Trung Quốc và Mỹ với ASEAN

Đông Nam Á/ASEAN vừa là địa bàn củng cố, phát triển lợi ích, vừa là trọng điểm cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn, đặc biệt là hai siêu cường Trung – Mỹ. Quan hệ giữa Trung Quốc, Mỹ với ASEAN tuy có lúc thăng trầm, nhưng nhìn tổng thể đều đang trên đà củng cố, phát triển và nâng cấp. Các cặp quan hệ này ngày càng đóng vai trò định hình chiến lược trong cục diện châu Á – Thái Bình Dương, thậm chí là trên phạm vi toàn cầu.

Ngày 8/8/2026, tại trụ sở của Hiệp hội ASEAN ở Jakarta, Indonesia, Ban Thư ký ASEAN đã tổ chức kỷ niệm 59 năm thành lập Hiệp hội (8/8/1967 – 8/8/2026) với chủ đề “cùng nhau định hướng tương lai”, dưới khẩu hiệu “Đoàn kết và tự cường là sức mạnh”. Timor – Leste lần đầu tiên tham gia với tư cách thành viên thứ 11, tiếp thêm sức sống cho đại gia đình ASEAN. Nhân dịp này, việc nhìn lại các động lực tạo nên tầm vóc của ASEAN ngày nay là điều hết sức ý nghĩa. Một trong những động lực cốt lõi của tiến trình này là mối quan hệ tam giác ngày càng nổi bật giữa Trung Quốc – ASEAN và Mỹ.

Quan hệ Trung Quốc – ASEAN:

Năm 1991, tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 24, Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham đại diện cho Trung Quốc đã cùng ASEAN thiết lập “quan hệ đối thoại”, chính thức đi bước đầu tiên cơ chế hóa hợp tác hai bên. Tháng 11/2000, Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đề xướng ý tưởng thiết lập khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN; tháng 11/2002, hai bên ký “Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc – ASEAN”; năm 2003 hai bên thiết lập “Quan hệ Đối tác chiến lược hướng tới hòa bình và phồn vinh”; năm 2004, 2007, 2009, hai bên liên tiếp ký các Hiệp định “Mậu dịch hàng hóa”, “Mậu dịch dịch vụ” và “Hiệp định đầu tư”.

Ngày 1/10/2010, khu mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN chính thức khởi động và được nâng cấp lên 2.0 vào năm 2015 và 3.0 vào 2024. Ngày 13/11/2025, Nghị định thư nâng cấp 3.0 khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN chính thức được ký kết. Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN 3.0 (ACFTA-3) đã đạt đến nhận thức chung giữa Trung Quốc với 10 nước ASEAN về 9 lĩnh vực hợp tác, tập trung vào các lĩnh vực mới mang tính chiến lược như kinh tế số, kinh tế xanh, chuỗi cung ứng… làm cho CAFTA vận hành từ mô hình “thị trường quy mô siêu lớn” chuyển sang mô hình “kết nối chiều sâu theo quy tắc”, sẽ tạo ra những chuẩn mực mới cho hợp tác khu vực.

Lễ ký Nghị định thư nâng cấp Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA 3.0) tại Malaysia, tháng 10/2025. Ảnh: VP Tổng thống Philippines

Năm 2013, Trung Quốc đề xướng sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) và thành lập “Cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN”. Ngày 1/1/2022, “Hiệp định quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực” (RCEP) chính thức có hiệu lực, hình thành các con đường vận tải trên biển và trên bộ nối liền khu vực miền Tây Trung Quốc với Đông Nam Á. Những năm gần đây, kết nối chiến lược ở nhiều cấp độ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á ngày càng được đi sâu triển khai. Ở cấp độ khu vực, kết nối BRI với “Quy hoạch tổng thể Đông Nam Á 2025” – “Viễn cảnh ASEAN 2025”. Ở cấp độ song phương, Trung Quốc và 10 nước ASEAN đã ký các văn bản hợp tác song phương xây dựng BRI; BRI đã kết nối với ý tưởng “tiêu điểm hải dương toàn cầu” của Indonesia, với đề xướng “hai hành lang một vành đai” của Việt Nam, với Chiến lược “từ nước lục địa đóng cửa trở thành nước liên lục địa” của Lào , với “chiến lược 5 góc” của Campuchia… Quan hệ kinh tế thương mại Trung Quốc – ASEAN càng kết nối mật thiết hơn và cơ chế hóa ở trình độ cao hơn.

Ngày 21/11/2021, trong dịp kỉ niệm 30 năm ngày hai bên thiết lập “quan hệ đối thoại”, Trung Quốc và ASEAN đã tuyên bố thiết lập “Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện hướng tới hòa bình, an ninh, phồn vinh và bền vững” và công bố “Kế hoạch hành động Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Trung Quốc – ASEAN 2022 – 2025” và tiếp  theo là “Kế hoạch hành động Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện 2026 – 2030”, có giá trị chỉ đạo việc tăng cường hợp tác hơn nữa trên các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm; tập trung vào hai lĩnh vực trọng tâm là hợp tác chính trị – an ninh và hợp tác kinh tế.

Có thể nói, quan hệ Trung Quốc – ASEAN đã được cơ chế hóa toàn diện nhất, trình độ cao nhất trong các khu vực tự do mậu dịch của Trung Quốc với nước ngoài, đi từ thấp đến cao, từ “quan hệ đối thoại” lên tầm cao nhất là “Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện”, tạo cơ sở để thúc đẩy quan hệ hai bên tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm qua. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, năm 2025, tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc đạt 45,47 nghìn tỉ tệ, tăng 3,8% (tương đương 6,35 nghìn tỉ USD). Trong đó, ASEAN tiếp tục là đối tác mậu dịch số 1 của Trung Quốc: tổng giá trị kim ngạch mậu dịch hàng hóa Trung Quốc – ASEAN đạt 7,55 nghìn tỉ tệ, tăng 8%, chiếm 16,6% tổng kim ngạch mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc (tương đương 1,05 nghìn tỉ USD, tăng 7,4%); trong đó Trung Quốc xuất sang ASEAN 4,76 nghìn tỉ tệ, tăng 14% (665,22 tỉ USD); nhập từ ASEAN đạt 2,79 nghìn tỉ tệ, giảm 1% (389,43 tỉ USD), Trung Quốc xuất siêu 275,79 tỉ USD. Sáu tháng đầu năm 2026, xuất nhập khẩu của Trung Quốc với ASEAN đạt 4,34 nghìn tỉ tệ, lại tăng 18,2%, trong đó, đáng chú ý là xuất nhập khẩu các sản phẩm có nguồn gốc trung gian của Trung Quốc với ASEAN đạt 2,86 nghìn tỉ tệ, tăng 24,5%, chiếm 2/3 tổng giá trị mậu dịch hai bên. Trong các nước ASEAN, 3 đối tác mậu dịch hàng đầu của Trung Quốc lần lượt là Việt Nam, Malaysia và Indonesia. Việt Nam là đối tác thương mại số 1 của Trung Quốc nhiều năm trong ASEAN.

Các đối tác thương mại hàng đầu của ASEAN năm 2024. Nguồn: ASEANstats

Trung Quốc – ASEAN với dân số gần 2 tỉ người, là đối tác thương mại lớn nhất của nhau, tổng GDP khoảng 21,1 nghìn tỉ USD (Trung Quốc: 20,85 nghìn tỉ USD, ASEAN trên 3000 tỉ USD) quan hệ hai bên không ngừng được củng cố và nâng cấp không chỉ đem lại lợi ích thiết thực cho hai bên mà còn đóng góp lớn cho hòa bình, an ninh và phồn vinh của khu vực và thế giới. ASEAN còn là hướng ưu tiên trong chính sách chu biên của Trung Quốc đồng thời là hướng triển khai trọng điểm của “Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại” mà Trung Quốc thường coi là “Chiến lược thế kỷ” của mình. Quan hệ Trung Quốc – ASEAN không đơn thuần là mối quan hệ giữa “bên cho” và “bên nhận” nữa mà đã trở thành mối quan hệ thật sự “hai bên cùng có lợi”, hai bên đều cần đến nhau, bổ sung cho nhau cả trên hai phương diện kinh tế và địa chiến lược. Đây chính là yếu tố quan trọng nhất để hai bên có thể vượt qua sự khác biệt về trình độ phát triển, chế độ chính trị, văn hóa xã hội vốn có để xây dựng và phát triển bền vững quan hệ hai bên, ngày càng tiến lên phía trước, cho dù hai bên vẫn đang đối mặt với một môi trường quốc tế phức tạp khó lường và những khác biệt cố hữu trong quan hệ hai bên.

Quan hệ Mỹ – ASEAN

Thời kỳ chiến tranh lạnh, khu vực Đông Nam Á trở thành khu vực trọng yếu của xung đột chiến lược Xô – Mỹ, là khu vực quan trọng Mỹ sử dụng để kiềm chế Chủ nghĩa Cộng sản. Sau khi “Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á” (SEATO) thành lập (19/2/1955), Philippines, Thái Lan trở thành căn cứ hậu cần quân sự quan trọng để Mỹ đối kháng với Chủ nghĩa Cộng sản tại châu Á. Khi chiến tranh Việt Nam lên cao trào, có đến 50.000 quân Mỹ được bố trí tại Thái Lan và Philippines; căn cứ Subic và Clark tại Phippines trở thành căn cứ quân sự nước ngoài lớn nhất của Mỹ… Nhưng sau khi Hiệp định hòa bình Paris 1973 được ký kết, Mỹ bắt đầu rút dần khỏi Đông Dương, ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á cũng giảm dần. Sau khi  SEATO giải thể (30/6/1977), địa vị Đông Nam Á trong chiến lược toàn cầu của Mỹ bị hạ thấp; Chiến tranh lạnh kết thúc và Liên Xô tan rã vào cuối năm 1991, trọng tâm lợi ích chiến lược của Mỹ chuyển sang phía Tây, Tây Âu, Trung Đông trở thành tiền tiêu chiến lược của Mỹ; Đông Bắc Á, nơi mà cạnh tranh chiến lược Trung – Mỹ ngày càng gia tăng, cũng được đặt ở một mức độ ưu tiên nhất định. Lúc này, mặc dù tại Đông Nam Á, hệ thống đồng minh của Mỹ vẫn tồn tại nhưng tầm quan trọng chiến lược của khu vực đã giảm sút rõ ràng, nhiều học giả Mỹ cho rằng Đông Nam Á đã “thoát ra ngoài tầm radar chiến lược toàn cầu của Mỹ”. Năm 1991-1992 Mỹ rút khỏi căn cứ hải quân Subic và căn cứ không quân Clark ở Philippines, viện trợ quân sự của Mỹ đối với Đông Nam Á cũng giảm sút nhanh chóng, thay vào đó, Mỹ coi trọng hợp tác kinh tế hơn, đặc biệt là thúc đẩy tự do mậu dịch của các nước Đông Nam Á. Mỹ và Đông Nam Á thiết lập quan hệ hợp tác phát triển, thúc đẩy một loạt các các hạng mục hợp tác về mậu dịch, đầu tư, chuyển nhượng kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực…

Dưới thời Tổng thống George W. Bush, Mỹ bắt đầu “tái tiếp xúc có lựa chọn” đối với Đông Nam Á. Chống khủng bố và hợp tác kinh tế trở thành hai trụ cột trong chính sách của Tổng thống Bush đối với Đông Nam Á. Trong chiến tranh chống khủng bố, Đông Nam Á được Bush đặt ở vị trí “tiền tuyến thứ hai” sau Trung Đông. Mỹ ký “Tuyên ngôn liên hợp hợp tác chống khủng bố” với ASEAN, tiến hành diễn tập quân sự liên hợp, tăng cường các hoạt động ngoại giao quân sự, tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Đông Nam Á, cải thiện quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á, mở rộng ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực này. Đáng chú ý là hợp tác Mỹ – Đông Nam Á trên các lĩnh vực chống hải tặc, cứu trợ tai họa, phòng chống dịch bệnh ngày càng sâu sắc. Sự viện trợ nhanh chóng của Mỹ sau sóng thần ở Ấn Độ dương 2004 và tích cực tham gia chống dịch Covid-19 của Mỹ đã phần nào giành được sự tôn trọng và tín nhiệm của các nước Đông Nam Á.

Trên lĩnh vực kinh tế, Đông Nam Á ngày càng trở thành thị trường hải ngoại quan trọng của Mỹ, kim ngạch mậu dịch hai bên năm 2003 đã đạt 120 tỉ USD, ASEAN trở thành đối tác mậu dịch lớn thứ 5 của Mỹ. Hai bên đã thông qua hợp tác kinh tế mậu dịch thúc đẩy các hạng mục về sản quyền tri thức, bảo hộ lao động, cải cách minh bạch hóa chính phủ… là những mục tiêu chủ yếu của chính sách của Bush đối với Đông Nam Á. Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ lúc đó là Robert Zoellick thậm chí còn coi ASEAN là “bộ phận hạt nhân của tầm nhìn toàn cầu của Mỹ”. Tại Thượng đỉnh APEC năm 2005 ở Busan Hàn Quốc, Bush tuyên bố thành lập “quan hệ đối tác tăng cường” Mỹ – ASEAN, từ đó hai bên thiết lập chế độ hóa hợp tác hai bên trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh. Sự ra đời hai văn kiện “Kế hoạch hành động về thực hiện quan hệ đối tác tăng cường Mỹ – ASEAN” năm 2006 và “Sửa đổi các lĩnh vực hợp tác ưu tiên trong quan hệ đối tác tăng cường Mỹ-ASEAN” năm 2009, đã thúc đẩy hợp tác hai bên càng đi vào thực chất.

Tổng thống Obama đã tích cực cài đặt lại quan hệ Mỹ – ASEAN: Năm 2009, Obama ngồi vào Nhà Trắng, thể hiện quan trọng đầu tiên của Obama trong điều chỉnh chính sách ngoại giao của Mỹ là nâng cao địa vị địa chiến lược của châu Á – Thái Bình Dương và điều chỉnh chính sách phù hợp với khu vực này, thực hiện “thâm nhập toàn diện” vào Đông Nam Á. Năm 2009, vừa lên nắm quyền, Obama đã tiến hành “Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN” lần thứ nhất, trở thành Tổng thống Mỹ đầu tiên gặp mặt đồng thời 10 nhà lãnh đạo của ASEAN. Năm 2009, Ngoại trưởng Hilary Clinton chọn Châu Á làm nơi đến thăm đầu tiên chứ không như thông lệ là chọn châu Âu. Chuyến thăm đầu tiên của Ngoại trưởng Hilary Clinton đến Trụ sở Văn phòng ASEAN và Indonesia  (3-4/9/2012) không đơn thuần là thể hiện ý đồ của Obama muốn thiết lập quan hệ càng mật thiết hơn với Đông Á, mà còn cho thấy tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với lợi ích quốc gia của Mỹ. Cũng năm 2009, trong chuyến thăm châu Á đầu tiên, phát biểu tại Nhật Bản, Obama tự xưng là “Tổng thống Thái Bình dương đầu tiên” (của Mỹ) và “các nước Thái Bình Dương có vai trò quan trọng then chốt trong việc tăng cường và duy trì địa vị lãnh đạo khu vực châu Á – Thái Bình Dương (CA-TBD) của Mỹ”. Năm 2010, Mỹ chủ đạo thành lập cơ chế đối thoại “Những người bạn hạ lưu sông Mekong” (FLM), tăng cường tiếp xúc kinh tế với tiểu vùng Mekong, nhằm ly gián khu vực này với Trung Quốc. Tháng 10/2010, phát biểu tại Hawai, Hilary Clinton tuyên bố ASEAN là một “chi nhánh của khung khu vực CA-TBD”, rất đề cao địa vị của ASEAN trong khuôn khổ Châu Á – Thái Bình Dương… Ngày 9/11/2012, cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Thomas Donilon đã khẳng định, “trong chính sách châu Á mới của Chính phủ Obama, ASEAN ở vào địa vị hạt nhân” (phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và các vấn đề quốc tế CSIS). Tổng thống Obama khởi xướng chiến lược “Trở lại châu Á” vào cuối năm 2011 và đầu năm 2012 chuyển thành chiến lược “tái cân bằng CA-TBD”. Có thể nói, “Tái cân bằng CA-TBD” của Tổng thống Obama đã đưa tầm quan trọng của khu vực Đông Nam Á lên tầng nấc chiến lược tương đương với Đông Bắc Á và Trung Đông, trở thành một điểm đến chiến lược quan trọng toàn cầu.

Ông Obama là Tổng thống Mỹ đầu tiên gặp mặt đồng thời 10 nhà lãnh đạo của khối ASEAN. Hình ảnh tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Mỹ lần thứ nhất tại Singapore năm 2009. Ảnh: AP

Tổng thống Trump chấp chính lần thứ nhất (2017-2020) và lần 2 (từ 2025) cũng như Biden (2021-2024) trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn, đặc biệt là cạnh tranh Mỹ – Trung vào thời kỳ gắt gao nhất, Mỹ không chỉ khởi động ”Khuôn khổ kinh tế Ấn – Thái” (IPEF), thu nạp 7 nước thành viên ASEAN làm các nước thành viên sáng lập, nhằm chia rẽ ASEAN và phân hóa quan hệ ASEAN với Trung Quốc, tích cực thúc đẩy chủ trương “thoát liên hệ, cắt đứt chuỗi cung ứng” với Trung Quốc, mà còn liên hợp với các đồng minh khu vực tổ chức lại chuỗi cung ứng khu vực (như kết nối Mỹ – Nhật – Philippines trong lĩnh vực bán dẫn, hợp tác trên lĩnh vực khoáng sản then chốt và xây dựng hạ tầng…) nhằm thiết lập một hệ thống không có Trung Quốc. Mỹ tận dụng quan hệ Mỹ – ASEAN để thực hiện ý đồ này và với Mỹ, kiềm chế Trung Quốc là mục tiêu xuyên suốt trong phát triển quan hệ với ASEAN.

Chính quyền Trump 2.0 đã tạo ra 3 thách thức chủ yếu cho ASEAN trong quan hệ với Mỹ: một là tính bất thường, hay thay đổi, khó dự báo trong chính sách và hành động của Trump. Trọng tâm của chính sách của Trump vẫn là kiềm chế tối đa đối với Trung Quốc, tạo nhiều khó khăn cho ASEAN khi tổ chức này đang trong chủ trương thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc, như là một nhu cầu chiến lược cấp thiết của ASEAN; hai là tác động tiêu cực của chủ nghĩa đơn biên, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch của Mỹ, kinh tế thương mại toàn cầu bị suy giảm, môi trường mậu dịch đối ngoại bị thu hẹp, nhiều nước ASEAN trở thành bên bị hại nặng nề của chính sách quan thuế mới của Trump; ba là sự leo thang căng thẳng, bất định của tình hình eo biển Đài Loan, mà cựu Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long từng xác định là “điểm bùng nổ nguy hiểm nhất của cạnh tranh Trung – Mỹ” (2023). Xung đột tiềm tàng Trung – Mỹ tại eo biển Đài Loan vẫn tồn tại, sẽ ảnh hưởng đến vận tải biển quốc tế, mậu dịch và đầu tư khu vực, trong đó ASEAN là khu vực chịu hậu quả trực tiếp nhất.

Trong quan hệ Mỹ – ASEAN, một đặc điểm nổi bật là vấn đề an ninh luôn được đặt ở vị trí hàng đầu. Sau chiến tranh lạnh, Mỹ cho rằng, phải đồng thời triển khai trên ba hướng để đảm bảo an ninh: Một là tiếp tục duy trì sự có mặt của quân đội Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương; hai là tăng cường các liên minh song phương với Mỹ sẵn có ở khu vực; ba là thiết lập cơ cấu an ninh mới cho khu vực dưới sự lãnh đạo của Mỹ. Từ đó, Mỹ thúc đẩy quan hệ an ninh với ASEAN dưới các hình thức: Duy trì liên minh quân sự với các đồng minh vốn có trong ASEAN (Philippines, Thái Lan) và xây dựng quan hệ an ninh mới với Indonesia, Singapore, duy trì các cuộc tập trận chung hai bên; viện trợ quân sự cho các nước ASEAN qua đó thúc đẩy các nước tăng cường thực lực quân sự và trong quá trình đó, ngày càng phụ thuộc hơn vào Mỹ (từ năm 1976 đến năm 1991, số tiền viện trợ quân sự của Mỹ cho các nước ASEAN luôn tăng dần, từ 103 triệu USD (1976) lên 429 triệu USD (1985), tức tăng gấp 2,5 lần, từ 1977 đến 1980, Mỹ đã bán cho các nước ASEAN một lượng lớn vũ khí, trị giá lên tới 2,5 tỉ USD, gấp 2 lần so với trong 7 năm trước đó); yêu cầu các đồng minh của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương như Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc… tích cực tham gia vào việc phát triển tiềm lực quân sự và nâng cao khả năng chiến đấu của lực lượng quân sự các nước ASEAN.

Sau Chiến tranh lạnh, Mỹ ngày càng tham gia tích cực hơn, chủ động hơn vào các diễn đàn an ninh đa phương do ASEAN khởi xướng và giữ vai trò trung tâm như ARF, Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn Biển ASEAN mở rộng (EAMF). Mỹ – ASEAN cũng đã trở thành đối tác chiến lược (2015) và nâng lên thành đối tác chiến lược toàn diện (2022). Quan hệ này cũng đã mang lại những lợi ích cho cả hai phía. Với Mỹ, đó là bảo đảm duy trì địa vị của mình ở khu vực, với ASEAN là góp phần đảm bảo hòa bình, an ninh của khu vực cũng như việc gia tăng vị thế của ASEAN trên trường quốc tế.

Nhìn tổng thể, chính sách kiềm chế Trung Quốc của Mỹ đang ngày càng khó thực hiện hoặc nói đúng hơn là không thể thực hiện. Trước hết, là do quốc lực tổng hợp của Trung Quốc được tăng cường ngoài sức tưởng tượng của Mỹ, vị thế quốc tế của Trung Quốc không ngừng được nâng cao, đang dần đẩy Mỹ vào thế bị động; thứ đến là tính chủ động chiến lược của ASEAN được nâng cao, nhu cầu phát triển quan hệ của ASEAN với Trung Quốc ngày càng cấp thiết, càng gắn với động lực phát triển của ASEAN; cộng vào đó là sự phản tỉnh chiến lược của bản thân Mỹ qua thực tiễn thực hiện chính sách manh động và ít tính trước tính sau của Mỹ, đặc biệt là của chính quyền Trump 2.0, buộc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là chính sách đối với Trung Quốc của họ. Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ xem ra mang tính thực tế hơn, cầu thị hơn, kể cả đối với ASEAN.

Tại Hội nghị lần thứ 17 Ủy ban hợp tác Liên hợp ASEAN – Mỹ ngày 18/5/2026 tại Jakarta, Đại biện lâm thời Mỹ tại ASEAN Joy Sakura khẳng định, ASEAN là “một trong những đối tác quan trọng nhất của Mỹ tại khu vực Ấn – Thái”, “Mỹ tiếp tục ủng hộ địa vị trung tâm của ASEAN và cam kết thông qua các cơ chế do ASEAN chủ đạo, bảo đảm sự tồn tại của ASEAN đồng thời thúc đẩy hòa bình, ổn định và phồn vinh lâu dài của khu vực”. Các nước ASEAN và Mỹ đánh giá cao việc hoàn thành toàn bộ lộ trình “Kế hoạch hành động ASEAN –  Mỹ 2021-2025”, Hai bên nhất trí đẩy  nhanh việc thực thi “Tuyên bố viễn cảnh chung ASEAN – Mỹ”, để chào mừng 50 năm kiến lập quan hệ song phương vào năm 2027. Hai bên khẳng định lại sẽ thúc đẩy hợp tác mậu dịch và đầu tư toàn diện, hiện đại và bền vững hơn nữa, trọng điểm đặt ở mậu dịch số, kết nối chuỗi cung ứng và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Hai bên còn thống nhất triển khai hợp tác trên các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, kỹ thuật xanh, năng lượng tái sinh, bán dẫn, khoáng sản chiến lược và ngành chế tạo tiên tiến, đẩy mạnh hợp tác bảo đảm an ninh năng lượng và an ninh lương thực.

Tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN – Mỹ ngày 20/7/2026, Ngoại trưởng Mỹ Macro Rubio khẳng định, Mỹ “ủng hộ 100%” địa vị trung tâm của ASEAN, cho rằng ASEAN là “động lực quan trọng của tăng trưởng toàn cầu thế kỷ XXI” và “chiếm vị trí quan trọng trong lợi ích chiến lược của Mỹ tại khu vực”. Rubio còn nhấn mạnh, Mỹ sẽ tiếp tục đầu tư và cung cấp chi viện cho ASEAN trên các lĩnh vực chuỗi cung ứng, kinh tế số, an ninh năng lượng, chuyển đổi mô hình năng lượng, kết nối mạng điện và hợp tác hạt nhân dân dụng… Có thể Mỹ đang muốn nâng cấp quan hệ Mỹ – ASEAN lên tầm cao hơn, thiết thực hiệu quả hơn.

Trong phát biểu của mình tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN – Mỹ nói trên, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Lê Hoài Trung đã đánh giá cao các cam kết của Mỹ đối với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và kiến nghị hai bên sớm hoàn thành và thực hiện có hiệu quả Kế hoạch công tác giai đoạn mới của hai bên. Trên lĩnh vực hợp tác kinh tế, Bộ trưởng Lê Hoài Trung kiến nghị, ASEAN và Mỹ thúc đẩy mậu dịch và đầu tư theo hướng mở cửa, minh bạch rõ ràng, cùng có lợi, tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, khoa học kỹ thuật, sáng tạo, chuyển đổi mô hình năng lượng và kết nối năng lượng khu vực. Bộ Trưởng Việt Nam còn kiến nghị Mỹ tiếp tục ủng hộ hợp tác tiểu vùng Mekong, đặc biệt là trên các lĩnh vực quản lý nguồn nước, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững và bồi dưỡng nguồn nhân lực. Về các vấn đề khu vực và quốc tế, Bộ trưởng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, an ninh và ổn định, giải quyết tranh chấp bằng các phương pháp hòa bình dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế. Ông đánh giá cao Mỹ tiếp tục lập trường nguyên tắc ủng hộ ASEAN trên vấn đề Biển Đông; đồng thời kêu gọi Mỹ tiếp tục cống hiến tích cực cho việc xây dựng một khuôn khổ khu vực lấy ASEAN làm trung tâm, trên cơ sở các nguyên tăc mở cửa, bao dung, minh bạch và bền vững.

Năm 2023, giá trị thương mại hàng hóa ASEAN – Mỹ đạt 395,9 tỷ USD, chiếm 11,2% tổng giá trị thương mại của ASEAN, đưa Mỹ trở thành đối tác thương mại lớn thứ 2 của ASEAN (sau Trung Quốc). Giá trị đầu tư trực tiếp (FDI) của Mỹ tại các nước thành viên ASEAN đạt khoảng 74,4 tỷ USD, chiếm 32,4% giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài tại ASEAN trong năm 2023. Truyền thông Mỹ đánh giá, hoạt động kinh doanh và đầu tư ASEAN – Mỹ đã hỗ trợ hơn 625.000 việc làm trên khắp nước Mỹ, 17 trong số 50  bang ở Mỹ có hơn 10.000 việc làm ở mỗi bang dựa vào hoạt động xuất nhập khẩu Mỹ – ASEAN. Quan hệ kinh tế thương mại Việt – Mỹ cũng không ngừng  gia tăng; 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch mậu dịch Việt – Mỹ đạt 97,7 tỉ USD, trong đó Việt Nam xuất sang Mỹ đạt 86,4 tỉ USD, tăng 21,9%, nhập khẩu từ Mỹ đạt 11,2 tỉ USD, tăng 26%.

Khảo sát tại Đông Nam Á về quan hệ với Trung Quốc và Mỹ

Đánh giá của các quốc gia ASEAN đối với quan hệ Trung Quốc – ASEAN và Mỹ – ASEAN khác nhau, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Yusof Ishak Institute (ISEAS) tại Singapore ngày 7/4/2026 đã công bố “Báo cáo tình hình Đông Nam Á 2026” cho biết:

– Đông Nam Á/ASEAN chọn bên nào giữa Trung Quốc và Mỹ: Năm 2026 có 52% chọn Trung Quốc, 48% chọn Mỹ. Tỉ lệ số người Đông Nam Á nghiêng về Trung Quốc và nghiêng về Mỹ 7 năm qua như sau:

  2020 2021 2022 2023 2024 2025 2026
Nghiêng về Trung Quốc 46,4% 43,8% 43% 38,9% 50,5% 47,7% 52%
Nghiêng về Mỹ 53,6% 56,2% 57% 61,1% 49,5% 52,3% 48%

– Về chính sách của Mỹ: Phần lớn người Đông Nam Á/ASEAN cho rằng Mỹ phải thay đổi chính sách trong quan hệ với ASEAN: Những người được hỏi  nói, trừng phạt mậu dịch và chiến tranh quan thuế rõ ràng đã làm tổn hại đến hình tượng nước Mỹ (tỉ lệ này đã tăng từ 21,3% lên 43,4%). Để cải thiện quan hệ, cách chủ yếu là Mỹ phải tôn trọng luật pháp quốc tế và các cơ cấu quốc tế chứ không phá hoại hệ thống toàn cầu (38,5%), là theo đuổi mậu dịch tự do và quan hệ đối tác chiến lược, chứ không phải là quan thuế mang tính trừng phạt (24,9%) và tôn trọng chủ quyền và quyền tự chủ chính sách Ngoại giao (19,6%). Rõ ràng số đông ASEAN không thiện cảm với chính sách của Mỹ thời ông Trump.

Chính sách thuế quan của Mỹ dưới thời Tổng thống Trump là một trong những thách thức đối với mối quan hệ giữa Mỹ và các nước ASEAN. Ảnh minh họa

– Về vấn đề duy trì mậu dịch và trật tự toàn cầu: ASEAN vẫn được coi là bên đề xướng kiên định nhất tự do hóa mậu dịch toàn cầu, 25,5% số người được hỏi ủng hộ quan điểm này, cao hơn mức 23,8% của năm ngoái, tiếp theo là Trung Quốc với 21,3%; EU xếp thứ ba với 19,2%, thay chỗ của Mỹ năm ngoái, Mỹ tụt xuống thứ 4 với 14% số phiếu.

– Về mức độ tín nhiệm đối với nước lớn và Tổ chức khu vực: Nhật Bản vẫn là nước lớn được Đông Nam Á tín nhiệm nhất năm nay, đạt 65,6%; EU năm ngoái vượt qua Mỹ, đứng thứ hai, năm nay củng cố vị trí này với 55,9% số phiếu , tiếp đến là Mỹ (44%), Trung Quốc (39,%), Ấn Độ (38,5%); mức độ tín nhiệm của Trung Quốc nâng cao 3 điểm % và của Mỹ giảm 3 điểm % nhưng mức tín nhiệm của Trung-Mỹ vẫn thấp hơn nhiều so với Nhật và EU. Nhật Bản giành được mức tín nhiệm cao như vậy có thể là do đầu tư lâu dài của Nhật vào Đông Nam Á và tôn trọng thực hiện luật pháp quốc tế. Trong những người không tín nhiệm Mỹ, hơn 1/3 (35%) cho rằng sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ có thể được sử dụng để uy hiếp lợi ích và chủ quyền của quốc gia mình; các hành động của Mỹ tại Venezuela và Iran năm nay càng làm sâu sắc thêm nhận thức này.

Kết luận

Có thể nói quan hệ ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Mỹ là những cặp quan hệ mang tính rường cột của trật tự châu Á – Thái Bình Dương, thậm chí là của trật tự toàn cầu. Quan hệ ba bên này phát triển ổn định sẽ góp phần quan trọng làm ổn định tình hình khu vực và thế giới, đóng góp tích cực cho hợp tác cùng phát triển của nhân loại. ASEAN hiện là trục kinh tế lớn thứ 5 và phấn đấu trở thành cực lớn thứ 4 toàn cầu vào 2030; Trung Quốc và Mỹ là hai nhân tố hàng đầu hỗ trợ ASEAN trong tiến trình này, nhất là từ sau khi Trung Mỹ thiết lập “Quan hệ ổn định chiến lược mang tính xây dựng” (5/2026) đã giúp ASEAN khẳng định và phát huy vai trò “hạt nhân” của mình trong cơ chế khu vực. Về phía ASEAN, qua phát triển quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, ASEAN sẽ có điều kiện để đóng vai trò “khu đệm” giữa Trung Quốc và Mỹ, góp phần quan trọng làm cho Trung Mỹ xích lại gần nhau hơn, một trong những yếu tố then chốt để đi đến hòa bình, hợp tác và phồn vinh. Trong một thế giới đang mất ổn định và khó dự báo hơn bao giờ hết như ngày nay, sự phát triển ổn định quan hệ ba bên Trung Quốc – Mỹ – ASEAN sẽ càng cần thiết hơn, càng có ý nghĩa chiến lược hơn.

Việt Nam là một trong những thành viên then chốt của ASEAN, là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong nhiều năm; Quan hệ địa chính trị Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Mỹ cũng đang được thúc tiến một cách ổn định. Thực tế này mặc nhiên đã nâng cao vị thế của Việt Nam trong nội bộ ASEAN và trong quan hệ giữa ASEAN với hai siêu Trung Mỹ. Đây là một lợi thế hiếm có cho Việt Nam trong triển khai chính sách đối ngoại thời kỳ mới, một thời kỳ mà thế giới đang chứa đầy những nhân tố bất định, bất an. Lợi thế này góp phần tạo nên các thời cơ mới cho giai đoạn vươn mình của Việt Nam, Việt Nam nhất thiết phải nắm bắt và tận dụng tối đa cơ hội này để phát triển. Củng cố và phát huy vai trò “trung tâm” của ASEAN, nâng cao vị thế của Việt Nam trong ASEAN và tăng cường quan hệ ba bên Trung Quốc – ASEAN – Mỹ cần được đặt ở vị trí xứng đáng trong tổng thể quan hệ đối ngoại của Việt Nam thời kỳ mới.■

Tùng Lâm

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN