Một tài liệu giải mật của Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ cho thấy cơ quan này đã bắt đầu nghiên cứu tình báo tín hiệu của Việt Nam từ đầu thập niên 1950 và vấp phải nhiều thách thức. Mặc dù giàu kinh nghiệm và kiến thức, tình báo Hoa Kỳ vẫn phải thừa nhận người Việt “là những nhà mật mã học xảo quyệt và sáng tạo”. Tạp chí Phương Đông trân trọng giới thiệu với bạn đọc tài liệu này.
Kinh nghiệm mật mã học của Hoa Kỳ đối với vấn đề Việt Nam cho thấy sự phức tạp của công tác thu thập và xử lý tình báo tín hiệu (SIGINT). Để tạo ra SIGINT cần có thời gian và phân tích. Có nhiều ví dụ trong lịch sử mật mã học chứng minh rằng việc tích lũy tri thức thông qua phân tích lưu lượng liên lạc, giải mã mật mã, phân tích ngôn ngữ và dịch thuật sẽ giúp SIGINT trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, kinh nghiệm tại Việt Nam cho thấy việc nghiên cứu và chuẩn bị không phải lúc nào cũng mang lại thành công.
Những thất bại SIGINT từng xảy ra bởi chúng ta không được chuẩn bị cho các cuộc khủng hoảng bất ngờ. Tuy nhiên, điều này không đúng trong trường hợp Việt Nam. Khi Hoa Kỳ bắt đầu gia tăng can thiệp vào Chiến tranh Việt Nam trong thập niên 1960, Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSA) có lợi thế rõ rệt so với phần còn lại của cộng đồng tình báo. NSA đã nghiên cứu mật mã của Việt Minh (tiền thân của Việt Cộng và Bắc Việt) trong suốt thập niên 1950. Chúng ta vừa có những nhân sự giàu kinh nghiệm từng làm việc về vấn đề này, vừa có kiến thức sâu rộng về các kỹ thuật phân tích mật mã của Bắc Việt. Chúng ta nhận thấy người Bắc Việt là những nhà mật mã học xảo quyệt và sáng tạo […][1].
Phần đầu của bài viết gồm hai phần này sẽ tập trung vào thập niên 1950. Chúng ta đã biết gì về năng lực tình báo thông tin liên lạc (COMINT) của Bắc Việt? Bài viết này cũng sẽ minh họa tài năng mật mã của Việt Minh và những lực lượng cộng sản kế tục. Phần sau sẽ tập trung giải thích tại sao NSA đánh mất lợi thế của mình.

Thập niên 1950: Một thập niên nghiên cứu phân tích mật mã
Để hiểu được các hoạt động của NSA đối với vấn đề Việt Nam trong thập niên 1950, cần xem xét bối cảnh lịch sử. Việt Nam có một lịch sử trường kỳ chống lại sự thống trị của các cường quốc thực dân. Vào tháng 5/1941, Hồ Chí Minh thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, hay còn gọi là Việt Minh (Liên minh vì độc lập của Việt Nam), nhằm chính thức hóa cuộc kháng chiến này. Khi chiến tranh kết thúc, vào ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với sự cho phép của phe Đồng minh, Pháp đã tái lập quyền kiểm soát thuộc địa đối với Việt Nam. Hồ Chí Minh phản ứng bằng cách cảnh báo Thủ tướng Pháp Georges Bidault trong một cuộc gặp ngày 14/9/1946 rằng: “Nếu chúng tôi buộc phải chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu. Các ông sẽ giết mười người của chúng tôi, và chúng tôi sẽ giết một người của các ông. Nhưng cuối cùng, chính các ông sẽ mệt mỏi”.
Sau một cuộc chiến kéo dài khoảng chín năm, Pháp bị đánh bại tại Điện Biên Phủ và buộc phải đi đến thỏa thuận. Tuy nhiên, những gì Việt Minh giành được trên chiến trường lại bị tước đi tại Hội nghị Geneva. Hiệp định Geneva đã chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17 thành Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam. Với sự phân chia này, hiệp định áp đặt một lệnh ngừng bắn và quy định các lực lượng Pháp phải rút khỏi Bắc Việt Nam và các lực lượng Việt Minh phải rút khỏi Nam Việt Nam trong vòng 300 ngày tiếp theo. Việc bố trí thêm quân đội nước ngoài trên toàn lãnh thổ Việt Nam bị cấm, và cả Pháp lẫn Việt Minh đều phải rút quân khỏi Lào và Campuchia. Cuối cùng, hiệp định quy định việc tổ chức tổng tuyển cử tự do vào năm 1956, với mục tiêu thống nhất hai miền Việt Nam.
Nam Việt Nam không ký vào hiệp định này. Để duy trì chế độ của mình, Ngô Đình Diệm, người đứng đầu chính phủ Nam Việt Nam, đã lấy cớ không ký hiệp định để hủy bỏ cuộc bầu cử năm 1956. Trong khi đó, Bắc Việt Nam vẫn quyết tâm thống nhất đất nước.
NSA chắc chắn đã có kinh nghiệm lâu năm trong việc xử lý vấn đề Việt Nam, mặc dù rất khó xác định chính xác thời điểm các nhà mật mã học Hoa Kỳ bắt đầu nghiên cứu vấn đề này. Theo truyền thuyết, một sĩ quan hải quân lần đầu tiên giải mã các liên lạc vô tuyến bằng tiếng Việt vào năm 1949, dưới thời Cơ quan An ninh Lực lượng Vũ trang (tiền thân của NSA). Sau khi Chiến tranh Pháp – Đông Dương kết thúc năm 1954, các nhà phân tích của NSA đã thực hiện một nghiên cứu hồi cứu về các liên lạc vô tuyến cũ của phe cộng sản. David W. Gaddy, một nhà ngôn ngữ mật mã được tuyển dụng năm 1953, cho biết ông đã nghiên cứu các liên lạc vô tuyến bằng tiếng Việt có từ năm 1951. Tiến sĩ “Tony” D. Vang Ly, giảng viên người Việt bản xứ đầu tiên, bắt đầu giảng dạy tiếng Việt cho học viên của NSA vào năm 1952.
Tiếng Việt là một ngôn ngữ khó để học viên của NSA nắm vững. Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn âm tiết có thanh điệu (với sáu thanh). Hơn nữa, người phương Tây còn phải học một bảng chữ cái mới gồm 27 phụ âm và 12 nguyên âm. Nhiệm vụ làm chủ ngôn ngữ này đặc biệt khó khăn vào đầu thập niên 1950, bởi khi đó chưa có từ điển Việt – Anh. Các nhà ngôn ngữ học của NSA phải tra từ điển Việt – Pháp, sau đó tra tiếp từ điển Pháp – Anh để hoàn tất việc dịch.
Gaddy giải thích thêm: “Mặc dù chất lượng giảng dạy tại trường của NSA rất xuất sắc, các nhà ngôn ngữ học buộc phải học nghề thông qua đào tạo trực tiếp trong công việc. Các giảng viên bản ngữ không có quyền tiếp cận thông tin mật, nên họ không bao giờ được biết chúng tôi đang thực hiện những công việc gì. Họ không thể điều chỉnh nội dung giảng dạy cho phù hợp với yêu cầu công việc. NSA yêu cầu giảng viên tập trung vào kỹ năng đọc hơn là phát âm, điều này gây khó khăn cho việc thực sự học một ngôn ngữ có thanh điệu”.
Các nhà ngôn ngữ mật mã còn phải đối mặt với những thách thức khác nữa. Tiếng Việt không thể được truyền bằng mã Morse quốc tế tiêu chuẩn do các chữ cái đặc thù và dấu thanh. Trước khi tiến hành dịch thực tế, nhà ngôn ngữ mật mã phải học hệ thống do người Việt tạo ra để biểu đạt những đặc điểm này bằng Morse. Ví dụ, các nguyên âm u và o có thể xuất hiện dưới dạng chữ đơn giản hoặc có thêm dấu móc. Để biểu thị chữ u có dấu móc, điện báo viên Việt Nam gửi ký tự uw. Vì không xuất hiện trong bảng chữ cái tiếng Việt nên chữ w được dùng cho mục đích đặc biệt. Vì tổ hợp uo có dấu móc xuất hiện thường xuyên trong các từ tiếng Việt, điện báo viên Morse sử dụng cách rút gọn wow thay cho uwow trong Morse để biểu thị các chữ có dấu móc này. Một hệ thống như vậy buộc các nhà ngôn ngữ mật mã phải được đào tạo tại chỗ.
Trong suốt thập niên 1950, hệ thống liên lạc của Việt Minh ngày càng trở nên tinh vi hơn. Vào đầu thập niên, Việt Minh hoạt động như thể vẫn đang ở trong những năm 1930 và 1940. Những người cộng sản này là các nhóm du kích buộc phải sử dụng thiết bị cũ từ Thế chiến I và II. Người Mỹ đọc thấy thuật ngữ pháo phòng không 88 ly của Đức trong liên lạc vô tuyến của Việt Minh. Gaddy hồi tưởng: “Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1953-1954), các liên lạc của họ nhiều lần nhắc đến lựu pháo. Vào thời điểm đó, chỉ còn một công ty ở Hoa Kỳ vẫn tiếp tục sản xuất lựu pháo. May mắn là chúng tôi tìm được họ ở Fort Carson, bang Nevada. Công ty này đã giúp chúng tôi về các thuật ngữ mà chúng tôi bắt gặp trong lưu lượng liên lạc của mình”.
Đến giai đoạn 1957-1958, Bắc Việt đã chuyển mình từ một tổ chức du kích thô sơ nghèo nàn thành một lực lượng quân sự chính quy, được chuẩn hóa. Những thay đổi này được thể hiện rõ ràng thông qua COMINT, lúc này đã chứa thông tin về cấp bậc quân sự cũng như các thuật ngữ liên quan đến rocket và tên lửa.
Gaddy cũng ghi nhận một mức độ tinh vi ngày càng tăng trong lĩnh vực mật mã: “Qua những thay đổi trong hệ thống mật mã, các nhà phân tích của NSA phỏng đoán rằng Việt Minh đang được Trung Quốc đào tạo về mật mã. Họ nhận thấy mức độ bảo mật liên lạc cao hơn và các kỹ thuật xây dựng mã phức tạp hơn”. Phỏng đoán này đã được phía Bắc Việt xác nhận trong ấn phẩm Essential Matters, được dịch sang tiếng Anh vào năm 1990 (và hiện có tại Trung tâm Lịch sử Mật mã). Phía Bắc Việt cho biết nhóm các nhà mật mã đầu tiên đã sang Trung Quốc học tập ngay từ giai đoạn 1950-1951. Họ đi vào năm 1950, học trong sáu tháng và trở về nước vào tháng 5/1951 […].
Đến năm 1959, Bắc Việt đã tổ chức một đơn vị mang tên Đoàn 559 với nhiệm vụ mở tuyến xâm nhập vào miền Nam, thường được biết đến với tên gọi Đường mòn Hồ Chí Minh. Đường mòn Hồ Chí Minh chạy từ Bắc Việt qua vùng cán xoong của Lào vào Nam Việt Nam. Cuối năm 1959, phía Bắc Việt cũng thành lập Đoàn 759 để tìm cách tiếp tế cho các lực lượng của họ ở miền Nam. Quy mô của hoạt động tiếp tế và tái tiếp tế này được nắm bắt thông qua COMINT. Như Gaddy đã chỉ ra: “Mức độ sâu rộng trong hiểu biết của chúng ta được thể hiện qua hoạt động của Bộ Ngoại giao, [cơ quan này] đã cố gắng giúp công chúng nhận thức được quy mô của vấn đề bằng cách công bố một sách trắng mang tên ‘A Threat to Peace: North Vietnam’s Effort to Conquer South Vietnam’ (Mối đe dọa đối với hòa bình: Nỗ lực của Bắc Việt nhằm thôn tính miền Nam Việt Nam) vào tháng 12/1961. Tài liệu này được biên soạn dựa trên các dữ liệu COMINT trước đó thuộc diện mật”.

Năm 1961, khi các cố vấn Mỹ bắt đầu hỗ trợ Nam Việt Nam, các nhà phân tích của NSA đã biết rằng đối thủ của chúng ta rất giỏi trong lĩnh vực mật mã và luôn duy trì sự tôn trọng đúng mức đối với năng lực mật mã của phía Bắc Việt […].
Việt Nam không phải là ưu tiên
Gaddy nhận định rằng phía Bắc Việt là những nhà mật mã học xuất sắc […].
Một vấn đề được dành cho bao nhiêu nguồn lực tùy thuộc vào mức độ ưu tiên. Việc phá giải mật mã của Bắc Việt chưa bao giờ là ưu tiên hàng đầu của NSA trong thập niên 1960 và 1970. Mặc dù chúng ta đang tiến hành chiến tranh tại Việt Nam, ưu tiên cao nhất vẫn là Liên Xô, tiếp theo là Trung Quốc. Do sự lúng túng và yếu tố chính trị, NSA chưa bao giờ dành đủ nguồn lực cần thiết để phá giải mật mã của Bắc Việt.
Theo một số nhà phân tích của NSA trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, chúng ta đã bối rối không biết có bao nhiêu đối thủ tham gia cuộc chiến này. Dean Rusk, Ngoại trưởng dưới thời Kennedy và Johnson, nhìn nhận đây là cuộc chiến giữa hai đối thủ riêng biệt. Theo quan điểm của phe Rusk, một mặt là cuộc xung đột nội bộ giữa du kích Việt Cộng, hay còn gọi là quân nổi dậy, sinh sống tại Nam Việt Nam và chính phủ Nam Việt Nam. Mặt khác, có một cuộc chiến khác giữa Bắc và Nam Việt Nam. Gaddy giải thích: “COMINT đã chứng minh rõ ràng Bắc Việt và Việt Cộng không phải là hai thực thể tách biệt. Bắc Việt là bên đưa ra chỉ đạo và cung cấp hỗ trợ cho Việt Cộng. Hoa Kỳ đã phân biệt giữa những người cộng sản ở miền Bắc và Việt Cộng ở miền Nam. Điều này không ai chấp nhận”.

Do sự lẫn lộn này từ phía các nhà hoạch định chính sách, NSA đã mất thời gian tìm kiếm bằng chứng về sự phối hợp. Với tư cách là người đứng đầu B261, bộ phận phụ trách Bắc Việt, Gaddy nhận thấy rằng “khi giao tranh gia tăng, các nguồn lực quý giá đã bị chuyển khỏi bộ phận phụ trách Bắc Việt sang nghiên cứu Việt Cộng. Mặc dù hai bộ phận có hợp tác, vẫn tồn tại sự cạnh tranh và làm việc chồng chéo. Tôi có một câu đùa quen thuộc trong giai đoạn này: Anh có nghe về hai người Bắc Việt hành quân xuống vĩ tuyến 17 không? Một người bước qua và lập tức bị phân loại lại”.
Những người ra quyết định trong NSA có những mục tiêu riêng của họ. Họ tranh thủ sự quan tâm của tổng thống và các nhà hoạch định chính sách khác để giành thêm nguồn lực. Mặc dù những nguồn lực này hữu ích cho việc tiến hành chiến tranh, câu hỏi căn bản vẫn là điều đó sẽ giúp ích như thế nào cho vấn đề Liên Xô hoặc Trung Quốc. Gaddy chỉ ra rằng “các cơ sở thông tin liên lạc được thiết lập […] hữu ích cho việc tiến hành chiến tranh tại Việt Nam, nhưng chúng cũng sẽ hữu ích cho việc nghiên cứu vấn đề Trung Quốc khi chiến tranh kết thúc. Tôi tin rằng các lãnh đạo cấp cao của NSA và các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ chưa bao giờ hình dung chiến tranh Việt Nam sẽ kéo dài lâu đến vậy. Sự hiểu lầm này phần nào giải thích vì sao việc chiến đấu tại Việt Nam chưa bao giờ là ưu tiên hàng đầu của NSA”.■
Sharon A. Maneki
Trung tâm Lịch sử Mật mã học, Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ
Anh Dũng (dịch)
Nguồn: Maneki, Sharon A. “Vietnam: A SIGINT Paradox.” Center for Cryptologic History, NSA, 1998.
Chú thích:
[1] Ngoặc vuông […] thể hiện những đoạn bị che trong tài liệu giải mật. (ND)