Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, biển là không gian sinh tồn, không gian phát triển, không gian giao thương, không gian văn hóa, và cũng là nơi thể hiện tầm vóc chiến lược của một dân tộc. Một quốc gia có biển mà không có tư duy biển thì lợi thế tự nhiên dễ bị bỏ phí. Việt Nam có bờ biển dài, vùng biển rộng, hệ thống đảo và quần đảo phong phú, lại nằm trên các tuyến hàng hải quan trọng của khu vực và thế giới, càng không thể chỉ nhìn biển bằng tư duy khai thác cục bộ.

Bởi vậy, phát biểu gần đây của Tổng Bí thư Tô Lâm về yêu cầu đưa biển thực sự trở thành không gian phát triển chiến lược của quốc gia có ý nghĩa rất quan trọng. Điểm nhấn chiến lược không chỉ nằm ở việc tiếp tục khẳng định vị trí của biển đối với phát triển đất nước, mà sâu hơn là ở sự chuyển dịch trong tư duy tiếp cận. Trước đây, khi nói về biển, chúng ta thường nhấn mạnh “kinh tế biển”: dầu khí, thủy sản, cảng biển, vận tải biển, du lịch biển, các khu kinh tế ven biển. Đó là cách tiếp cận phù hợp trong một giai đoạn lịch sử nhất định, khi nhiệm vụ trung tâm là nhận diện tiềm năng và biến tiềm năng ấy thành đóng góp cụ thể cho tăng trưởng. Nhưng đến nay, yêu cầu mới đặt ra không chỉ là phát triển kinh tế biển, mà là khai thác, quản trị, bảo vệ và phát huy toàn bộ không gian biển quốc gia như một chỉnh thể chiến lược.

Nói cách khác, từ chỗ đặt vấn đề “biển có thể đóng góp gì cho nền kinh tế”, nay cần đặt vấn đề rộng hơn: biển giữ vị trí nào trong cấu trúc phát triển quốc gia Việt Nam trong thế kỷ XXI? Biển sẽ đóng vai trò gì trong mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao? Đây chính là điểm mới có tính chất tư duy trong phát biểu của Tổng Bí thư.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36 – NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngày 8/6/2026. Ảnh: TTXVN

Việt Nam là quốc gia được thiên nhiên ưu ái ban tặng một đặc ân lớn: có đường bờ biển dài, vùng biển rộng lớn cùng hệ thống đảo và quần đảo phong phú, nằm ở vị trí địa kinh tế và địa chiến lược trọng yếu bậc nhất thế giới. Từ vịnh Bắc Bộ, miền Trung, duyên hải Nam Trung Bộ cho đến vùng biển Tây Nam, biển thực tế đã gắn liền với lịch sử mở cõi, dựng nước và giữ nước của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Trên bản đồ phát triển, biển không nằm ở rìa lục địa, mà thực chất, là một phần cốt lõi trong cấu trúc không gian quốc gia.

Lợi thế ấy trước hết thể hiện ở nguồn tài nguyên và giá trị kinh tế vượt trội. Biển mang lại cho Việt Nam nguồn lợi thủy sản, dầu khí, khí đốt, khoáng sản, cùng không gian du lịch biển đảo và các hệ sinh thái ven bờ đặc sắc. Biển cũng đem lại khả năng phát triển hệ thống cảng nước sâu, logistics, công nghiệp đóng tàu, dịch vụ hàng hải, đô thị biển. Đặc biệt, trong bối cảnh thế giới đang dịch chuyển sang mô hình tăng trưởng xanh, giảm phát thải và tái cấu trúc chuỗi cung ứng, không gian biển còn mở ra các động lực mới như năng lượng tái tạo và điện gió ngoài khơi.

Lợi thế ấy còn được khẳng định ở vị trí giao thương trọng yếu. Việt Nam nằm trên hành lang các tuyến vận tải biển quốc tế huyết mạch nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, Đông Bắc Á với Đông Nam Á. Trong một bối cảnh toàn cầu mà phần lớn thương mại hàng hóa vẫn phụ thuộc vào đường biển, năng lực cảng biển và logistics không chỉ là câu chuyện hạ tầng kỹ thuật, mà chính là năng lực cạnh tranh quốc gia. Một đất nước muốn trở thành trung tâm sản xuất, xuất khẩu, dịch vụ và công nghiệp hiện đại, bắt buộc phải sở hữu một hệ thống hàng hải vững mạnh, cảng biển hiện đại, chuỗi logistics hiệu quả và các đô thị ven biển có sức cạnh tranh và kết nối toàn cầu.

Tuy nhiên, có lợi thế không đồng nghĩa với tự động trở thành cường quốc biển. Biển chỉ trở thành sức mạnh khi được nhận thức đúng, quy hoạch đúng, đầu tư đúng và quản trị đúng. Nếu không, lợi thế đường bờ biển dài có thể chỉ dừng lại ở khai thác tự phát; lợi thế tài nguyên biển có thể bị chia cắt bởi tư duy địa phương; lợi thế thủy sản có thể bị suy giảm vì khai thác quá mức; lợi thế du lịch biển có thể bị tổn thương vì ô nhiễm và bê tông hóa; lợi thế đảo và quần đảo có thể chưa được phát huy đầy đủ trong phát triển.

Nhìn lại quá trình phát triển, có thể thấy Nhà nước Việt Nam đã đặt vấn đề biển từ rất sớm. Việc công bố các vùng biển, đường cơ sở, xác lập hệ thống pháp lý về nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho thấy Việt Nam không hề chậm trễ trong việc khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển. Luật Biển Việt Nam năm 2012 tiếp tục cụ thể hóa cơ sở pháp lý ấy, đặt hoạt động quản lý, bảo vệ, khai thác và phát triển biển trong khuôn khổ luật pháp quốc gia và quốc tế. Đó là nền tảng không thể thiếu của một quốc gia biển.

Về mặt chiến lược phát triển, Việt Nam cũng đã bàn đến kinh tế biển từ lâu. Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là một văn kiện quan trọng, xác định rõ mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển. Tinh thần ấy kế thừa các chủ trương trước đó và mở rộng tư duy phát triển kinh tế biển trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy biển đã đóng góp lớn cho đất nước. Ngư nghiệp là sinh kế của hàng triệu người dân ven biển, đồng thời tạo nguồn xuất khẩu quan trọng. Dầu khí là một trong những trụ cột quan trọng của ngân sách, năng lượng và công nghiệp quốc gia. Các cảng biển lớn ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Khánh Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần mở cửa nền kinh tế, phục vụ xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư. Du lịch biển từ Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc đến Côn Đảo đã tạo nên diện mạo mới cho nhiều địa phương.

Đặc biệt, với miền Trung, biển không chỉ là lợi thế mà còn là hướng mở mang tất yếu. Dải đất miền Trung hẹp, lưng tựa núi, mặt hướng biển. Nếu chỉ nhìn vào không gian đất liền, nhiều địa phương miền Trung dễ bị coi là hạn chế về quy mô, đất đai, thị trường và tài nguyên. Nhưng nếu nhìn bằng tư duy biển, miền Trung lại có thể trở thành hành lang ra biển của cả nước và khu vực. Không gian phát triển của miền Trung và cả Việt Nam vì thế không dừng ở chiều ngang đất liền, mà mở rộng ra đại dương.

Tuy nhiên, chính vì đã có thành tựu, chúng ta càng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng tư duy và hành động về biển vẫn chưa đủ mạnh. Nhiều nơi vẫn xem biển như “phần phụ” của đất liền; quy hoạch ven biển còn thiếu liên kết; cảng biển nhiều nhưng chưa hẳn đã tạo thành mạng lưới logistics tối ưu; du lịch biển phát triển nhanh nhưng chất lượng và tính bền vững chưa đồng đều; công nghiệp biển chưa hình thành hệ sinh thái đủ sâu; khoa học công nghệ biển còn yếu; nguồn nhân lực biển chưa tương xứng; dữ liệu biển, bản đồ số biển, quan trắc biển, dự báo đại dương, quản trị tài nguyên biển chưa đáp ứng yêu cầu của một quốc gia biển hiện đại.

Đây là bối cảnh để thấy rõ ý nghĩa mới trong phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm. Khi Tổng Bí thư yêu cầu chuyển từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh, đó không phải là thay đổi câu chữ, mà là thay đổi hệ quy chiếu. Kinh tế biển là một bộ phận của chiến lược biển, nhưng không thể thay thế toàn bộ chiến lược biển. Nếu chỉ nói kinh tế biển, ta dễ rơi vào tư duy ngành: ngành thủy sản lo thủy sản, ngành dầu khí lo dầu khí, ngành giao thông lo cảng biển, ngành du lịch lo bãi biển, địa phương nào lo địa phương ấy. Nhưng nếu nói không gian phát triển biển quốc gia, ta buộc phải nhìn biển như một chỉnh thể thống nhất.

Điểm mới thứ nhất là cách nhìn biển như một không gian phát triển tổng hợp. Biển không còn đơn thuần là nơi “khai thác” tài nguyên, mà là không gian quy hoạch và tổ chức lại các động lực tăng trưởng. Từ lợi thế này, Việt Nam có thể xây dựng các cực tăng trưởng ven biển, các trung tâm cảng biển quốc tế, các vùng công nghiệp năng lượng sạch, các trung tâm logistics, các đô thị biển xanh, các cụm du lịch sinh thái – văn hóa – nghỉ dưỡng. Khi ấy, đóng góp của biển không chỉ tính bằng sản lượng khai thác, mà còn bằng năng lực kiến tạo chuỗi giá trị, định hình đô thị và nâng tầm sức cạnh tranh quốc gia.

Để biển trở thành không gian phát triển chiến lược của quốc gia, cần nhìn biển như một không gian phát triển tổng hợp; biển không chỉ là nơi “lấy” tài nguyên, mà là nơi tổ chức lại các động lực tăng trưởng. Ảnh minh họa: HATECO Group

Điểm mới thứ hai là đặt biển trong quan hệ hữu cơ với đất liền. Phát triển biển không thể tách khỏi phát triển vùng ven biển và nội địa. Một cảng biển chỉ mạnh khi có hậu phương kinh tế đủ lớn, có đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, kho bãi, khu công nghiệp, trung tâm logistics và thị trường kết nối phía sau. Một đô thị biển chỉ bền vững khi có quy hoạch thích ứng biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xói lở bờ biển và bảo tồn hệ sinh thái. Do đó, tư duy biển mới phải là tư duy liên thông: liên thông biển – bờ – đảo; liên thông cảng – đường sắt – cao tốc – khu công nghiệp; liên thông địa phương có biển với địa phương không có biển; liên thông kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Điểm mới thứ ba là nhấn mạnh quản trị biển hiện đại. Trong thời đại mới, biển không thể được quản lý chỉ bằng kinh nghiệm và mệnh lệnh hành chính phân tán. Quản trị biển cần dữ liệu, bản đồ số, hệ thống quan trắc, dự báo, giám sát tàu thuyền, quy hoạch không gian biển, và năng lực thực thi pháp luật trên biển. Các quốc gia mạnh về biển đều hiểu rằng biển càng rộng, quản trị càng phải tinh vi. Không có dữ liệu biển thì không thể quy hoạch biển. Không có khoa học biển thì không thể khai thác bền vững. Không có lực lượng thực thi mạnh thì không thể bảo vệ trật tự biển.

Điểm mới thứ tư là đặt chiến lược biển trong yêu cầu bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia. Biển luôn là không gian của hợp tác, nhưng cũng là không gian của cạnh tranh. Một quốc gia biển mạnh phải biết kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển. Phát triển ngư nghiệp phải gắn với hiện diện dân sự hợp pháp trên biển. Phát triển cảng biển phải gắn với an ninh hàng hải. Phát triển năng lượng ngoài khơi phải gắn với bảo vệ hạ tầng trọng yếu. Phát triển đảo phải gắn với dân sinh, dịch vụ, quốc phòng.

Nhìn ra thế giới, các quốc gia mạnh về biển đều không xem biển là một lĩnh vực đơn lẻ. Điểm chung của các quốc gia ấy là họ không chỉ khai thác biển theo nghĩa tài nguyên, mà tổ chức sức mạnh quốc gia quanh biển. Biển được đưa vào chiến lược công nghiệp, chiến lược thương mại, chiến lược năng lượng, chiến lược quốc phòng, và chiến lược đối ngoại. Chính điều này gợi mở cho Việt Nam: muốn trở thành quốc gia mạnh về biển, không thể chỉ cộng các ngành kinh tế biển lại với nhau. Cần một tư duy kiến tạo không gian biển quốc gia, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, doanh nghiệp là lực lượng đầu tư và đổi mới, người dân ven biển là chủ thể phát triển, khoa học công nghệ là nền tảng, quốc phòng – an ninh là lá chắn, và luật pháp quốc tế là cơ sở để bảo vệ lợi ích chính đáng.

Từ tinh thần phát biểu của Tổng Bí thư, có thể hình dung một chiến lược biển mới của Việt Nam trong giai đoạn tới cần tập trung vào một số trụ cột lớn.

Trụ cột thứ nhất là quy hoạch không gian biển quốc gia theo tư duy tích hợp. Biển cần được quy hoạch không chỉ theo địa giới hành chính, mà theo vùng chức năng, lợi thế tự nhiên, năng lực hạ tầng, yêu cầu bảo tồn và vị trí chiến lược. Vùng nào ưu tiên cảng biển và logistics; vùng nào ưu tiên năng lượng ngoài khơi; vùng nào ưu tiên du lịch sinh thái; vùng nào ưu tiên bảo tồn; vùng nào giữ vai trò an ninh – quốc phòng đặc biệt; tất cả phải được tính toán trong một tổng thể quốc gia. Quy hoạch biển không thể là bản đồ chia phần, mà phải là bản thiết kế phát triển tổng thể dài hạn.

Trụ cột thứ hai là xây dựng các trung tâm kinh tế biển mạnh. Việt Nam cần những cực tăng trưởng biển thực sự có tầm khu vực, không dàn trải, không manh mún. Một số cảng biển phải được nâng cấp thành trung tâm trung chuyển và logistics quốc tế. Một số đô thị biển phải trở thành đô thị xanh, thông minh, có sức hút nhân lực chất lượng cao.

Trụ cột thứ ba là hiện đại hóa nghề cá và phát triển ngư nghiệp công nghệ cao. Nghề cá truyền thống đang đối mặt với suy giảm nguồn lợi, biến đổi khí hậu, yêu cầu chống khai thác bất hợp pháp và tiêu chuẩn thị trường quốc tế ngày càng khắt khe. Vì vậy, cần chuyển sang khai thác có quản lý, từ đánh bắt tự phát sang nghề cá có dữ liệu, đánh bắt dựa trên công nghệ cao. Làm giàu từ biển không thể dựa vào tận thu biển, mà phải dựa vào phục hồi nguồn lợi và nâng giá trị gia tăng.

Trụ cột thứ tư là phát triển năng lượng biển và công nghiệp xanh ven biển. Điện gió ngoài khơi, cảng biển xanh, nhiên liệu sạch, công nghiệp phụ trợ năng lượng có thể trở thành một động lực mới. Nếu làm tốt, Việt Nam không chỉ có thêm nguồn năng lượng sạch, mà còn có thể hình thành một ngành công nghiệp biển mới, nâng vị thế trong chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu.

Phát triển năng lượng biển và công nghiệp xanh ven biển nên là một trong những trụ cột của chiến lược biển mới của Việt Nam. Hình ảnh cánh đồng điện gió Tân Thuận. Ảnh: Báo ảnh Việt Nam

Trụ cột thứ năm là khoa học công nghệ và dữ liệu biển. Trong thế kỷ XXI, quốc gia nào hiểu biển sâu hơn sẽ quản trị biển tốt hơn. Việt Nam cần đầu tư mạnh vào nghiên cứu hải dương học, bản đồ đáy biển, quan trắc môi trường biển, dự báo khí tượng – hải văn, trí tuệ nhân tạo trong giám sát biển. Khoa học biển không chỉ phục vụ nghiên cứu, mà phục vụ trực tiếp cho quy hoạch, khai thác, bảo tồn, phòng chống thiên tai, an ninh hàng hải và bảo vệ chủ quyền.

Trụ cột thứ sáu là bảo vệ môi trường biển và thích ứng biến đổi khí hậu. Biển cho chúng ta tài nguyên, nhưng biển cũng đang chịu sức ép lớn từ rác thải nhựa, nước thải đô thị, công nghiệp ven biển, khai thác quá mức, xói lở bờ biển, nước biển dâng. Nếu phát triển biển bằng tư duy ngắn hạn, chúng ta có thể đánh mất chính nền tảng của kinh tế biển. Một chiến lược biển hiện đại phải coi môi trường biển là tài sản quốc gia. Bảo vệ biển chính là bảo vệ sinh kế, bảo vệ an ninh kinh tế, bảo vệ du lịch, và bảo vệ tương lai phát triển.

Trụ cột thứ bảy là xây dựng văn hóa biển và con người biển. Một quốc gia biển mạnh phải có văn hóa biển. Người dân phải hiểu vị trí của biển; doanh nghiệp phải có khát vọng vươn ra biển; thanh niên phải được giáo dục về chủ quyền, luật biển, môi trường biển, nghề biển và khoa học biển; đội ngũ cán bộ phải có năng lực quản trị biển; các đô thị ven biển phải nuôi dưỡng bản sắc văn hóa biển. Không thể có chiến lược biển mạnh nếu trong tâm thức xã hội, biển vẫn là một không gian xa xôi, chỉ thuộc về ngư dân, hải quân hay các địa phương ven biển.

Trụ cột thứ tám là kết hợp phát triển biển với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Việt Nam kiên trì chủ trương hòa bình, hợp tác, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhưng cũng phải xây dựng năng lực bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Trên biển, phát triển và bảo vệ không tách rời nhau.

Từ đây, có thể thấy phát biểu của Tổng Bí thư không chỉ là lời nhắc lại về tầm quan trọng của biển, mà là một yêu cầu đổi mới tư duy phát triển. Đổi mới ấy nằm ở chỗ không xem biển là “mặt sau” của đất nước, mà là “mặt tiền” hướng ra thế giới. Không xem biển là nơi khai thác riêng lẻ, mà là không gian tổ chức sức mạnh tổng hợp. Không xem kinh tế biển là vài ngành cộng lại, mà là một cấu trúc phát triển mới. Không xem bảo vệ biển chỉ là nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách, mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và nhân dân. Không xem chiến lược biển là khẩu hiệu dài hạn, mà phải biến thành chương trình hành động, có những dự án lớn tạo động lực.

Vấn đề lớn nhất hiện nay không phải là Việt Nam có nhận ra tầm quan trọng của biển hay không. Điều đó đã được khẳng định trong nhiều văn kiện và trong thực tiễn phát triển. Vấn đề là phải chuyển nhận thức thành năng lực thực thi. Chiến lược biển mới nếu được xây dựng cần tránh tình trạng mục tiêu rất rộng nhưng nguồn lực phân tán; khẩu hiệu rất mạnh nhưng cơ chế điều phối yếu; quy hoạch rất đẹp nhưng thiếu dữ liệu; dự án rất nhiều nhưng thực thi không được bao nhiêu.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với khát vọng tăng trưởng nhanh, bền vững. Trong giai đoạn ấy, biển phải được đặt vào trung tâm của tư duy phát triển. Đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, hệ thống cao tốc ven biển, cảng biển nước sâu, sân bay, khu công nghiệp, trung tâm logistics, đô thị biển, năng lượng ngoài khơi và các hành lang kinh tế Đông – Tây cần được nhìn trong một tổng thể. Khi đất liền và biển được kết nối đúng, không gian phát triển của Việt Nam sẽ mở rộng hơn rất nhiều.

Một đất nước muốn giàu mạnh không thể quay lưng với biển. Một dân tộc có lịch sử giữ biển, sống cùng biển, khai thác biển và đi ra thế giới bằng biển càng phải có chiến lược biển xứng tầm. Biển Việt Nam là không gian của tài nguyên, nhưng còn là không gian của khát vọng.

Vì vậy, yêu cầu đưa biển thực sự trở thành không gian phát triển chiến lược quốc gia của Tổng bí thư cần được hiểu như một lời hiệu triệu đổi mới tư duy. Đã đến lúc Việt Nam không chỉ nói về kinh tế biển, mà phải xây dựng một chiến lược biển theo nghĩa rộng nhất, để biển thực sự là không gian mở ra tương lai Việt Nam.■

BÌNH LUẬN

BÀI BÌNH LUẬN KHÁC