Nửa đầu năm 1972, thông qua những phương thức liên lạc bí mật, một nhóm tù binh Mỹ tại nhà tù Hỏa Lò đã xây dựng một kế hoạch vượt ngục táo bạo. Theo kế hoạch này, sau khi thoát khỏi trại giam, họ sẽ tìm đường ra sông Hồng, thả trôi theo dòng nước xuống Vịnh Bắc Bộ và được Hải quân Hoa Kỳ đón ngoài khơi. Tạp chí Phương Đông giới thiệu với bạn đọc câu chuyện chi tiết về chiến dịch tuyệt mật khó tin này, trích từ chương 14 cuốn sách “Code-name Bright Light: The Untold Story of U.S. POW Rescue Efforts during the Vietnam War” (Mật danh Bright Light: Chuyện chưa kể về những nỗ lực giải cứu tù binh Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam) của tác giả George J. Veith, xuất bản năm 1998 tại Mỹ.
*
Thiếu tá Không quân Tom Pugh và phi công phụ, Thiếu tá Ronnie Rice, tiếp cận Hà Nội từ phía nam ở độ cao 75.000 feet (22.860 m) trên máy bay trinh sát SR-71. Từ phía đông, một chiếc SR-71 thứ hai đang bay theo hướng phối hợp phía trên họ. Một chiếc SR-71 thứ ba, đóng vai trò dự bị trong trường hợp một trong hai máy bay trên phải dừng nhiệm vụ, tiến đến từ phía tây[1].

Đây là chuyến bay thứ hai của Tom Pugh trên bầu trời Hà Nội trong vòng ba ngày. Phi đội của Pugh gồm bốn chiếc SR-71 đóng tại sân bay Kadena trên đảo Okinawa. Những chiếc máy bay này thực hiện nhiệm vụ chụp ảnh vùng nông thôn miền Bắc Việt Nam từ trên cao, tìm kiếm các hoạt động vận chuyển tiếp tế và các cơ sở quân sự. Ngày 1/5/1972, Pugh nhận được lệnh lái chiếc SR-71 để tạo ra một tiếng nổ siêu thanh trên bầu trời thủ đô Bắc Việt Nam. Một chiếc SR-71 khác sẽ tạo ra tiếng nổ siêu thanh thứ hai trong vòng 15 giây sau tiếng nổ của Pugh. Khi Pugh hỏi vì sao một nguồn lực quốc gia cực kỳ quý giá và khan hiếm lại được sử dụng chỉ để tạo ra một tiếng động lớn ở Hà Nội, ông được trả lời rằng đó là thông tin mật. Tom Pugh nhún vai rồi bắt tay vào việc lập kế hoạch bay[2].
Hai phi hành đoàn tuân theo một lộ trình được tính toán thời gian cực kỳ chính xác để có mặt trên bầu trời Hà Nội đúng giữa trưa. Họ không trải qua chương trình huấn luyện đặc biệt nào, nhưng việc canh thời gian là yếu tố then chốt. Cuộc thử nghiệm đầu tiên của họ được tiến hành vào ngày 2/5 và mọi việc diễn ra hoàn hảo đúng theo kế hoạch. Hôm nay là ngày 4/5, lần thử thứ hai. Đúng 12 giờ trưa, chiếc SR-71 của Pugh một lần nữa vượt tốc độ âm thanh trên bầu trời Hà Nội. Mười giây sau, chiếc SR-71 phía trên họ cũng bay vượt tốc độ âm thanh. Bên dưới họ, trong một khu giam giữ ở “Hanoi Hilton”, hai tù binh chiến tranh nhìn nhau rồi gật đầu. Không một thành viên nào của hai phi hành đoàn biết rằng họ vừa phát đi tín hiệu khởi đầu cho Chiến dịch Thunderhead, một chiến dịch liên quan đến tù binh chiến tranh được bảo mật ở mức cao nhất trong toàn bộ cuộc chiến, một cố gắng tuyệt vọng vào phút chót nhằm đào thoát khỏi nhà tù được canh phòng nghiêm ngặt mà người miền Bắc Việt Nam gọi là Hỏa Lò[a].
Ủy ban Vượt ngục gồm có Dramesi, Jim Kasler, George McKnight và những người khác. Họ thông báo ý định của mình cho Cơ quan Tình báo Quốc phòng Hoa Kỳ (DIA) thông qua nhiều phương thức bí mật khác nhau. Một số kế hoạch đã được cân nhắc rồi bác bỏ, trong đó có phương án chạy trốn về phía vùng núi phía bắc Hà Nội. Một kế hoạch có triển vọng hơn được các tù binh gọi là “Kế hoạch Chuột Chũi” (Mole Plan), nghĩa là đào một đường hầm từ “Hilton” ra Sông Hồng. Sau đó các tù binh sẽ thả trôi theo dòng sông đến cửa sông ở Vịnh Bắc Bộ và được trực thăng tìm kiếm cứu nạn đón tại một trong bốn điểm đã hẹn trước. Kế hoạch này được chuyển đến Lầu Năm Góc vào cuối tháng 1/1972 và được quân đội đặt tên là Chiến dịch Diamond (Kim cương). Khi kế hoạch này lần đầu được trình lên Bộ trưởng Quốc phòng Laird, phản ứng ban đầu của ông hoàn toàn tiêu cực. Nhưng sau khi thảo luận thêm, ông đã thay đổi hoàn toàn quan điểm và phê chuẩn kế hoạch[3].
Tuy nhiên, chính các tù binh hoặc Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân đã thay đổi chiến lược ban đầu. Phần đào hầm bị loại bỏ; các tù binh sẽ phải thoát ra sông bằng một con đường khác. Họ khẳng định có thể thực hiện được điều đó, và vào ngày 28/4, Đô đốc Moorer gửi một bản ghi nhớ cho Đô đốc McCain tại Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương (CINCPAC) phê chuẩn cuộc vượt ngục. Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược, cơ quan kiểm soát các hoạt động bay của những chiếc SR-71, được chỉ thị thực hiện các vụ nổ siêu thanh. Tuy nhiên, các nỗ lực giải cứu của CINCPAC bị tạm hoãn đến giữa tháng 5[4].
Các tù binh đã thông báo cho bộ chỉ huy quốc gia rằng sẽ có từ một đến năm người thoát ra ngoài. Tín hiệu nổ siêu thanh là cần thiết vì hai lý do. Trước hết, để vượt qua quy định cấm vượt ngục nếu không có sự trợ giúp từ “bên ngoài”, những tù binh muốn trốn thoát, trước hết là Dramesi và Kasler, cần bằng chứng cho thấy họ thật sự có hỗ trợ từ “bên ngoài”. Thứ hai, họ muốn xác nhận rằng Hải quân đang chờ họ ở cửa Sông Hồng. Khi tín hiệu nổ siêu thanh được phát ra, họ sẽ rời trại trong khoảng từ ngày 1 đến ngày 13/6. Hoặc họ sẽ dùng một chiếc gương lấy trộm được để phát tín hiệu vị trí của mình, hoặc họ sẽ chiếm một chiếc thuyền và treo cờ đỏ hoặc vàng trên cột buồm. Quan trọng hơn, bộ chỉ huy quân sự tin rằng các tù binh đã bằng cách nào đó có được sự hỗ trợ từ phía người Việt. Theo Tướng Manor: “Sau cuộc đột kích Sơn Tây, Chính phủ Mỹ không muốn cho phép thêm bất kỳ nỗ lực nào khác xâm nhập miền Bắc Việt Nam vì những hệ quả quốc tế và nỗi lo binh sĩ có thể thiệt mạng. Niềm tin rằng các tù binh có sự trợ giúp từ bên trong là một yếu tố quan trọng để kế hoạch được phê chuẩn”.
Trên thực tế, cả Dramesi và Kasler đều khẳng định dứt khoát rằng họ không có sự giúp đỡ nào từ phía người Việt và chưa bao giờ ám chỉ điều đó[5]. Dù Dramesi không phải là một trong những người thực hiện liên lạc bí mật, ông cho rằng sự hiểu lầm này có lẽ xuất phát từ các phương thức liên lạc thô sơ[6]. Theo Dramesi, Ủy ban Vượt ngục đã thiết lập một kênh liên lạc riêng ngoài kênh thông thường mà các tù binh sử dụng.
Một số tù binh đã dành hàng năm trời để chuẩn bị cho cuộc vượt ngục. Kasler kể: “Chúng tôi tích trữ rất nhiều vật dụng. Chúng tôi làm trang phục Việt Nam và cả kiểu nón của họ. Chúng tôi để dành bánh mì và cơm và lấy trộm bất cứ thứ gì có thể dùng được. Người Việt thường vô tư vứt đồ đạc lung tung”. Dramesi đồng tình và nhớ lại rằng: “Chúng tôi dùng vôi trộn với giấy vệ sinh dày để tạo thành một vật liệu giống như bìa cứng. Chúng tôi giấu đồ dùng trong các hốc trên trần và phủ vật liệu đó lên. Sau đó chúng tôi dùng than củi để làm cho lớp bìa hòa với màu tường. Chúng tôi còn có thang, gương và các vật dụng khác. Tôi thậm chí còn giấu trên trần một chiếc chìa khóa mở cửa buồng giam”.

“Kế hoạch của chúng tôi là chờ đến mùa lũ khi dòng sông chảy với tốc độ từ bảy đến mười hai hải lý một giờ. Chúng tôi sẽ mặc đồ ngụy trang, dùng thang và vài cây sào mà chúng tôi có để trèo qua mái nhà rồi vượt tường ở một vị trí không có lính gác. Khi xuống sông, chúng tôi sẽ bám vào những vật nổi trôi theo dòng nước. Khi đến điểm hẹn ngoài Vịnh vào thời gian đã định, chúng tôi sẽ đành phải trông chờ Hải quân tìm thấy mình. Chúng tôi không muốn lấy trộm thuyền cho đến phút cuối trừ khi buộc phải làm vậy. Ủy ban Vượt ngục đã nhận được từ Mỹ một tấm bản đồ khu vực. Trong một trận mưa, họ bọc nó trong nhựa, giấu bên trong một cành cây nhỏ rồi thả trôi theo dòng nước đến chỗ tôi. Nó chỉ cho chúng tôi con đường dễ nhất để ra sông và đến được hòn đảo. Chúng tôi tin rằng cơ hội thành công là rất cao”.
Sau khi tín hiệu nổ siêu thanh được phát ra, cả hai nhóm bắt đầu chuẩn bị. Kasler nói: “Dramesi và tôi lập tức muốn đi ngay. Chỉ có hai chúng tôi và có thể thêm một người thứ ba. Chúng tôi gửi thông điệp cho các sĩ quan tù binh cấp cao xin phép vượt ngục”.
Trong khi đó ở Hawaii, quân đội cũng đang lên kế hoạch thực hiện cuộc giải cứu. Nhiệm vụ được giữ bí mật đến mức lúc đầu chỉ có McCain và hai sĩ quan cấp cao khác của CINCPAC biết về kế hoạch vượt ngục. Sau đó phạm vi được mở rộng đôi chút để bao gồm Đại úy Andy Porth, một chuyên gia về đào thoát và lẩn trốn của Không quân làm việc tại Lực lượng Không quân Thái Bình Dương (PACAF) ở Hawaii. Jack Reisner từng là cấp trên của Porth trong nhiều năm. Porth được triệu tập tới CINCPAC bằng một thông điệp mật đặc biệt. McCain tin rằng cần có một sĩ quan chuyên về đào thoát và lẩn trốn và Porth được chọn. Porth không được phép nói với bất kỳ ai về chiến dịch này, kể cả tư lệnh PACAF[7].
Thiếu tá Hải quân Edwin L. Towers là người thực hiện phần lớn công tác lập kế hoạch và trực tiếp tham gia chiến dịch. Towers điều phối việc triển khai nhiều phương tiện hải quân nhằm hỗ trợ quan sát và có thể giải cứu tù binh – và sau này ông đã viết một cuốn sách về Thunderhead[8]. Hải quân sẽ sử dụng trực thăng tìm kiếm cứu nạn để tiến hành phần lớn hoạt động khảo sát những nhánh sông nhỏ tạo thành vùng châu thổ Sông Hồng. Tàu ngầm của lực lượng đặc nhiệm SEAL, chiếc USS Grayback, sẽ được sử dụng để triển khai các đội SEAL bằng những phương tiện cơ giới nhỏ gọi là SDV. Các đội này sẽ bao quát mặt sau của một hòn đảo nhỏ mà người Mỹ gọi là Point Delta, được xem là điểm hẹn chính.
Công tác lập kế hoạch của Hải quân cho Thunderhead được hoàn tất vào giữa tháng 5. Moorer viết cho McCain: “Ông được phép thực hiện kế hoạch… các tín hiệu đã được triển khai mà không có sự cố nào… Do đó chúng tôi cho rằng sẽ có sự di chuyển tới Point Delta”[9]. Chiến dịch Thunderhead chính thức bắt đầu.


“Thunderhead hiện đang được triển khai”
Ngày 31/5, mọi việc bắt đầu được triển khai. Các mệnh lệnh cần thiết đã được ban hành và giai đoạn giám sát bắt đầu. Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương gửi điện khẩn cho McCain thông báo rằng: “Chiến dịch Thunderhead hiện đang được triển khai”. Tàu USS Long Beach sẽ đóng vai trò tàu chỉ huy của chiến dịch. Các trực thăng cứu hộ HH-3 của Hải quân, được bọc giáp hạng nặng, sẽ đảm nhiệm phần tìm kiếm trên không, trong khi tàu ngầm USS Grayback của lực lượng SEAL sẽ tiến hành tìm kiếm trong khu vực tác chiến quanh hòn đảo và ngoài khơi tới 12 hải lý[10].
Để bảo đảm an ninh tác chiến, thuật ngữ “điệp viên” (agents) được sử dụng trong toàn bộ các liên lạc điện tử, kể cả trên các kênh vô tuyến bảo mật. Việc sử dụng từ “điệp viên” là một phần của câu chuyện ngụy trang được dựng lên nhằm che giấu bản chất thực sự của nhiệm vụ. Phần lớn nhân sự Mỹ tham gia chiến dịch được thông báo rằng họ đang chuẩn bị đón các điệp viên hoặc có thể là những người đào tẩu cấp cao.
Một mối lo ngại lớn hơn cả nguy cơ lộ bí mật là tác động của cuộc chiến đối với kế hoạch vượt ngục của tù binh. Theo một chỉ thị của tổng thống, trước đó Hải quân đã rải thủy lôi sát thương tại cửa Sông Hồng và cảng Hải Phòng. Hải quân lưu ý với McCain rằng: “Nếu các điệp viên tìm cách ra Vịnh bằng thuyền từ bất kỳ con sông nào đã bị rải thủy lôi, khả năng sống sót khi vượt qua các đoạn cửa sông có thủy lôi là rất thấp, trừ khi họ sử dụng một chiếc thuyền gỗ rất nhỏ hoàn toàn không có kim loại… Nếu một thuyền đánh cá kích nổ thủy lôi, những người trên thuyền sẽ có rất ít cơ hội sống sót… Vì chúng ta không thể liên lạc với các điệp viên, chúng ta chỉ có thể hy vọng điều tốt đẹp nhất nhưng phải thừa nhận rằng khả năng thoát ra biển thành công là rất thấp nếu họ di chuyển bằng thuyền”. Bức điện còn nói thêm rằng nếu họ thật sự được dân địa phương giúp đỡ, có lẽ dân sẽ cảnh báo họ về thủy lôi[11].
Hải quân lập tức ngừng các hoạt động rải thủy lôi trong khu vực và tuyên bố các con sông là vùng “cấm nổ súng” đối với máy bay và pháo hạm. Nhưng đã quá muộn; những quả thủy lôi chết người đã chặn mất tuyến đường đào thoát của tù binh và không có cách nào để báo cho họ biết.
Thiếu tá Hải quân Towers và các trực thăng tìm kiếm cứu nạn bắt đầu thực hiện ba chuyến trinh sát mỗi ngày để tìm kiếm một lá cờ đỏ hoặc vàng treo trên một chiếc thuyền. Điều đáng ngạc nhiên là ngay cả khi xâm nhập không phận Bắc Việt Nam, họ không hề bị hệ thống phòng không cộng sản bắn vào. Các hoạt động diễn ra suôn sẻ trong năm ngày đầu tiên, nhưng họ không phát hiện bất kỳ dấu hiệu nào của các tù binh. Sau đó, vào đêm 4/6, vấn đề đầu tiên nảy sinh. Tàu Grayback tìm cách đưa một đội SEAL lên hòn đảo gần bờ biển Bắc Việt Nam nhất. Họ triển khai đội này bằng một phương tiện SDV, nhưng dòng chảy từ cửa sông ra biển mạnh đến mức chiếc SDV hầu như không thể tiến lên. Khi mới đi được nửa đường tới đảo, ắc quy của phương tiện cạn kiệt và các đặc nhiệm SEAL bị mắc kẹt giữa biển khơi.
Biết rằng có một đơn vị đồn trú của Quân đội Nhân dân Việt Nam đóng trên hòn đảo nhỏ giữa sông, và lo ngại cho sự an toàn của đội SEAL, sáng hôm sau tàu Grayback liên lạc vô tuyến với Towers yêu cầu trực thăng tìm kiếm và đón họ. Những người này nhanh chóng được tìm thấy, nhưng người ta quyết định đánh chìm chiếc SDV để ngăn không cho nó rơi vào tay đối phương.
Đêm 5/6, trực thăng tìm cách gặp lại tàu ngầm Grayback và thả đội SEAL trở lại mặt nước để họ có thể quay về tàu. Sau rất nhiều khó khăn trong việc xác định tín hiệu của tàu ngầm, cuối cùng họ cũng phát hiện thấy đèn hiệu nhấp nháy. Không ai biết rằng Grayback đã triển khai chiếc SDV thứ hai cũng trong đêm đó. Đội thứ hai này cũng trở thành nạn nhân của dòng chảy mạnh, chiếc SDV nhanh chóng mất kiểm soát rồi bị lật. Thứ mà phi hành đoàn trực thăng nhìn thấy thực ra là pháo sáng và đèn hiệu của đội SEAL thứ hai đang mắc kẹt, chứ không phải tín hiệu của tàu ngầm.
Khi trực thăng dừng lơ lửng trên mặt nước, đội SEAL đầu tiên nhảy khỏi trực thăng vào màn đêm. Điều kiện bay đêm đó cực kỳ tệ và phi công không thể xác định rõ mặt nước. Các đặc nhiệm SEAL muốn được thả từ độ cao không quá 10 feet (hơn 3 mét) — nhưng thay vì 10 feet, trực thăng đang lơ lửng ở độ cao 30 feet (hơn 9 mét). Người đầu tiên nhảy ra khỏi cửa, Trung úy Melvin S. Dry, đập mạnh xuống mặt nước. Một vật nổi nặng va vào cổ ông khiến ông tử vong ngay lập tức. Một đặc nhiệm SEAL khác bị gãy xương sườn. Phi công trực thăng, không hề biết thảm kịch vừa xảy ra và cũng đang gần cạn nhiên liệu, quay trở lại tàu Long Beach. Đơn độc giữa vùng nước động dữ dội của Vịnh Bắc Bộ, bảy thành viên SEAL còn sống sót đã may mắn tập hợp được với nhau và nổi trên mặt nước suốt phần còn lại của đêm. Khi trời vừa sáng, Towers và chiếc trực thăng quay lại hiện trường và giải cứu họ. May mắn là những người này mang theo các thiết bị phát tín hiệu khẩn cấp giúp xác định vị trí của họ. Trong một bức điện dài, McCain giải thích toàn bộ sự việc cho Moorer. Ông kết thúc bằng nhận xét: “Hy vọng của chúng ta vẫn rất lớn”[12].

Những tình huống cận kề thảm họa chưa dừng ở đó. Sáng ngày 10/6, khi tàu Grayback nổi gần mặt nước để sạc ắc quy thì một nhân viên quan sát tinh mắt trên tàu khu trục nhỏ USS Harold E. Holt gần đó phát hiện vệt sóng đặc trưng do ống thở của tàu ngầm tạo ra. Không ai biết Grayback đang hiện diện trong khu vực nên Holt cho rằng đó là một tàu ngầm đối phương. Không chút do dự, Holt quay mũi tàu và bắt đầu khai hỏa. May mắn thay, khả năng ngắm bắn của tàu không tốt bằng thị lực của những người quan sát, và các quả đạn pháo 5 inch đều trượt mục tiêu. Vị hạm trưởng tàu ngầm dĩ nhiên chẳng vui vẻ gì khi tàu của mình bị đem ra làm mục tiêu tập bắn.
Đến ngày 15/6, các chuyến bay trinh sát liên tục quanh các hòn đảo và những con sông tạo nên cửa của dòng Sông Hồng hùng vĩ không tìm thấy bất kỳ tù binh nào. Nhiệm vụ từng được khởi đầu với rất nhiều hy vọng từ giới lãnh đạo quân sự Mỹ cuối cùng đành phải miễn cưỡng chấm dứt. Moorer gửi cho McCain một bức điện viết rằng: “Giờ đây phải kết luận rằng vì những lý do chưa rõ, nỗ lực vượt ngục vốn là cơ sở cho việc triển khai Thunderhead hoặc đã không diễn ra, hoặc đã thất bại… Đáng tiếc là mục đích thực sự của Thunderhead không thể được tiết lộ cho phần lớn những người đã tham gia chiến dịch. Tuy nhiên, xin hãy chuyển lời cảm ơn và đánh giá cao của cá nhân tôi vì công việc xuất sắc mà mọi người đã thực hiện trong nhiệm vụ nhân đạo quan trọng này”[13].
Điều gì đã xảy ra với Kasler và Dramesi?
Không lâu sau khi các tiếng nổ siêu thanh vang lên, một đề nghị được gửi tới sĩ quan cấp cao nhất trong giới tù binh, John Flynn, xin phép tiến hành cuộc vượt ngục. Sau khi thảo luận với một số tù binh lãnh đạo khác, bao gồm Stockdale và Robinson Risner, Flynn đưa ra quyết định. Kasler nhận được mệnh lệnh yêu cầu họ không được vượt ngục. Kế hoạch bị đánh giá là quá rủi ro, và nguy cơ Bắc Việt Nam trừng phạt những tù binh còn lại sẽ làm gián đoạn hệ thống liên lạc sơ khai mà họ vất vả lắm mới xây dựng được. Ít nhất đó là những lý do được truyền đạt cho Kasler và Dramesi.
Cả hai người đều vô cùng tức giận nhưng vẫn tuân lệnh[14]. Hai năm chuẩn bị đã tan thành mây khói; một đặc nhiệm SEAL thiệt mạng; và nhiều binh sĩ Hải quân đã làm việc suốt nhiều giờ để chờ đón những tù binh mà trên thực tế đã được lệnh không được rời trại ba ngày sau tiếng nổ siêu thanh thứ hai của Pugh. Nhưng tại sao lại mạo hiểm vượt ngục vào thời điểm chiến tranh đã bước vào giai đoạn muộn như vậy? Kasler giải thích: “Tôi đã bị giam giữ lâu hơn bất kỳ người Mỹ nào trong các cuộc chiến trước đây và tôi không có hy vọng được trả tự do trong tương lai gần”. Đối với Dramesi, lý do rất đơn giản: vượt ngục là điều được quy định trong Bộ Quy tắc Ứng xử của quân nhân.
Về sau, các tù binh cuối cùng cũng nhận được tin rằng Hải quân thực sự đã chờ họ. Vấn đề liên quan đến các bãi thủy lôi dường như chưa bao giờ được nhắc đến và Dramesi hoàn toàn không biết điều này. Mặc dù các tù binh không dự định lấy trộm thuyền trừ khi ở trong tình thế bắt buộc, nhưng nếu họ đã đi thuyền hoặc trôi dạt vào một bãi thủy lôi thì khả năng sống sót là rất thấp.

Một câu hỏi khác cũng được đặt ra liên quan đến một số hành vi kỳ lạ của phía Bắc Việt Nam trong thời gian này. Giữa tháng 5/1972, Bắc Việt Nam đột ngột chuyển hơn 200 tù binh từ Hà Nội lên một trại giam miền núi cách biên giới Trung Quốc chưa đầy năm dặm. Chưa bao giờ có một lời giải thích thỏa đáng nào cho việc tại sao phía cộng sản lại bất ngờ chuyển nhóm tù binh này ra khỏi Hà Nội. Sự trùng hợp về thời điểm với Thunderhead quả thực rất đáng chú ý. Khi được hỏi liệu phía Bắc Việt Nam có phát hiện được dấu hiệu nào của chiến dịch này hay không, cả Tiến sĩ Shields lẫn Tướng Manor đều trả lời rằng họ không tin như vậy.
Kết thúc cuốn sách của mình, Towers giải thích lý do các trực thăng tìm kiếm cứu nạn không bị bắn hạ. Ông cho biết đã được tình báo Mỹ thông báo rằng phía Bắc Việt Nam nhận thấy tàu USS Duluth di chuyển tới gần cửa Sông Hồng hơn. Duluth là một tàu vận tải chở lính thủy đánh bộ. Sự kết hợp giữa các đợt ném bom mới trong khu vực, các chuyến trực thăng bay qua và những hoạt động khả nghi của tàu chiến Hải quân Hoa Kỳ đã khiến phía Bắc Việt Nam tin rằng Hoa Kỳ đang chuẩn bị một cuộc đổ bộ đường biển tại khu vực này.
Làm thế nào phía Bắc Việt Nam biết được những tàu nào đang hiện diện trong khu vực? Có lẽ thông qua tình báo Liên Xô, lực lượng này có thể đã biết về ý định của Mỹ nhiều hơn ta tưởng. Ngoài ra, cách duy nhất để tình báo Mỹ hiểu được phía Bắc Việt Nam đang suy tính gì là thông qua việc chặn thu tín hiệu liên lạc. Trong khuôn khổ chiến dịch Thunderhead, Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ đã tham gia giám sát tần số vô tuyến của Bắc Việt Nam có lẽ với hy vọng thu được tin tức về cuộc vượt ngục của các tù binh. Tuy nhiên, một báo cáo tình báo ngắn và khó hiểu của Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ đề ngày 31/5 lại hé lộ khả năng phía Bắc Việt Nam đã biết trước điều gì đó: “Bắc Việt Nam có thể đang dự đoán một cuộc ‘tập kích Sơn Tây’ nữa của lực lượng Đồng minh… có khả năng lực lượng Đồng minh đang chuẩn bị ‘trực thăng đổ quân và giải cứu tù binh’. Hành động này cũng sẽ bao gồm ‘bắt giữ cán bộ Bắc Việt Nam’. Hãy duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao và hành động… nhằm đối phó với cuộc đột kích”[15].
Việc nhắc đến một cuộc đột kích giải cứu tù binh, việc sử dụng trực thăng và thời điểm của bức điện này đều phù hợp với những nét lớn của Thunderhead. Liệu phía Bắc Việt Nam có phần nào đoán được mục đích thực sự của Thunderhead, một chiến dịch được giữ bí mật còn chặt chẽ hơn cả vụ Sơn Tây hay không? Có thể lắm. Hay việc chuyển tù binh lên sát biên giới Trung Quốc cùng bản báo cáo của Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ chỉ đơn thuần là một phần của “màn sương chiến tranh” – thêm một khúc quanh nữa trong mê cung tưởng chừng vô tận của những sự trùng hợp kỳ lạ và vận rủi đã đeo bám các nỗ lực của người Mỹ trong suốt cuộc chiến ở Việt Nam?■
|
Thunderhead không phải là chiến dịch giải cứu tù binh tuyệt mật duy nhất vào thời điểm đó. Ngày 5/5/1972, Đại tá Thủy quân Lục chiến William J. Davis được Trung tướng Thủy quân Lục chiến Hugh Elwood đưa tới Lầu Năm Góc để gặp Tướng Manor. Davis được đề cử làm sĩ quan liên lạc của Thủy quân Lục chiến cho một nhóm mới đang lên kế hoạch cho một chiến dịch lớn: đột kích “Hanoi Hilton” để giải cứu các tù binh Mỹ16. Việc Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân xây dựng kế hoạch tấn công nhà tù ở trung tâm Hà Nội ngay khi chiến dịch Thunderhead vừa bắt đầu cho thấy cả sự tuyệt vọng của Washington đối với vấn đề tù binh lẫn đánh giá thực sự của họ về cơ hội thành công của cuộc vượt ngục. Davis ngay lập tức vấp phải những mâu thuẫn gay gắt giữa các quân chủng, vốn đã đeo bám các chiến dịch giải cứu tù binh kể từ năm 1963. Ông muốn sử dụng hai Tiểu đoàn Đổ bộ Thủy quân Lục chiến đã được bố trí sẵn trên các tàu ngoài khơi Việt Nam. Nếu được huấn luyện đặc biệt, lực lượng này có thể sẵn sàng trong ba ngày. Nhưng đại diện Lục quân và Không quân lại muốn lặp lại kiểu tập kích Sơn Tây, sử dụng Lực lượng Đặc nhiệm Lục quân được vận chuyển bằng trực thăng Không quân. Đến khi các quân chủng hoàn tất việc soạn thảo các kế hoạch dự phòng, ý tưởng ban đầu về một cuộc đột kích nhanh bằng 1.500 lính Thủy quân Lục chiến đã biến thành kế hoạch chiếm đóng Hà Nội với nhiều sư đoàn tham gia. Cuối cùng kế hoạch này bị hủy bỏ. |
George J. Veith
Thanh Trà dịch
Chú thích:
[a] Lịch sử của Thunderhead bắt nguồn từ cuộc tập kích Sơn Tây. Việc giam giữ tập trung là điều kiện thuận lợi để tù binh Mỹ thành lập một Ủy ban Vượt ngục nhằm xây dựng kế hoạch và thu thập vật tư cho một cuộc đào thoát khỏi Hỏa Lò. Trước đó, tù binh Mỹ đã thực hiện hai cuộc vượt ngục nhưng đều thất bại. Vụ đầu tiên xảy ra năm 1967 hoàn toàn tình cờ khi hai tù binh, George Coker và George McKnight, nhìn thấy cánh cửa buồng giam của họ bật mở trong một trận không kích. Mặc dù đã thoát khỏi “Hilton” và đến được Sông Hồng, nhưng hai người da trắng cao lớn nhanh chóng bị phát hiện giữa một thành phố chỉ toàn những người phương Đông có vóc dáng nhỏ hơn nhiều và bị bắt lại chỉ trong vòng vài giờ. Vụ vượt ngục tiếp theo diễn ra năm 1969 khi John Dramesi và Edwin Atterberry thực hiện một cuộc đào thoát thứ hai. Mặc dù họ thoát ra ngoài được lâu hơn nhưng cuối cùng họ cũng bị bắt lại.
Do có sự chuẩn bị và tính toán kỹ lưỡng, cuộc vượt ngục thứ hai đã khiến các quản giáo Việt Nam nổi cơn thịnh nộ… Sau cuộc trừng phạt này, một số tù binh cấp bậc cao hơn ra quyết định rằng sẽ không cho phép bất kỳ nỗ lực vượt ngục nào nữa trừ khi những người muốn vượt ngục có thể chứng minh rằng họ nhận được sự hỗ trợ từ “bên ngoài”. Đó là một cách khéo léo để chấm dứt các nỗ lực vượt ngục tiếp theo mà không cần trực tiếp phủ nhận quy định trong Bộ Quy tắc Ứng xử yêu cầu tù binh nên tìm cách trốn thoát (Các chú thích trong bài là của tác giả).
[1] Paul Crickmore, Lockheed SR-71: The Secret Missions Exposed (Osprey, London, 1989), p. 139.
[2] Phỏng vấn qua điện thoại với Col. Tom Pugh, USAF (Ret.), Lancaster, CA, 5/4/1997.
[3] “POW Task Force meeting for April 25, 1972,” CIA Memorandum, CIA unindexed files, Vol. 145, p. 12186.
[4] “Subject: [redacted],” dated April 28, 1972, Memo from Chairman, JCS, to Admiral McCain, LOC PDS Reel 61.
[5] Phỏng vấn qua điện thoại với Col. James Kasler, USAF (Ret.), Momence, IL, 13/11/1995.
[6] Phỏng vấn qua điện thoại với Col. John Dramesi, USAF (Ret.), Pittsburgh, PA, 31/3/1997.
[7] Phỏng vấn qua điện thoại với Col. Andy Porth, USAF, Warsaw, Poland, 22/1/1996. Xem thêm phỏng vấn qua điện thoại với Porth trong RG 46, Senate Select Committee, Case files of Senate Investigator Robert Taylor, Covert Ops folder.
[8] Edwin L. Towers, Hope for Freedom: Operation Thunderhead (Lane and Associates, La Jolla, CA, 1981), p. 6. Cuốn sách của Towers là một bản tường thuật chi tiết về nỗ lực giám sát kéo dài ba tuần của Hải quân Hoa Kỳ trong lúc chờ các tù binh đến điểm hẹn.
[9] SpeCat Exclusive to Admiral McCain from Admiral Moorer, DTG 1 52358Z May 72, LOC PDS Reel 61.
[10] From CINCPACFLT to CINCPAC, DTG 312255Z May 72, LOC PDS Reel 61.
[11] From CINCPACFLT to CINCPAC, DTG 221220Z May 72, LOC PDS Reel 61.
[12] Orr Kelly, Never Fight Fair: Navy SEALs Stories of Combat and Adventure (Presidio Press, Novato, CA, 1995), pp. 205-219. From CINCPACFLT to CJCS, DTG 070555Z Jun 72, LOC PDS Reel 61.
[13] “Subj: Termination of Thunderhead,” from CJCS, no date, LOC PDS Reel 78.
[14] Điều mà Dramesi cho là sự thiếu tinh thần kháng cự đã khiến ông tức giận đến mức năm 1975 ông xuất bản cuốn sách Code of Honor. Cuốn sách là một lời phê phán mạnh mẽ đối với điều mà ông xem là sự lãnh đạo yếu kém của một số sĩ quan Mỹ trong các trại giam và việc họ sẵn sàng nhượng bộ trước áp lực từ phía Việt Nam. Tác phẩm của ông đã khiến một số cựu tù binh phẫn nộ, và kể từ đó ông bị họ tẩy chay.
[15] “Unidentified NVA element possible attempt to free prisoners,” NSA SIGINT Product Report, DTG 302052Z May 72, LOC FRD Reel 271.
16 Michael R. Conroy, “POW Rescue Game Plan,” Vietnam (December 1992), pp. 47-53.