Vị trí của ASEAN trong tình hình châu Á - Thái Bình Dương thời kỳ mới và liên hệ với Việt Nam

Trong thời gian gần đây, dưới tác động của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, đặc biệt là những biến động khó lường của tình hình chính trị – an ninh thế giới, sự phân rã của trật tự thế giới “đa cực” cùng quá trình tái cấu trúc liên tục của nhiều tổ chức, liên minh khu vực và quốc tế, tình hình chính trị, an ninh cho tới kinh tế, đối ngoại… của nhiều quốc gia, khu vực, do đó cũng có nhiều sự biến đổi theo. Để tiếp tục có cơ hội phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi tổ chức liên chính phủ, mỗi mô hình tổ chức chính trị cần hiểu rõ được vị trí, vai trò của mình, từ đó đưa ra những bước hoạch định chính sách phù hợp, thích ứng tốt với tình hình mới. Trước tình hình đó, ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) đóng vai trò là một tổ chức khu vực có nhiều đặc điểm nổi trội, vừa chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực do bối cảnh đặc thù mang lại, vừa đóng vai trò địa chính trị tối quan trọng của một “ngã tư đường” chiến lược giữa nhiều châu lục, đại dương lớn.

Tình hình châu Á – Thái Bình Dương thời kỳ mới
Theo quan sát của nhiều nhà nghiên cứu quốc tế, thế kỷ XXI sẽ là “thế kỷ của châu Á – Thái Bình Dương”, một khu vực được đánh giá là “vừa đa dạng, phong phú, lại vừa phức tạp và năng động”. Châu Á – Thái Bình Dương có ranh giới phía Tây, Tây Bắc giáp phần còn lại của đại lục châu Á và khu vực Trung Á, Nam Á; phía Đông được trải dài ra vùng biển rộng lớn của Thái Bình Dương, vươn tới tận vùng bờ biển phía tây của châu Mỹ (Hoa Kỳ, Canada, Chile, Peru); phía Bắc tiếp giáp với vùng biển lạnh Bắc Băng Dương; phía Nam kéo dài xuống khu vực châu Đại Dương và vùng biển phía nam. Chính đặc điểm này khiến châu Á – Thái Bình Dương không đơn thuần chỉ chiếm giữ vai trò quan trọng về mặt tự nhiên, mà còn là một thực thể địa chính trị luôn nằm trong viễn kiến chính trị của các cường quốc trên thế giới.

Thủ tướng Lê Minh Hưng và lãnh đạo các nước ASEAN tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 ở Philippines, tháng 5/2026. Ảnh: VGP

Khu vực này có nhiều cường quốc với chế độ chính trị – xã hội và thể chế chính trị đa dạng, kéo theo đó là sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế – xã hội ở nhiều quốc gia: các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế bậc nhất thế giới (các nước thành viên nhóm G7, thành viên nhóm G20, các quốc gia ASEAN (bao gồm 11 quốc gia thành viên), tới các quốc gia đang phát triển (nổi bật là Triều Tiên). Châu Á – Thái Bình Dương cũng là một trong những khu vực có lịch sử phát triển lâu đời nhất thế giới, mang nhiều di sản văn hóa, tôn giáo phong phú, phức tạp.

Đặc biệt, Đông Nam Á và khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói chung còn nằm trong phạm vi cạnh tranh và gia tăng ảnh hưởng của nhiều cường quốc, nổi bật là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Nga. Trong bối cảnh hiện nay, xu hướng này càng trở nên rõ nét khi Mỹ dưới chính quyền Tổng thống Donald Trump thúc đẩy chủ trương “đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại”, Trung Quốc không ngừng gia tăng tiềm lực và tham vọng khẳng định vị thế cường quốc hàng đầu thế giới, Nhật Bản có những điều chỉnh đáng chú ý về chính sách quốc phòng, an ninh, làm gia tăng quan ngại về sự tái cấu trúc của chủ nghĩa quân phiệt; trong khi Nga đẩy mạnh định hướng “xoay trục sang phương Đông”. Sự đan xen giữa cạnh tranh chiến lược của các cường quốc với những vấn đề địa chính trị phức tạp, trong đó có nhiều tranh chấp lãnh thổ kéo dài chưa được giải quyết, đang làm gia tăng những nguy cơ tiềm ẩn đối với hòa bình và ổn định khu vực. Những điểm nóng như vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, căng thẳng xuyên eo biển Đài Loan, các tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên Biển Đông, tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku giữa Trung Quốc và Nhật Bản, tranh chấp Takeshima/Dokdo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, hay bất đồng liên quan đến bãi đá Tô Nham (Ieodo/Tô Nham Tiêu) đều cho thấy tình hình an ninh khu vực đang đứng trước nhiều thách thức phức tạp, với nguy cơ tác động tiêu cực đến môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác.

Châu Á – Thái Bình Dương cũng là nơi từng chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh, xung đột quân sự có quy mô lớn trong và sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh: Chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953), khởi phát cho những căng thẳng kéo dài trên bán đảo Triều Tiên cho tới tận thời điểm hiện tại, chiến tranh xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam (1954 – 1975), chiến tranh biên giới Tây Nam Việt Nam do bọn diệt chủng Pol Pot tiến hành (1976 – 1979), chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Việt Nam (1979 – 1989), trận Gạc Ma năm 1988, để lại nhiều hệ lụy sâu sắc đối tới tình hình an ninh chiến lược của toàn khu vực.

Bất chấp những tranh chấp, xung đột tại khu vực, đổi lại, châu Á – Thái Bình Dương hiện nay lại thể hiện được vai trò trung tâm tăng trưởng kinh tế năng động bậc nhất thế giới. Đây là nơi hội tụ của ba nền kinh tế hàng đầu thế giới: Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản, đồng thời là đầu tàu thúc đẩy thương mại, đầu tư và đổi mới sáng tạo trên phạm vi toàn cầu. Về quy mô kinh tế, 21 nền kinh tế thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) hiện đóng góp khoảng 54% tổng GDP toàn cầu và chiếm khoảng 44% tổng kim ngạch thương mại hàng hóa và dịch vụ của thế giới, thể hiện vị trí ngày càng nổi bật của khu vực trong việc dẫn dắt tăng trưởng và định hình các xu hướng phát triển của nền kinh tế toàn cầu.

Khu vực này cũng là khu vực có mức độ liên kết kinh tế ngày càng sâu rộng, đặc trưng bởi quá trình hình thành và phát triển của nhiều cơ chế hợp tác hiệu quả với quy mô khu vực, đặc biệt là ASEAN, ASEAN+3, ASEAN+1, Hợp tác Tiểu vùng Mekong và nhiều cơ chế đa phương khác… Những cơ chế này góp phần quan trọng thúc đẩy hội nhập kinh tế, tăng cường kết nối hạ tầng, chuỗi cung ứng và hợp tác phát triển. Đồng thời, đây cũng là địa bàn tập trung triển khai chiến lược ba trong năm Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc gồm Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc, cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của khu vực đối với hòa bình, an ninh thế giới.

Cuối cùng, với quy mô dân số chiếm hơn một nửa dân số thế giới, châu Á – Thái Bình Dương vừa là thị trường tiêu dùng khổng lồ, vừa là nguồn cung lao động dồi dào cho quá trình phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, khu vực cũng là nơi nằm trên các tuyến hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng, kết nối các trung tâm kinh tế lớn của toàn cầu. Sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên cùng vị trí địa lý chiến lược đã tạo nền tảng quan trọng để châu Á – Thái Bình Dương duy trì sức hấp dẫn đối với dòng vốn đầu tư quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng.

ASEAN trước những biến động mới của châu Á – Thái Bình Dương
ASEAN là một trong những bộ phận trung tâm của châu Á – Thái Bình Dương, hội tụ nhiều lợi thế nổi bật về vị trí địa lý, quy mô thị trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên và tiềm năng phát triển kinh tế. Với vị trí “ngã tư đường” nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, kết nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, ASEAN từ lâu đã trở thành cầu nối chiến lược giữa các nền kinh tế lớn của thế giới. Đây đồng thời là khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, có dân số trên 700 triệu người, chiếm hơn 8% dân số thế giới. Khu vực này có tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm cao, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính những yếu tố kể trên khiến ASEAN không chỉ có ý nghĩa về mặt địa kinh tế, mà còn giữ vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng tại khu vực.

Tuy nhiên, song hành với những thuận lợi kể trên, ASEAN cũng phải đối diện hàng loạt thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, ngày càng trở nên đặc biệt phức tạp.

Trước hết, do thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Đông Nam Á hội tụ nhiều nhân tố gây mất an ninh tiềm tàng, đặc biệt là cuộc chạy đua vũ trang ngày càng gay gắt giữa nhiều cường quốc như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc… xuất phát từ vấn đề Đài Loan đòi độc lập và sự tranh chấp các hòn đảo ở Biển Đông, biển Hoa Đông. Nơi đây cũng là một điểm nóng chính trị – an ninh nhạy cảm. Hiện nay, vấn đề Myanmar là một trong những cuộc khủng hoảng chính trị – nhân đạo phức tạp nhất khu vực, bắt nguồn từ cuộc đảo chính quân sự vào tháng 2/2021. Sự kiện lật đổ chính quyền dân sự đã châm ngòi cho làn sóng xung đột vũ trang diện rộng giữa quân đội chính phủ và liên minh các lực lượng sắc tộc, đẩy đất nước vào tình trạng bất ổn kéo dài, suy thoái kinh tế và khiến hàng triệu người rơi vào cảnh mất ly tán.

Tàu của Lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc áp sát tàu của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, ngày 14/9/2025. Ảnh: Hitoshi Nakama/REUTERS.

Bên cạnh cuộc khủng hoảng nội bộ mang tính hệ thống này, tình hình an ninh khu vực Đông Nam Á còn phải chịu thêm áp lực khi những những bất đồng, xung đột giữa Thái Lan và Campuchia, liên quan đến vấn đề biên giới, chủ quyền lãnh thổ vẫn liên tục tái diễn thường xuyên, phản ánh thách thức trong công tác xử lý tranh chấp bằng nhiều cơ chế hợp tác khu vực.

Không chỉ đối mặt với các vấn đề an ninh truyền thống, ASEAN còn là địa bàn hoạt động của nhiều loại tội phạm xuyên quốc gia với quy mô ngày càng tinh vi và có tính tổ chức cao. Các hoạt động buôn bán ma túy, mua bán người, lừa đảo xuyên biên giới, rửa tiền, tội phạm công nghệ cao… diễn biến đặc biệt phức tạp, nhất là tại khu vực Tam giác Vàng (Lào, Thái Lan, Myanmar). Những tồn tại này không chỉ đe dọa trực tiếp đến an ninh, trật tự của các quốc gia thành viên, mà còn tạo ra những “kẽ hở” trong quản trị khu vực, làm gia tăng nguy cơ can thiệp từ bên ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau, ảnh hưởng đến độc lập, chủ quyền và lợi ích chiến lược của chính các quốc gia ASEAN.

Đáng chú ý, ASEAN cũng được đánh giá là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu. Hiện tượng nước biển dâng, xâm nhập mặn, các hiện tượng thời tiết cực đoan, suy giảm đa dạng sinh học và thiên tai diễn biến ngày càng khốc liệt, tác động trực tiếp đến an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, phát triển kinh tế và sinh kế của hàng trăm triệu người dân. Có thể thấy, trong thế kỷ XXI, “an ninh” không còn giới hạn ở lĩnh vực quân sự, chính trị mà đã mở rộng sang các vấn đề an ninh phi truyền thống, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các quốc gia và các cơ chế hợp tác khu vực.

Tuy nhiên, mặc dù phải đối mặt với nhiều sức ép từ cả bên trong lẫn bên ngoài, ASEAN vẫn tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những trung tâm đối thoại và hợp tác quan trọng nhất của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trong bối cảnh nhiều thiết chế hợp tác quốc tế đang bộc lộ những hạn chế nhất định trước các biến động của cục diện thế giới, ASEAN vẫn duy trì được cơ chế đối thoại thường xuyên, lấy đồng thuận, tôn trọng luật pháp quốc tế và hợp tác cùng phát triển làm nền tảng. Đây là một trong số ít các tổ chức khu vực có khả năng quy tụ đồng thời các cường quốc hàng đầu thế giới tham gia vào cùng một khuôn khổ hợp tác mà không tạo ra tính chất đối đầu hay loại trừ lẫn nhau.

Vai trò trung tâm của ASEAN được thể hiện rõ thông qua hệ thống các cơ chế hợp tác do ASEAN khởi xướng và dẫn dắt như ASEAN+1, ASEAN+3, Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) và nhiều khuôn khổ hợp tác khác. Đây là những diễn đàn hiếm hoi quy tụ sự tham gia đồng thời của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ, Úc và nhiều đối tác quan trọng đa dạng, hướng tới mục tiêu cùng trao đổi về các vấn đề chiến lược về hợp tác, về hòa bình của thế giới.

Trong khi trên thế giới, đặc biệt là ở khu vực châu Âu, Trung Đông, nhiều cuộc chiến tranh triệt tiêu khả năng đối thoại, ASEAN trở thành nơi đối thoại, hợp tác, là nơi để các cường quốc công bố quan điểm của mình đối với thế giới, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong bối cảnh xung đột ngày càng gay gắt, mà rất hiếm có khu vực nào có được.

Liên hệ với Việt Nam trong bối cảnh mới

Những biến động sâu sắc của tình hình châu Á – Thái Bình Dương và vai trò trung tâm ngày càng nổi bật của ASEAN tác động tới Việt Nam ở cả hai khía cạnh, cơ hội và thách thức lâu dài. Là quốc gia nằm ở vị trí địa – chính trị quan trọng của Đông Nam Á, đồng thời có quan hệ ngày càng sâu rộng với hầu hết các trung tâm kinh tế – chính trị thế giới, Việt Nam cần có cách tiếp cận chủ động, linh hoạt nhưng kiên định, cứng rắn về nguyên tắc để vừa bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc, vừa đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực.

Thứ nhất, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh là điều kiện tiên quyết cho phát triển.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen phức tạp, việc giữ vững ổn định trong nước có ý nghĩa sống còn đối với mọi quốc gia. Đối với Việt Nam, mục tiêu này không chỉ đơn thuần là yêu cầu trước mắt mà còn là nền tảng lâu dài để thực hiện thành công mục tiêu phát triển nhanh chóng, vững bền. Muốn thực hiện được mục tiêu này, đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực dự báo chiến lược, chủ động phòng ngừa, xử lý hiệu quả các nguy cơ từ bên ngoài cũng như các yếu tố có thể gây mất ổn định từ bên trong. Đồng thời, cần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia thông qua phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ hai, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. 

Một trong những bài học lớn của Việt Nam trong tròn bốn thập kỷ đổi mới (1986 – 2026) là càng hội nhập sâu rộng, càng phải giữ vững độc lập, tự chủ. Trong bối cảnh ASEAN trở thành khu vực cạnh tranh ảnh hưởng của nhiều cường quốc, Việt Nam đã tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại: phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên hàng đầu, tôn trọng luật pháp quốc tế, lấy hòa bình, hợp tác là tôn chỉ để phát triển.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Đại sứ, Đại biện các nước ASEAN, ngày 4/8/2026. Ảnh: Văn phòng Chủ tịch nước.

Việt Nam tiếp tục phát triển đồng thời các quan hệ song phương và đa phương, mở rộng hợp tác với tất cả các đối tác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi. Việt Nam đã tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối đối thoại, thúc đẩy hợp tác thay vì đối đầu, góp phần củng cố môi trường hòa bình và ổn định của khu vực. Thực tiễn Việt Nam duy trì quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với cả Trung Quốc và Hoa Kỳ, là hai đối trọng hàng đầu của Việt Nam, chứng minh được khả năng xử lý linh hoạt quan hệ với các nước lớn trong khi vẫn giữ được thế cân bằng chiến lược. Trong những năm gần đây, các chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và nhiều đối tác khác tới Việt Nam cho thấy vị thế đối ngoại ngày càng đá vào chiều sâu và thiết thực.

Thứ ba, phát huy vai trò tích cực trong ASEAN và các cơ chế đa phương khu vực.

Trong bối cảnh nhiều cơ chế hợp tác quốc tế gặp khó khăn trong việc đạt được đồng thuận, ASEAN vẫn là một trong số ít các cơ chế duy trì được đối thoại thường xuyên giữa các cường quốc. Vì vậy, lợi ích của Việt Nam gắn chặt với việc giữ vững đoàn kết nội khối và vai trò trung tâm của ASEAN. Việt Nam đang chủ động tham gia xây dựng đồng thuận ASEAN, thúc đẩy các cơ chế như ASEAN+3, EAS, ARF, ADMM+, đồng thời tích cực đóng góp sáng kiến về an ninh hàng hải, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, chuyển đổi số, an ninh mạng và phát triển bền vững, Việt Nam đã chủ động tích cực vào các diễn đàn đa phương, giúp nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam và tạo thêm không gian chiến lược trong quan hệ với các nước lớn. Đối với vấn đề Biển Đông, Việt Nam cần tiếp tục kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với lập trường chính nghĩa của mình.

Thứ tư, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực phát triển mới.

Nếu trước đây, lợi thế của Việt Nam chủ yếu dựa vào lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ và nguồn thu từ việc xuất khẩu lương thực, thực phẩm, khoáng sản thô, trong giai đoạn hiện nay, năng lực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ quyết định vị thế cạnh tranh của quốc gia. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo, chất liệu bán dẫn, công nghệ sinh học và chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế toàn cầu. Việt Nam đang hướng vào đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ lõi và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ. Đây cũng là hướng đi phù hợp với yêu cầu nâng cao sức mạnh nội sinh của đất nước.

Lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực phát triển là hướng đi phù hợp với đất nước ta hiện nay. Hình ảnh robot hình người của VinRobotics tại hội chợ công nghệ Computex Taipei 2026, Đài Loan, tháng 6/2026. Ảnh: VinRobotics

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là đột phá chiến lược.

Trong cạnh tranh quốc tế hiện nay, nguồn nhân lực chất lượng cao quan trọng không kém tài nguyên thiên nhiên hay vị trí địa lý. Việt Nam đang tiếp tục đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo theo hướng gắn với nhu cầu của nền kinh tế số và chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó chú trọng đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, an ninh mạng, công nghệ sinh học, năng lượng xanh và quản trị quốc tế.
Đặc biệt, cần xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại, chuyên gia đa phương, nhà khoa học và doanh nhân có năng lực hội nhập quốc tế, tư duy chiến lược và khả năng cạnh tranh toàn cầu. Yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách có bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn và kỹ năng đa phương đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới phải là yêu cầu được đặt lên hàng đầu.

Thứ sáu, nâng cao khả năng chống chịu trước các thách thức an ninh phi truyền thống.
Là một trong những quốc gia chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, Việt Nam đang tích cực xử lý an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng và an ninh lương thực là những thành tố quan trọng của an ninh quốc gia. Việc chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và tăng cường hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực này không chỉ là yêu cầu phát triển bền vững mà còn góp phần nâng cao vị thế và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam.

Kết luận
Từ những phân tích trên, có thể thấy, trong bối cảnh châu Á – Thái Bình Dương vừa năng động, phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều bất ổn, ASEAN tiếp tục giữ vai trò là trung tâm đối thoại và hợp tác quan trọng của khu vực. Đối với Việt Nam, lợi ích quốc gia gắn liền với việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, củng cố đoàn kết khối ASEAN, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, cân bằng linh hoạt quan hệ với các nước lớn, đồng thời không ngừng nâng cao nội lực quốc gia về kinh tế, khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực. Như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã từng căn dặn: “Trước đây, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến, thì ngày nay chúng ta càng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng nước nhà”, có thể thấy, chỉ khi kết hợp hài hòa giữa sức mạnh nội sinh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, giữa kiên định nguyên tắc với linh hoạt sách lược, Việt Nam mới có thể tận dụng hiệu quả các cơ hội của thời kỳ mới, vượt qua những thách thức của cạnh tranh chiến lược quốc tế và tiếp tục khẳng định vai trò là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của ASEAN và cộng đồng quốc tế.■

Phương Nam

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN