên giúp đỡ các nước anh em xã hội chủ nghĩa, nhưng thực tế và lịch sử cho thấy người Việt Nam có thể trở thành một vấn đề. Vì vậy, họ quyết định lợi dụng tình hình và thực thi yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Hỏi: Có lúc ông đã đề cập đến Ủy ban Quốc tế về Kiểm soát và Giám sát (ICCS) và ám chỉ rằng ngay cả khi cơ quan này muốn làm điều gì đó liên quan đến các nguồn viện trợ của Liên Xô thì có lẽ họ cũng khó có khả năng thực hiện; tuy nhiên, hàm ý là bản thân ICCS có lẽ cũng không thực sự muốn làm như vậy. Ông có muốn nói thêm đôi chút về vai trò của ICCS không? Trước hết, xin ông cho biết ICCS là tổ chức gì. Có thể một số thính giả chưa rõ về thành phần của cơ quan này.

LEHMANN: ICCS, tức Ủy ban Quốc tế về Kiểm soát và Giám sát (International Commission for Control and Supervision), là một phần của các Hiệp định Paris. Đó là kiểu giải pháp mà người Mỹ nói chung ưa thích để xử lý vấn đề. Nó đã từng được thử nghiệm ở Đông Dương trong một giai đoạn trước đó. Khi ấy nó không hiệu quả và sang đến giai đoạn 1973 – 1975 cũng vậy. Thành phần ban đầu gồm Canada, Indonesia, Ba Lan và Hungary.

Canada rút lui khi họ nhận ra rằng cơ chế này không thể hoạt động, rằng phía Bắc Việt Nam cùng với Ba Lan và Hungary sẽ không cho phép nó hoạt động. Người Canada rời khỏi Ủy ban vào mùa thu năm 1973. Tôi rất tiếc khi thấy họ ra đi, nhưng hoàn toàn không trách họ khi họ kết luận sẽ không tham gia vào một trò hề.

Ngoài việc không hiệu quả với tư cách một cơ chế buộc các bên tuân thủ Hiệp định Paris, người Hungary và Ba Lan – đặc biệt là người Hungary – còn đóng vai trò tình báo thay mặt cho Bắc Việt Nam. Bất kể có những khác biệt nào tồn tại giữa một bên là Hungary và Ba Lan với bên kia là Liên Xô, thì gần như chắc chắn rằng các cơ quan tình báo và an ninh của họ hợp tác rất chặt chẽ với các cơ quan tình báo và an ninh của Liên Xô – họ gần như là một phần của hệ thống đó – và do đó, trong trường hợp này, cũng phối hợp với Bắc Việt Nam.

Một trong những điều khiến tôi lúng túng nhất mà tôi thường xuyên phải làm là thúc giục Chính phủ Nam Việt Nam đóng góp phần kinh phí của mình để duy trì ICCS. Điều đó thật nực cười, nhưng đôi khi những người trong ngành của tôi vẫn phải làm những việc như vậy.

Hỏi: Ông có nghĩ rằng có thể rút ra một số bài học từ kinh nghiệm này đối với những nơi khác trên thế giới, chẳng hạn như Trung Mỹ?

LEHMANN: Nếu có bài học nào, thì điều tôi muốn lập tức nhấn mạnh là: “Đừng làm điều đó trừ khi anh có mức độ tin tưởng hợp lý rằng các bên thực sự muốn tuân thủ các điều khoản mà họ đã đồng ý”. Nếu không có ý chí chính trị để tuân thủ một thỏa thuận, thì một cơ chế kiểu này không thể thay thế cho sự thiếu vắng ý chí đó.

Các thành viên Canada của ICCS rời Việt Nam tháng 7/1973. Ảnh: Frank Bryant / cbc.ca

Hỏi: Chúng ta vừa thảo luận về sự kết thúc của Chiến tranh Việt Nam chủ yếu dưới góc độ sự thiếu quyết tâm ở Hoa Kỳ, tác động của Watergate, và những thay đổi tiếp theo trong chiến lược của Bắc Việt Nam khi Hà Nội trở nên lạc quan trước mức độ hỗ trợ ngày càng thấp mà phía Nam có thể nhận được. Có lẽ bây giờ đã đến lúc chuyển sang xem xét tình hình thực tế bên trong nội bộ Nam Việt Nam. Và có lẽ một lĩnh vực thích hợp để bắt đầu là tình hình kinh tế ở miền Nam.

LEHMANN: Tình hình kinh tế ở miền Nam trong khoảng hơn hai năm cuối cùng, 1973 – 1974 và đầu năm 1975, đặc biệt trong giai đoạn đầu, chắc chắn là khó khăn, nhưng lúc đó người Việt Nam đã thể hiện khả năng thích ứng phi thường. Năm 1973, năm đầu tiên các Hiệp định Paris có hiệu lực, nền kinh tế Nam Việt Nam chịu tác động của ba diễn biến. Thứ nhất, đó là hệ quả kinh tế của việc Hoa Kỳ rút toàn bộ lực lượng khỏi Việt Nam. Các lực lượng đó, theo một nghĩa nào đó, đã tạo ra cú hích cho nền kinh tế thông qua số tiền mà họ chi tiêu. Ích lợi này phần lớn đã chấm dứt vào cuối năm 1972 và hoàn toàn không còn từ năm 1973 trở đi. Thứ hai là lạm phát toàn cầu, làm tăng giá cả đối với người Việt Nam và làm giảm giá trị thực tế của mỗi đô la viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ cũng như các dự án viện trợ nhỏ hơn của các nước khác.

Cuối cùng là cuộc khủng hoảng và cú sốc dầu mỏ năm 1973, làm giá dầu tăng mạnh. Điều này tác động đến nông nghiệp, vận tải, và các ngành khác như ngư nghiệp, nơi người ta sử dụng thuyền máy. Nó cũng làm giảm đáng kể giá trị của mỗi đô la viện trợ quân sự Hoa Kỳ dùng để mua nhiên liệu cho lực lượng Nam Việt Nam.

Đến cuối năm 1973 và tháng 1/1974, nền kinh tế Nam Việt Nam đã chạm đáy. Đường cong bắt đầu đi ngang vào đầu năm 1974. Đã có những dự báo nghiêm trọng rằng sẽ có một cuộc khủng hoảng gạo ở Sài Gòn vào cuối năm 1973 và 1974, dẫn đến bạo loạn trên đường phố. Điều đó đã không xảy ra. Chính phủ đã quản lý tình hình cung ứng gạo khá tốt, với một số lời khuyên và hỗ trợ từ phía chúng tôi, nhưng tự họ đã quản lý khá tốt.

Đến mùa thu năm 1974, hệ thống kinh doanh nông nghiệp và tín dụng nông thôn, được phát triển đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long, đã vận hành rất tốt. Việt Nam thực sự có triển vọng sẽ lấy lại khả năng tự túc về gạo vào năm 1975, và chắc chắn cả năm 1976. Vào đầu năm 1975, đúng lúc các hoạt động quân sự quy mô lớn của Bắc Việt Nam bắt đầu được triển khai, chúng tôi có thể trông đợi Nam Việt Nam sẽ có một mức thặng dư gạo xuất khẩu nhỏ, nếu không vì tình hình quân sự.

Cùng với đó là những diễn biến khác. Các hoạt động khoan thăm dò dầu mỏ ngoài khơi bắt đầu từ đầu năm 1974, và nhanh chóng cho thấy triển vọng khai thác dầu khí có giá trị thương mại là rất khả quan. Thực tế, các hoạt động này đã tiến triển đến mức vào tháng 1 và tháng 2/1975, các công ty lớn tham gia vào những dự án thăm dò đó muốn thảo luận với chính phủ Nam Việt Nam về các thỏa thuận sản xuất. Dĩ nhiên, tất cả những điều đó đã trở thành vô nghĩa vì tình hình quân sự.

Hỏi: Chúng ta đã nói về tình hình kinh tế nội bộ ở Nam Việt Nam. Tại sao chúng ta không tiếp tục thảo luận về tình hình chính trị nội bộ.

LEHMANN: Chính phủ của Nguyễn Văn Thiệu khá ổn định về mặt chính trị. So với một số giai đoạn trước đó trong lịch sử Việt Nam, kể cả những thời kỳ trước trong quá trình chúng ta can dự – đặc biệt là sau cuộc đảo chính năm 1963 do Hoa Kỳ hậu thuẫn lật đổ Ngô Đình Diệm – thì đó có thể coi là một hình mẫu về sự ổn định. Hình ảnh được tạo dựng và được nuôi dưỡng một cách có hệ thống bởi phong trào chống Nam Việt Nam được tổ chức tốt và được tài trợ dồi dào tại Hoa Kỳ là hình ảnh về một chế độ chuyên chế đàn áp tàn bạo mọi đối lập chính trị hợp pháp và báo chí, và tiến hành bắt giữ và giam giữ hàng loạt – được cho là lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm nghìn – tù nhân chính trị. Nhưng dĩ nhiên điều đó hoàn toàn không đúng.

Chắc chắn không thể kỳ vọng Việt Nam, cũng như bất kỳ quốc gia châu Á nào khác, vận hành một nền dân chủ kiểu họp thị trấn New England – đặc biệt trong thời chiến – như nhiều người Mỹ nghĩ rằng các quốc gia khác nên làm. Điều tồn tại ở Nam Việt Nam vào thời điểm đó là một xã hội khá cởi mở và năng động, với cả những điểm tốt và những điểm không tốt. Ví dụ, có 26 tờ báo được xuất bản ở Sài Gòn vào thời điểm đó – phần lớn hoàn toàn vô trách nhiệm. Con số đó đã giảm xuống chỉ còn một tờ sau ngày 30/4/1975, và tờ đó quả thực hoàn toàn “có trách nhiệm” và chỉ in những gì được bảo phải in.■

Wolfgang J. Lehmann

Thanh Trà (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN