Việt Nam trên báo Mỹ: “Đàn kiến” thách thức bom đạn như thế nào

Ngày 17/9/1972, tờ New York Times đã có một bài phân tích chiến lược phản ánh nhận thức của giới tình báo và truyền thông Hoa Kỳ về thất bại của chiến dịch ném bom miền Bắc Việt Nam của chính quyền Nixon. Trong bài, người Việt Nam được ví như những chú kiến nhỏ bé nhưng bền bỉ và linh hoạt, đã cùng nhau chống chọi và vô hiệu hóa sức mạnh hủy diệt của bom đạn Mỹ. Tạp chí Phương Đông xin giới thiệu tới độc giả nguyên văn bài viết (ngôn từ trong bài được giữ nguyên so với bản gốc để đảm bảo giá trị nghiên cứu, tham khảo).

*

Mỗi buổi sáng, 7 ngày trong tuần, Nhà Trắng đều nhận được một báo cáo chi tiết về các cuộc ném bom ở miền Bắc Việt Nam trong 24 giờ trước đó, với chữ ký của Bộ trưởng Quốc phòng Melvin P. Laird.

Trong giới tình báo ở Washington, các bản báo cáo này được gọi là “Điện báo của Laird” và mang dấu “Tuyệt mật – Chỉ dành cho người có thẩm quyền”. Chúng đi kèm với những tấm bản đồ màu, trên đó các cuộc tấn công của máy bay ném bom B-52 được thể hiện bằng các ô vuông đỏ, còn các đợt không kích của máy bay chiến đấu được đánh dấu bằng các chấm đỏ. Kể từ khi Mỹ bắt đầu chiến dịch ném bom quy mô lớn hồi tháng 4/1972, các bản đồ này trông như thể miền Bắc Việt Nam bị phủ một vệt đỏ loang lổ như phát ban. Chẳng hạn, Chủ nhật vừa rồi có 320 cuộc không kích, thứ Hai là 300 cuộc.

Bộ trưởng Quốc phòng Melvin P. Laird (phải) đang báo cáo với Tổng thống Nixon về chuyến đi Việt Nam của ông ta năm 1969. Ảnh: AP

Ảnh trinh sát từ trên không và các báo cáo phi công gửi về Washington đều khẳng định độ chính xác tuyệt vời của các đợt ném bom – nhờ có tia laser, radar, hệ thống dẫn đường bằng máy tính và truyền hình – khi phi công Mỹ bay trên bầu trời Bắc Việt, từ khu phi quân sự ở phía Nam đến vùng giới hạn trong vòng 25 dặm từ biên giới Trung Quốc ở phía Bắc.

Nhưng trong vài tuần gần đây, Chính quyền Nixon ngày càng khó chịu và lo ngại khi phát hiện rằng sự tương quan giữa “độ chính xác kỹ thuật” và “tác động thực tế” của các cuộc ném bom đối với khả năng tác chiến của Hà Nội ở miền Nam lại nhỏ hơn nhiều so với những gì xuất hiện trên các tấm bản đồ của Bộ trưởng Laird.

Thực tế, các báo cáo tuyệt mật khác gửi đến Nhà Trắng từ CIA, Cơ quan Tình báo Quốc phòng (DIA) và Không quân đều cho thấy bằng chứng rằng, bất chấp việc bị ném bom liên tục xuống hệ thống đường sắt, đường bộ, cầu cống, kho hàng, và cả việc các cảng ở miền Bắc bị thả thủy lôi, những người Cộng sản không những vẫn duy trì được nguồn tiếp tế cần thiết cho chiến trường miền Nam, mà còn đưa được thêm 20.000 quân mới vào Nam chỉ trong sáu tuần gần đây, nâng tổng số lên 100.000 quân.

Theo các báo cáo này (do giới tình báo cung cấp tuần trước), ước tính khoảng 5.000 tấn hàng tiếp tế được chuyển vào Nam mỗi ngày, bao gồm vũ khí, đạn dược, nhiên liệu, dầu mỡ, và lương thực. Lượng tiếp tế này đủ để duy trì nỗ lực quân sự hiện tại của Hà Nội và chuẩn bị cho các cuộc tấn công mới, dự kiến sẽ nổ ra vào cuối tháng này hoặc tháng 10, trong khi bế tắc ngoại giao ở Paris vẫn tiếp diễn.

Việc quân đội Bắc Việt tập trung đông đảo tại vùng đồng bằng sông Cửu Long trù phú về lúa gạo, nằm ở phía Tây – Nam Sài Gòn, khiến các sĩ quan tình báo tin rằng một mặt trận mới với quy mô lớn có thể sắp mở ra, cùng với những trận đánh ác liệt hơn ở miền Trung. Lực lượng của Bắc Việt tại vùng đồng bằng sông Cửu Long đã tăng gấp 10 lần kể từ tháng 3 năm ngoái, tại nơi vốn được coi là khu vực bình yên nhất của Nam Việt Nam trong nhiều năm qua.

CIA và DIA đều thống nhất đánh giá rằng các lực lượng Cộng sản có thể duy trì nhịp độ chiến đấu hiện nay thêm ít nhất hai năm nữa, bất chấp việc ném bom. Ngược lại, Không quân Mỹ cho rằng phải cần ít nhất hai năm không kích nữa mới có thể “bẻ gãy xương sống quân sự” của Hà Nội – tất nhiên là với điều kiện Quân đội Nam Việt Nam có thể trụ được.

Các quan chức tình báo nhấn mạnh rằng khoảng thời gian 2 năm ước tính không nhất thiết là tối đa nhưng thể hiện giới hạn tối đa của các dự đoán hợp lý có thể có vào thời điểm này. Các quan chức này cũng nhấn mạnh rằng việc ném bom đang dần dần “làm họ kiệt quệ”.

Tình trạng này khiến Washington đối mặt với ba câu hỏi cơ bản:

1. Làm thế nào người Bắc Việt có thể tiếp tục xây dựng lực lượng bất chấp bom đạn?

Các chuyên gia tình báo cho rằng Hà Nội đã “hóa giải” bom Mỹ bằng “chiến thuật đàn kiến” – tức là huy động khối lượng nhân lực khổng lồ để vận chuyển trang thiết bị qua các đoạn đường sắt và đường cao tốc bị bom phá hủy và qua các con sông không còn cầu nữa. Quân đội khắp nơi dường như hành quân vào ban đêm, rõ ràng là vô hình trước máy bay trên cao.

Các chuyên gia tình báo Mỹ cho rằng miền Bắc Việt Nam đã “hóa giải” được bom Mỹ bằng “chiến thuật đàn kiến”. Ảnh tư liệu: TTXVN

Nhiên liệu được bơm qua hệ thống đường ống ngầm mới chạy từ Trung Quốc đến Hà Nội và sau đó xuống phía nam. Việc đo lường một cách có hệ thống lượng đạn dược mà Cộng sản đã tiêu thụ và việc liên tục phát hiện ra các kho vũ khí mới cho thấy họ vẫn chưa thiếu hụt đạn dược nghiêm trọng.

Tuy nhiên, quân đội ở đây tuyên bố rằng nếu không có các đợt ném bom, lượng hàng tiếp tế sẽ được chuyển vào Nam Việt Nam với khối lượng gấp đôi hiện tại.

2. Tại sao Cộng sản lại xây dựng lực lượng vào giai đoạn này?

Các quan chức tình báo, quân sự và chính trị cấp cao ở Washington suy đoán rằng Bắc Việt (giống như Hoa Kỳ) tin vào việc “vừa đánh vừa đàm”. Không một nhà phân tích chính trị nghiêm túc nào tin rằng Bắc Việt có ý định chấp nhận lời đề nghị của Tổng thống Nixon về một lệnh ngừng bắn, về các cuộc bầu cử sau đó ở Nam Việt Nam và một cuộc rút quân toàn diện của Hoa Kỳ. Thậm chí, những tuyên bố gần đây nhất của Hà Nội và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Paris và các nơi khác còn nhất quán hơn bao giờ hết về một giải pháp chính trị đồng thời, bắt đầu bằng việc phế truất Tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu (người mà Tổng thống Nixon công khai ủng hộ) và thành lập một liên minh lâm thời.

Có rất ít ảo tưởng rằng các cuộc gặp bí mật giữa Henry A. Kissinger, Cố vấn An ninh Quốc gia của ông Nixon, và Lê Đức Thọ, ủy viên Bộ Chính trị Bắc Việt, sẽ dẫn đến một bước đột phá về mặt ngoại giao trong tương lai gần. Hiện tại, chúng chỉ đóng vai trò là một “động tác trình diễn” ngoại giao và chính trị hữu ích cho cả hai bên.

3. Hoa Kỳ có thể làm gì để thay đổi tình hình?

Không có câu trả lời rõ ràng nào ở đây. Quân đội thừa nhận rằng các cuộc ném bom của Hoa Kỳ đã đạt đến đỉnh điểm về năng lực không quân.

Do đó, như Washington nhìn nhận, viễn cảnh sẽ là tiếp tục một cuộc đấu tranh về ý chí chính trị và sức mạnh quân sự. Và sẽ có thêm nhiều chấm đỏ và ô vuông đỏ trên những tấm bản đồ của Bộ trưởng Quốc phòng Laird.

Chiến dịch ném bom thảm bại

Việc đánh giá thuần túy về mặt quân sự có thể mắc sai lầm, ngay cả từ góc độ chiến lược. Điều này được minh họa rõ nét qua việc ném bom miền Bắc Việt Nam được chính quyền Mỹ cho phép.

Trong tuần đầu tiên nhậm chức vào tháng 1/1969, Tổng thống Nixon đã hỏi 8 cơ quan quân sự và dân sự quan trọng của Chính phủ liên quan đến chiến tranh Đông Dương rằng có thể đạt được những gì nếu thả thủy lôi ở Hải Phòng và các cảng khác, đồng thời tiếp tục ném bom miền Bắc, vốn đã bị dừng lại ba tháng trước đó.

Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân và Bộ Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Sài Gòn trả lời rằng sẽ có những tác động mang tính quyết định đối với cuộc chiến nếu các hạn chế trước đây đối với việc ném bom vận tải đường bộ từ Trung Quốc được dỡ bỏ. Tuy nhiên, CIA và Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng (OSD) đã phản đối các ước tính của quân đội.

Theo tóm tắt của đội ngũ Kissinger trong Bản ghi nhớ Nghiên cứu An ninh Quốc gia số 1 (NSSM-1) vào tháng 2/1969 (được đóng dấu mật vào thời điểm đó), CIA và OSD cho biết “chỉ riêng các tuyến đường bộ từ Trung Quốc cũng có thể cung cấp cho Bắc Việt đủ lượng tiếp tế để tiếp tục, ngay cả khi có một chiến dịch ném bom không giới hạn”.

Ba năm sau, vào ngày 8/5/1972, Tổng thống Nixon đã bỏ qua nhận định của CIA và OSD, vốn được hỗ trợ bởi một loạt các sự kiện ấn tượng, và nghe theo lời khuyên của quân đội, những người rõ ràng cho rằng “bom thông minh” và các kỹ thuật mới khác sẽ khiến thành công mà họ dự đoán vào năm 1969 càng trở nên chắc chắn hơn.

Trong bốn tháng qua, các cảng biển đã bị phong tỏa bởi thủy lôi và một chiến dịch ném bom quy mô lớn đã được tiến hành. Những dấu hiệu cho thấy nỗ lực chiến tranh của phe Cộng sản không hề bị cản trở đã bị bác bỏ với lời khẳng định rằng sẽ phải mất vài tháng nữa chiến dịch ngăn chặn mới bắt đầu phát huy tác dụng. Nguồn cung dầu mỏ, được vận chuyển bằng tàu chở dầu của Liên Xô ra nước ngoài và phải được bơm vào bờ, được cho là đặc biệt dễ bị tấn công.

Những dự đoán này giờ đây đã bị bác bỏ bởi hai nghiên cứu tình báo riêng biệt. CIA và Cơ quan Tình báo Quốc phòng Lầu Năm Góc đều kết luận rằng sau 4 tháng, cuộc phong tỏa và ném bom chỉ mang lại những kết quả tương đối yếu ớt.

Tự vệ Nhà máy Dệt kim Đông Xuân Hà Nội đã góp phần cùng quân và dân Thủ đô Hà Nội bắn rơi 5 máy bay Mỹ trong ngày 16/4/1972. Ảnh: TTXVN

Cộng sản đã xây dựng ba đường ống dẫn dầu đường kính 10cm – loại khó bị tấn công và có thể được sửa chữa nhanh chóng – từ biên giới Trung Quốc xuống khu vực Hà Nội và một đường ống khác từ Hà Nội xuống cực nam của Bắc Việt và xa hơn nữa, vào thung lũng A Sầu của Nam Việt Nam. Chiến thuật “đàn kiến” – nhanh chóng sửa chữa các tuyến đường sắt và cầu bị hư hỏng – cũng duy trì nguồn cung cấp đầy đủ các loại hàng hóa khác đang chuyển sang từ Trung Quốc. Đã có đủ nguồn cung cấp cho các cuộc tấn công mới của Cộng sản trong 6 tuần tới – bao gồm một cuộc tấn công ở Đồng bằng sông Cửu Long ở phía nam Sài Gòn – nếu Hà Nội quyết định phát động chúng.

Điều bí ẩn là tại sao người ta lại kỳ vọng điều gì khác hơn thế. Như nghiên cứu NSSM-1 đã chỉ ra, “cũng như chiến tranh Triều Tiên, gần 4 năm chiến tranh trên không ở Bắc Việt đã cho thấy rằng, mặc dù các cuộc không kích sẽ phá hủy các cơ sở vận tải, thiết bị và vật tư, nhưng chúng không thể ngăn chặn thành công dòng chảy tiếp tế [đường bộ] vì phần lớn thiệt hại thường có thể được sửa chữa trong vòng vài giờ đồng hồ”.

Việc phớt lờ những dữ kiện đã biết từ năm 1969 là điều thật tệ hại. Nhưng còn tệ hơn nữa là tiếp tục ảo tưởng rằng việc rải thủy lôi và ném bom có ​​thể buộc Hà Nội phải chấp nhận đầu hàng trên bàn đàm phán. Một giải pháp chính trị thỏa hiệp, bao gồm việc chia sẻ hoặc phân chia quyền lực ở Nam Việt Nam, là cách duy nhất để chấm dứt một cuộc chiến mà không bên nào có thể chiến thắng trên chiến trường.■

Hoàng Anh (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN