Việc thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương là một quyết định đúng đắn, kịp thời và giàu tầm nhìn chiến lược. Đây không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng đối với những thành tựu mà Quảng Ninh đã bền bỉ tạo dựng, mà còn mở ra khuôn khổ phát triển mới cho một vùng đất hội tụ đầy đủ những giá trị đặc biệt về lịch sử, địa chính trị, kinh tế biển, công nghiệp, văn hóa và di sản.

Ngày 24/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 36/2026/QH16 về việc thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, đưa Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương thứ 8 của Việt Nam. Theo Nghị quyết, thành phố Quảng Ninh được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Quảng Ninh, không làm xáo trộn địa giới hành chính và không gây gián đoạn hoạt động quản lý nhà nước cũng như đời sống của người dân. Đặc biệt, các cơ chế, chính sách dành cho tỉnh Quảng Ninh trước đây tiếp tục được thực hiện song song với những chính sách áp dụng đối với thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là một bước chuyển được thiết kế thận trọng, bảo đảm tính kế thừa nhưng đồng thời tạo ra dư địa thể chế rộng lớn hơn cho địa phương phát triển.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương. Ảnh: Sở VHTTDL Quảng Ninh

Tại lễ công bố ngày 28/8/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định từ dấu mốc này, Quảng Ninh bước vào “một tầm vóc mới”, đồng thời gánh vác trách nhiệm lớn hơn trước nhân dân và đất nước. Nhận định ấy đã nêu bật đầy đủ ý nghĩa của quyết sách: danh xưng mới phải đi liền với năng lực mới, phương thức quản trị mới và những đóng góp lớn hơn đối với sự phát triển chung của quốc gia.

Thành quả của một hành trình dài

Thành phố Quảng Ninh có diện tích tự nhiên 6.231,27km², dân số hơn 1,52 triệu người và 54 đơn vị hành chính, gồm 30 phường, 22 xã và hai đặc khu. Địa phương đã đáp ứng đầy đủ 5/5 điều kiện và 7/7 tiêu chuẩn của một thành phố trực thuộc Trung ương về diện tích, dân số, tỷ lệ đô thị hóa, tỷ lệ phường, vị trí và chức năng, trình độ phát triển kinh tế – xã hội và tiêu chí đô thị loại I. Tỷ lệ đô thị hóa năm 2025 đạt trên 81%, thể hiện quá trình chuyển đổi sâu rộng của một vùng đất từng được biết đến chủ yếu với khai thác than thành một không gian kinh tế – đô thị hiện đại.

Đáng chú ý, việc thành lập thành phố nhận được sự đồng thuận gần như tuyệt đối: 99,96% số hộ gia đình được lấy ý kiến tán thành; Hội đồng nhân dân tỉnh cũng thông qua chủ trương với 100% đại biểu tán thành. Những con số ấy cho thấy đây không phải là một quyết định hành chính áp đặt từ trên xuống, mà là kết quả gặp gỡ giữa chủ trương lớn của Trung ương, yêu cầu phát triển khách quan của địa phương và nguyện vọng của nhân dân Quảng Ninh.

Quảng Ninh cũng bước vào vị thế mới bằng một nền tảng kinh tế đủ mạnh. Năm 2025, tốc độ tăng trưởng của địa phương đạt 11,89%, cao nhất cả nước; quy mô nền kinh tế đạt hơn 368.000 tỷ đồng. Du lịch đón hơn 21 triệu lượt khách, doanh thu trên 57.000 tỷ đồng. Cùng với hệ thống đường cao tốc, cảng biển, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn và cửa khẩu quốc tế Móng Cái, những thành tựu này cho thấy Quảng Ninh đã thực sự vận hành như một trung tâm kinh tế tổng hợp có khả năng kết nối vùng và hội nhập quốc tế.

Việc nâng Quảng Ninh lên thành phố trực thuộc Trung ương vì thế không phải là trao cho địa phương một danh hiệu vượt quá thực lực, mà là xác lập một mô hình quản trị tương xứng với trình độ phát triển đã đạt được. Đó vừa là phần thưởng xứng đáng vừa là một công cụ thể chế để Quảng Ninh huy động hiệu quả hơn các nguồn lực, thu hút nhân tài, công nghệ và các nhà đầu tư chiến lược.

Một không gian chiến lược đặc biệt

Ít địa phương nào của Việt Nam hội tụ nhiều tầng giá trị như Quảng Ninh. Đây là tỉnh duy nhất vừa có đường biên giới trên bộ, vừa có đường biên giới trên biển với Trung Quốc; sở hữu hệ thống cửa khẩu, cảng biển trù phú cùng hơn 2.700 hòn đảo. Nơi đây quy tụ hàng loạt danh thắng và di tích nổi tiếng như vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Yên Tử, Vân Đồn, Cửa Ông, Trà Cổ, Bình Liêu, cùng với tài nguyên khoáng sản dồi dào và một nền văn hóa đặc sắc.

Quảng Ninh đã đáp ứng đầy đủ 5/5 điều kiện và 7/7 tiêu chuẩn của một thành phố trực thuộc Trung ương về diện tích, dân số, tỷ lệ đô thị hóa, tỷ lệ phường, vị trí và chức năng, trình độ phát triển kinh tế – xã hội và tiêu chí đô thị loại I. Ảnh minh họa

Trong bài phát biểu tại lễ công bố, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt sự ra đời của thành phố Quảng Ninh trong chiều sâu của lịch sử dân tộc. Đó là vùng cửa biển Bạch Đằng gắn với ba chiến thắng chống ngoại xâm; là thương cảng Vân Đồn từng kết nối Đại Việt với thế giới; là Yên Tử, nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập Thiền phái Trúc Lâm; là vùng mỏ hình thành truyền thống Kỷ luật và Đồng tâm từ cuộc tổng bãi công của hơn ba vạn thợ mỏ năm 1936. Lịch sử ấy đã tạo nên cốt cách con người Quảng Ninh: yêu nước, đoàn kết, kỷ luật, sáng tạo và không lùi bước trước khó khăn.

Thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương vì vậy còn là quyết định tổ chức lại một không gian có ý nghĩa chiến lược đối với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nằm ở điểm kết nối giữa đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc với Trung Quốc và Biển Đông, Quảng Ninh có khả năng trở thành một mắt xích quan trọng trong các hành lang kinh tế, chuỗi cung ứng và mạng lưới logistics khu vực. Cùng với Hà Nội và Hải Phòng, thành phố biển đặc biệt này sẽ làm cho tam giác động lực phía Bắc trở nên cân bằng, mạnh mẽ và hướng biển rõ rệt hơn.

Từ vùng công nghiệp khai khoáng đến thành phố xanh

Giá trị lớn nhất của quyết sách không nằm ở việc thay chữ “tỉnh” bằng chữ “thành phố”, mà ở khả năng tạo ra một bước chuyển về chất trong mô hình phát triển. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu một định hướng rất cô đọng: Quảng Ninh cần “đi lên từ than, vượt lên trên than”.

Điều đó không có nghĩa phủ nhận ngành than – một ngành kinh tế đã làm nên lịch sử và đóng góp to lớn cho an ninh năng lượng quốc gia. Vấn đề là phải hiện đại hóa khai thác, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu tác động môi trường và dùng chính nguồn lực tích lũy từ công nghiệp truyền thống để kiến tạo những động lực tăng trưởng mới. Thành phố Quảng Ninh phải đồng thời phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao, năng lượng sạch, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, logistics và các dịch vụ có giá trị gia tăng lớn.

Đây chính là sự chuyển đổi từ mô hình kinh tế nâu dựa nhiều vào khai thác tài nguyên sang kinh tế xanh dựa trên tri thức, công nghệ và sáng tạo. Trong cấu trúc ấy, biển phải trở thành không gian phát triển chiến lược, với hệ thống cảng biển, vận tải, logistics, du lịch biển đảo, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao và các ngành kinh tế biển mới. Kinh tế cửa khẩu cũng phải chuyển từ hoạt động giao thương truyền thống sang mô hình cửa khẩu thông minh, hiện đại, kết nối sâu hơn với thị trường và chuỗi giá trị quốc tế.

Tuy nhiên, phát triển nhanh không thể đồng nghĩa với phát triển bằng mọi giá. Quảng Ninh sở hữu những di sản không chỉ của riêng địa phương mà thuộc về quốc gia và nhân loại. Bởi vậy, mỗi dự án đầu tư phải được xem xét đồng thời trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường. Vịnh Hạ Long không thể trở thành cái giá phải trả cho tăng trưởng; Yên Tử không thể bị thương mại hóa đến mức phai nhạt không gian văn hóa – tâm linh; Bái Tử Long, Trà Cổ, Bình Liêu và các vùng văn hóa du lịch phải được gìn giữ trong quá trình đô thị hóa.

Vịnh Hạ Long là niềm tự hào của Việt Nam khi nhiều lần được UNESCO vinh danh là Di sản thiên nhiên thế giới nhờ những giá trị vượt trội về thẩm mỹ và địa chất. Ảnh: Du lịch Quảng Ninh

Thành phố trước hết phải vì con người

Một thành phố trực thuộc Trung ương chỉ thực sự có ý nghĩa khi đời sống người dân được cải thiện. Bởi vậy, điều đáng trân trọng trong định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu đổi mới quản trị phải lấy hiệu quả công việc và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo. Bộ máy phải tinh gọn, phân cấp rõ ràng, trách nhiệm cụ thể; cán bộ phải gần dân, hiểu dân và hành động vì lợi ích chung.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặc biệt nhấn mạnh: “Thành quả phát triển phải thuộc về Nhân dân”. Đây phải là nguyên tắc cao nhất trong toàn bộ quá trình xây dựng thành phố Quảng Ninh. Nguồn lực cần được điều tiết hợp lý để đầu tư cho thu hẹp chênh lệch về thu nhập, giáo dục, y tế và khả năng tiếp cận dịch vụ công. Đô thị hóa không thể chỉ tập trung vào những dải đất ven biển giàu tiềm năng, càng không thể để các cộng đồng sinh sống lâu đời đứng ngoài quá trình phát triển.

Quảng Ninh cần trở thành một mô hình thành phố đa trung tâm, trong đó đô thị, công nghiệp, cảng biển, cửa khẩu, vùng núi và hải đảo được kết nối bằng hệ thống giao thông, hạ tầng số và dịch vụ công đồng bộ. Đó phải là nơi đáng sống không chỉ đối với cư dân tại các trung tâm phát triển, mà còn đối với người công nhân vùng mỏ, ngư dân ngoài đảo, đồng bào các dân tộc ở Bình Liêu, Ba Chẽ và người dân trên toàn địa bàn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gọi Quảng Ninh là “đất của sóng lớn”. Sóng lớn đã tôi luyện bản lĩnh của một vùng đất tiền tiêu và tạo nên những con người biết đoàn kết để vượt qua thử thách. Quyết định thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương đã mở ra một cơ hội lịch sử mới, nhưng cũng đặt lên vai địa phương những nhiệm vụ nặng nề hơn.

Với truyền thống Kỷ luật và Đồng tâm, với nền tảng kinh tế vững chắc, tiềm năng khác biệt và khát vọng vươn lên mạnh mẽ, thành phố Quảng Ninh có đầy đủ điều kiện để trở thành một cực tăng trưởng xanh, một trung tâm kinh tế biển và du lịch quốc tế, một đô thị di sản hiện đại, thông minh, giàu bản sắc. Quyết sách của Quốc hội vì thế không chỉ mở ra một chương mới cho Quảng Ninh, mà còn góp phần kiến tạo một cấu trúc phát triển mới cho vùng Đông Bắc, cho miền Bắc và cho cả đất nước trong kỷ nguyên vươn mình.■

BÌNH LUẬN

BÀI BÌNH LUẬN KHÁC