Tình hình miền Nam Việt Nam sau 30/4/1975 (Kỳ 2)

Đoạn tư liệu dưới đây được trích từ cuốn sách Vietnam since the Fall of Saigon (Việt Nam sau khi Sài Gòn thất thủ) của William J. Duiker, nhà sử học Mỹ chuyên nghiên cứu về lịch sử Việt Nam hiện đại. Trong tài liệu này, tác giả miêu tả các chính sách chính trị, kinh tế và xã hội được triển khai ngay sau ngày đất nước thống nhất, đồng thời chỉ ra những thách thức mà chính quyền mới phải đối mặt. Bài viết thể hiện một góc nhìn học thuật khách quan về giai đoạn đầu sau năm 1975 tại Việt Nam. Tạp chí Phương Đông xin giới thiệu tới độc giả. 

Thống nhất chính trị

Theo chương trình mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) từng tuyên bố, sau khi lực lượng cách mạng giành thắng lợi ở miền Nam, hai miền sẽ duy trì chính quyền riêng trong một thời gian trước khi tiến tới thống nhất hòa bình. Trong khoảng thời gian ngay sau khi Sài Gòn thất thủ, tình hình đôi lúc cho thấy dường như việc thống nhất sẽ thực sự bị trì hoãn khá lâu. Vào mùa xuân, người phát ngôn của chế độ cho biết một giai đoạn phát triển riêng biệt kéo dài 5 năm đang được tính đến trong khi miền Nam hoàn tất cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của mình. Như một biểu hiện chính thức của ý định đó, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLT) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đã nộp đơn xin gia nhập Liên hợp quốc riêng rẽ. Theo một ước đoán, lãnh đạo Đảng cho rằng một chính quyền riêng của miền Nam, có sự tham gia thích hợp của đại diện “lực lượng thứ ba” từ chế độ Sài Gòn, có thể giành được sự ủng hộ đáng kể của quốc tế.

Đoàn đại biểu miền Bắc, do đ/c Trường Chinh làm trưởng đoàn, và Đoàn đại biểu miền Nam, do đ/c Phạm Hùng làm trưởng đoàn, sau lễ ký các văn kiện chính thức của Hội nghị Hiệp thương Chính trị thống nhất Tổ quốc, 21/11/1975. Ảnh tư liệu TTXVN

Tuy nhiên, đến cuối hè, xuất hiện những dấu hiệu cho thấy lãnh đạo Đảng bắt đầu tái đánh giá kế hoạch này. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24 tổ chức ở Đà Lạt vào tháng 7 và tháng 8, Đảng quyết định bỏ qua giai đoạn mỗi miền một chính phủ riêng, khẩn trương tiến lên chủ nghĩa xã hội và thống nhất hai miền. Như nghị quyết ban hành sau hội nghị nêu rõ, thống nhất đất nước sẽ “tạo ra sức mạnh mới, những thuận lợi mới để phát triển kinh tế, văn hóa và củng cố quốc phòng. Thống nhất đất nước càng tăng cường ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế”.

Những tín hiệu về quyết định này bắt đầu xuất hiện trên báo chí vào cuối hè. Sau đó, đầu tháng 11, một hội nghị gồm các lãnh đạo của MTDTGPMNVN, Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam (một mặt trận cộng sản thành lập năm 1968, tương tự MTDTGPMNVN nhưng nhằm thu hút giới trí thức đô thị), và Hội đồng Cố vấn của CPCMLT (trong thời gian chưa bầu Quốc hội, cơ quan này tạm thời đóng vai trò cơ quan lập pháp tối cao ở miền Nam Việt Nam) được tổ chức tại Sài Gòn để thảo luận vấn đề thống nhất đất nước. Các đại biểu hội nghị chính thức thông qua một đề xuất kêu gọi khẩn trương thống nhất hai miền và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang các hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa ở miền Nam. Ngay sau đó, đại biểu hai miền đã gặp nhau tại Hội nghị Hiệp thương Chính trị ở Sài Gòn để xem xét và phê chuẩn chính thức vấn đề này.

Hội nghị thông qua kế hoạch đẩy nhanh tiến trình thống nhất đất nước và tổ chức tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội chung trong nửa đầu năm 1976. Bộ máy nhà nước sẽ chính thức thống nhất sau đó. Tuy nhiên, quyết định then chốt là từ bỏ ý định trước đây muốn “bồi dưỡng” miền Nam thông qua một giai đoạn “cách mạng dân tộc dân chủ” trước khi tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong bài phát biểu được xem như diễn văn chủ chốt của hội nghị, Trường Chinh nêu rõ:

“Miền Nam Việt Nam đã tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Nay đã hoàn toàn giải phóng, liệu miền Nam có nên giới hạn mình trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong một thời gian trước khi bước vào cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hay không? Tôi cho rằng điều đó là không cần thiết. Thắng lợi vĩ đại của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm nay đã kết thúc thắng lợi giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Việt Nam và mở ra cho nhân dân miền Nam một giai đoạn cách mạng mới với nhiệm vụ chiến lược mới – đó là cách mạng xã hội chủ nghĩa”.

Ông tiếp tục khẳng định nhân dân miền Nam vì thế: “Không nên dừng lại mà phải bước ngay vào con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, cụ thể là bắt đầu từng bước cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc gia và xây dựng những nền tảng đầu tiên của chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, phải hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”.

Như vậy, Trường Chinh kêu gọi miền Nam bắt đầu quá trình chuyển hóa sang chủ nghĩa xã hội, đồng thời xây dựng chính quyền nhân dân, trấn áp các phần tử phản cách mạng, thực hiện chương trình “người cày có ruộng” và xóa bỏ tàn dư của chế độ phong kiến trong quan hệ sở hữu ruộng đất, qua đó bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

Quyết định tăng tốc thay đổi kinh tế gắn trực tiếp với tiến trình thống nhất chính trị. Như Trường Chinh nhấn mạnh, kế hoạch hóa tập trung không thể được thực hiện thành công chừng nào đất nước chưa được đặt dưới một chính quyền thống nhất. Vì vậy, trước hết phải đạt được thống nhất ở cấp nhà nước, trong Đảng và trong các tổ chức quần chúng. Khi đã hoàn tất thống nhất chính trị, miền Nam có thể “từng bước cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, nông nghiệp, thủ công nghiệp và tiểu thương nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời thiết lập các ngành kinh tế dưới sự quản lý của nhà nước, tập thể hoặc dưới hình thức công – tư hợp doanh”.

Mặc dù đưa ra những tuyên bố lạc quan, chế độ dường như ý thức rõ quy mô to lớn của nhiệm vụ phía trước. Các bình luận từ nguồn chính thức cho thấy lãnh đạo Đảng có cái nhìn tỉnh táo về những khó khăn liên quan đến công cuộc tiến lên chủ nghĩa xã hội, và cảnh báo rằng quá trình này sẽ cần nhiều thời gian. Một bài viết dài kỳ trên báo Quân đội Nhân dân vào mùa thu năm 1975 thừa nhận rằng “dù chúng ta có giỏi đến đâu và nỗ lực lớn đến mức nào, chúng ta vẫn cần nhiều năm, thậm chí hàng chục năm, để giải quyết hết những khó khăn này”. Như vậy, có sự thừa nhận rõ ràng rằng dù có tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội thì vẫn phải đi từng bước. Một nguồn khác dẫn lời Lenin rằng chưa từng có giai cấp mới nào bước lên vũ đài lịch sử để nắm quyền mà không trải qua một thời kỳ bất ổn và những cú sốc dữ dội, tình trạng rối loạn, hoang mang và những hoạt động vô ích.

Vì sao Đảng quyết định đẩy nhanh tiến trình thay đổi kinh tế và chính trị ở miền Nam? Trong bài phát biểu tại Hội nghị Hiệp thương Chính trị, Trường Chinh không nói nhiều về vấn đề này, chỉ lưu ý rằng mặc dù hai miền có một số khác biệt – đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và cơ cấu giai cấp – nhưng về những đặc điểm cơ bản thì tương tự nhau. Cụ thể, ông nhấn mạnh rằng cả hai miền đều nằm dưới sự lãnh đạo vững chắc của Đảng.

Những bình luận trên báo chí chính thức sau khi hội nghị kết thúc đã hưởng ứng các nhận định của Trường Chinh và cung cấp thêm lý giải cho quyết định này. Một số bài xã luận chỉ ra rằng tình hình miền Nam năm 1975 khác biệt trên nhiều phương diện quan trọng so với miền Bắc sau Hội nghị Geneva, khi giai đoạn “dân chủ mới” vẫn được duy trì trong vài năm (hàm ý rằng những người phản đối quyết định có thể đã viện dẫn tình hình sau năm 1954 như một tiền lệ). Năm 1954, tình trạng kinh tế lạc hậu buộc miền Bắc phải có một thời kỳ dài xây dựng kinh tế nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật trước khi tiến tới quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Trái lại, vào năm 1975, nền kinh tế đô thị ở miền Nam đã tương đối phát triển (sự thừa nhận miễn cưỡng về một trong những ưu thế của hệ thống tư bản chủ nghĩa), và do đó có nhiều khả năng tiến thẳng tới các hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, công nghiệp tiêu dùng ở miền Nam đã khá phát triển, nhiều thị xã và thành phố có khu vực thương mại và sản xuất tương đối tiên tiến. Hơn nữa, trình độ kỹ thuật của dân cư khá cao, và tồn tại một tầng lớp tiểu tư sản đông đảo và năng động. Giao thông và thông tin liên lạc khá hiện đại. Như vậy, miền Nam đã có sẵn các điều kiện để phát triển nhanh chóng về vật chất và kỹ thuật – điều mà hai thập niên trước miền Bắc chưa có.

Mẩu tin trên báo Nhân Dân số ra ngày 16/4/1976 về việc tổ chức các điểm phân phối lương thực, thực phẩm tại TP. Hồ Chí Minh. Nguồn: Thư viện Quốc gia Việt Nam

Về tình hình nông thôn, khác với miền Bắc năm 1954 – khi tàn dư của “phương thức sản xuất phong kiến” vẫn còn tồn tại – thì ở miền Nam Việt Nam, quyền lực của địa chủ phong kiến ở nông thôn đã suy giảm. Phần lớn đất canh tác đã nằm trong tay nông dân sở hữu ruộng đất tư nhân, do đó không cần phải tiến hành một chương trình cải cách ruộng đất toàn diện tương tự như ở miền Bắc giữa thập niên 1950 để chuẩn bị cho quá trình tập thể hóa. Ngoài ra, sự kháng cự đối với chế độ mới đã tan rã nhanh hơn dự đoán. Đến cuối thu, hoạt động chống đối có vũ trang chỉ còn giới hạn trong các nhóm nhỏ rải rác ở những vùng hẻo lánh.

Xét trên nhiều phương diện, lãnh đạo Đảng hẳn đã có phần ngạc nhiên trước các điều kiện thuận lợi mà họ gặp ở miền Nam. Tuy nhiên, mặt khác, tình hình chính trị và kinh tế chung lại đáng lo ngại, nói nhẹ nhàng là như vậy. Những bước đi ban đầu nhằm trấn an khu vực kinh tế tư nhân ở miền Nam chỉ có tác dụng hạn chế trong việc nâng cao sản xuất và giảm thất nghiệp. Chiến dịch chống giai cấp tư sản mại bản đã loại bỏ được một số lực lượng gây rối trắng trợn nhất trên thị trường, nhưng không làm giảm đáng kể tình trạng đầu cơ tích trữ, vốn gây ra khan hiếm và đẩy giá tiêu dùng lên cao. Nông dân tư nhân ở miền Nam không bán thóc dư cho các tổ chức thu mua của nhà nước mà đưa ra thị trường tự do hoặc dùng làm thức ăn gia súc. Trên thực tế, phần lớn nền kinh tế miền Nam vẫn nằm ngoài sự kiểm soát và ít chịu ảnh hưởng của Chính phủ.

Trong khi đó, chế độ cũng gặp khó khăn trong việc xử lý lối sống “tha hóa và ký sinh” của xã hội miền Nam Việt Nam. Bất chấp những nỗ lực loại bỏ ảnh hưởng phương Tây, những ảnh hưởng đó vẫn tiếp tục lan tỏa và thậm chí đe dọa “tính trong sạch cách mạng” của cán bộ và bộ đội miền Bắc đóng tại miền Nam. Báo chí đăng đầy những bình luận về tệ nạn nghiện ngập, thói quen sa đọa và lối sống hưởng lạc. Giới chức tỏ ra đặc biệt lo ngại trước những dấu hiệu cho thấy các hiện tượng này bắt đầu ảnh hưởng đến thái độ của đảng viên và cán bộ. Họ được cảnh báo phải tránh những thói xấu, chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, sự lười biếng và say sưa những thú vui của “phương Tây suy đồi”. Một bài viết trên một ấn phẩm ở Hà Nội thậm chí còn phê bình những người lính trở về từ miền Nam mang theo băng cassette và mở nhạc rock phương Tây ầm ĩ suốt đêm, làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của những công dân đứng đắn.

Đối với một số người, những xu hướng đáng lo ngại này có thể chỉ nhắc nhở ta phải thận trọng. Với những người khác, dường như đó lại là bằng chứng thuyết phục rằng các vấn đề chính trị và kinh tế của đất nước chỉ có thể được giải quyết khi Chính phủ loại bỏ triệt để thứ mà một nhà bình luận gọi là “đống rác tân thực dân độc hại của đế quốc Mỹ” và thiết lập sự kiểm soát chặt chẽ đối với lĩnh vực thương mại và sản xuất ở miền Nam. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi phần lớn các lãnh đạo Đảng, vốn tin tưởng mạnh mẽ vào ưu thế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đã phản ứng trước những vấn đề ở miền Nam bằng cách kết luận rằng giải pháp nằm ở việc tăng cường kiểm soát của Nhà nước.

Như vậy, hệ tư tưởng đã giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh nội bộ đầu tiên của Đảng về định hướng chiến lược hậu chiến ở miền Nam. Nhìn lại, quyết định nhanh chóng tiến lên chủ nghĩa xã hội và thống nhất hai miền phản ánh niềm tin của Đảng vào năng lực lãnh đạo của chính mình cũng như vào đức tính cần cù, bền bỉ và tài năng của nhân dân Việt Nam – những người được kỳ vọng sẽ nhanh chóng phục hồi sau 20 năm xung đột vũ trang và lập tức bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội gian nan và phức tạp. Người phát ngôn của chế độ thường nhấn mạnh rằng, mặc dù Việt Nam còn nghèo so với các nước phát triển trên thế giới, nhưng sức mạnh lớn của đất nước nằm ở tài năng và phẩm chất của nhân dân Việt Nam, cũng như ở năng lực lãnh đạo của Đảng. Chính những phẩm chất này đã đưa phong trào cách mạng đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh trường kỳ để giải phóng dân tộc. Giờ đây, những phẩm chất đó lại được phát huy để dẫn dắt đất nước tiến tới một tương lai xã hội chủ nghĩa tươi sáng.

Một rủi ro rõ ràng nảy sinh từ quyết định nhanh chóng tiến tới hợp nhất hai miền thành một nhà nước thống nhất là tác động của nó đối với thái độ của người dân miền Nam. Sự khác biệt vùng miền giữa người miền Bắc và người miền Nam có nguồn gốc sâu xa và có trước sự chia rẽ ý thức hệ sau năm 1954. Ở miền Bắc, khởi nguồn văn minh Việt Nam, những biến động thất thường của thời tiết và điều kiện đông đúc ở đồng bằng sông Hồng khiến cuộc sống luôn là một thách thức, và ảnh hưởng của truyền thống rất mạnh mẽ. Các tỉnh phía Nam được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam muộn hơn hàng trăm năm, sau khi nhà nước Việt Nam chinh phục vương quốc thương mại ven biển Champa và chiếm vùng đồng bằng sông Cửu Long từ đế chế Angkor đang suy tàn. Những người Việt di cư từ Bắc vào Nam tìm thấy đất đai màu mỡ và khí hậu thuận lợi, góp phần hình thành thái độ sống phóng khoáng hơn và một không khí “làng biên cương”.

Những khác biệt văn hóa đó càng trở nên rõ nét trong thời kỳ thuộc địa, khi sự hiện diện kinh tế của Pháp nổi bật hơn đáng kể ở miền Nam, và trong thời kỳ hậu Geneva, khi văn hóa Mỹ và thực hành tư bản chủ nghĩa nhanh chóng thâm nhập vào miền Nam. Sự nghi ngờ của người miền Nam đối với sự thống trị của miền Bắc là một yếu tố trong cuộc xung đột dân sự thập niên 1950-1960 và nhanh chóng bộc lộ trở lại sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975. Chính quyền Hà Nội hẳn nhận thức rõ những vấn đề này và dường như hy vọng có thể điều hành miền Nam một cách gián tiếp. Tuy nhiên, do tình trạng thiếu cán bộ người miền Nam và tâm lý thiếu tin tưởng họ, chính quyền đã điều hàng nghìn cán bộ từ miền Bắc vào đảm nhiệm các vị trí nhiều trọng trách trong bộ máy hành chính miền Nam.

Để xoa dịu những nghi ngờ về sự thống trị của miền Bắc, chính quyền đã bổ nhiệm một số người miền Nam vào các vị trí nổi bật trong chính quyền. Tuy nhiên, sự hiện diện rộng khắp của cán bộ miền Bắc trong các vị trí quyền lực, cùng với xu hướng đối xử với dân địa phương bằng thái độ kiêu ngạo khinh khỉnh, ngày càng nhận được nhiều lời chỉ trích, kể cả từ những người miền Nam từng tham gia phong trào cách mạng. Báo chí ghi nhận rằng cán bộ miền Bắc và quan chức Chính phủ thường không hiểu rõ tình hình miền Nam và không “tôn trọng các quyền và tự do của quần chúng”. Một số người dường như không nhận thức được rằng cuộc chuyển đổi sang chủ nghĩa xã hội ở miền Nam “phải được chuẩn bị kỹ lưỡng và tiến hành từng bước có phương pháp”. Những người khác lại tỏ ra nghi ngờ quá mức đối với bất kỳ ai có nguồn gốc tư sản và không nhận ra rằng một số cá nhân thuộc tầng lớp phản động có thể vượt qua những hạn chế chính trị trước đây và tự chuyển hóa thành những thành viên hữu ích, tiến bộ của xã hội.

Quốc hội biểu quyết thông qua Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội thống nhất, ngày 2/6/1976. Ảnh tư liệu TTXVN

Quyết định đẩy nhanh tiến trình thống nhất chắc hẳn đã làm trầm trọng thêm những tâm lý đó. Mặc dù các tuyên bố chính thức khẳng định rằng người dân miền Nam vui vẻ, hài lòng đón nhận thông báo này, các phát ngôn viên của chế độ thừa nhận riêng rằng quyết định này không nhận được sự hoan nghênh đồng loạt ở miền Nam và đã được tranh luận sôi nổi tại các hội nghị tổ chức vào tháng 11. Tuy vậy, quá trình thống nhất về mặt nhà nước vẫn được thực hiện tương đối thuận lợi. Tháng 12, quyết định này được phê chuẩn chính thức ở cả hai miền: tại miền Bắc bởi Quốc hội VNDCCH, và tại miền Nam bởi một hội nghị đại biểu nhân dân của CPCMLT. Tháng 1/1976, miền Nam chính thức trở lại chế độ dân sự khi các Ủy ban quân quản bị giải thể và Ủy ban (Quân quản) Sài Gòn chuyển giao quyền lực cho Ủy ban Nhân dân Cách mạng gồm 14 thành viên, do Võ Văn Kiệt, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, làm Chủ tịch. Sau đó, vào tháng 4, các cuộc bầu cử được tổ chức để thành lập một Quốc hội mới gồm đại biểu của cả hai miền. Quốc hội thống nhất mới, trong đó hơi quá nửa số thành viên là đại biểu miền Bắc, họp vào tháng 6 và thông qua việc thành lập nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, chính thức công bố vào đầu tháng 7, đồng thời thông qua nghị quyết soạn thảo một bản Hiến pháp mới nhằm đưa toàn bộ đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.■

William J. Duiker

Thanh Trà dịch

 

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN