Từ tháng 6/2025 đến giữa năm 2026, cuộc đối đầu của Mỹ và đồng minh Israel với Iran đã chuyển từ trạng thái căng thẳng răn đe sang một chuỗi leo thang quân sự trực tiếp với quy mô ngày càng lớn. Các đòn không kích ban đầu của Israel nhằm vào cơ sở hạt nhân và quân sự Iran, tiếp đó là sự tham chiến trực tiếp của Mỹ trong Chiến dịch Búa Đêm (Operation Midnight Hammer), đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, đó là Mỹ không còn chỉ hỗ trợ Israel từ phía sau mà đã trực tiếp tấn công vào năng lực hạt nhân và quân sự cốt lõi của Iran. Tuy nhiên, dù Mỹ và Israel đạt được nhiều kết quả chiến thuật đáng kể từ phá hủy cơ sở hạt nhân, làm suy giảm lực lượng tên lửa, hải quân ven biển đến loại bỏ nhiều nhân vật lãnh đạo cấp cao của Iran thì cuộc chiến vẫn chưa tạo ra một thắng lợi chiến lược mang tính quyết định. Ngược lại, Iran vẫn duy trì được khả năng trả đũa bằng tên lửa, UAV và các biện pháp gây sức ép khu vực, đặc biệt là việc phong tỏa một phần eo biển Hormuz khiến khủng hoảng năng lượng và bất ổn an ninh lan rộng ra toàn cầu.

Cuộc xung đột đã không còn đơn thuần là một chiến dịch không kích nhằm làm suy yếu Iran mà đã phát triển thành một cuộc đối đầu đa hướng, trong đó Mỹ buộc phải tính đến các phương án mở rộng áp lực bằng hải quân, thủy bộ, kiểm soát các điểm chiến lược và cô lập Iran khỏi các nguồn hỗ trợ từ bên ngoài như Nga, Trung Quốc.
1. Mục tiêu đưa Nga trở lại mặt trận châu Âu
Một trong những nguyên nhân khiến Mỹ chưa thể nhanh chóng kết thúc xung đột với Iran là do nước này vẫn nhận được sự hỗ trợ gián tiếp từ các cường quốc như Nga và Trung Quốc. Nếu Trung Quốc chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ kinh tế, ngoại giao và duy trì các kênh thương mại thì Nga lại có ý nghĩa trực tiếp trong mặt trận quân s và chiến lược. Nga không nhất thiết phải đưa quân tham chiến mà hỗ trợ qua cung cấp thông tin tình báo, cố vẫn kỹ thuật, kinh nghiệm tác chiến UAV, hỗ trợ vệ tinh hoặc linh kiện quân sự cũng đủ giúp Iran kéo dài khả năng chống cự trước các đòn không kích từ Mỹ và Israel. Vì vậy, trong tính toán của Mỹ, ông Trump muốn làm suy yếu Iran thì không thể chỉ đánh vào lãnh thổ Iran mà còn phải hạn chế khả năng Nga và Trung Quốc hỗ trợ từ phía sau.
Từ góc nhìn của Mỹ, Nga là mắt xích nguy hiểm hơn Trung Quốc trong cuộc xung đột này. Trong chiến tranh Ukraine, Iran từng cung cấp drone, linh kiện và kinh nghiệm chiến tranh phi đối xứng cho Nga, đổi lại Nga có thể hỗ trợ Iran bằng công nghệ phòng không, tác chiến điện tử, tình báo vệ tinh và kinh nghiệm đối phó với vũ khí phương Tây. Mối quan hệ này tạo ra một vòng trao đổi quân sự hai chiều: Iran học cách thích nghi trước áp lực không kích, còn Nga có thêm một đối tác giúp phân tán sức ép của Mỹ tại Trung Đông. Chính điểm này khiến Washington lo ngại rằng nếu Nga có đủ không gian chiến lược thì sẽ âm thầm giúp Iran phục hồi năng lực tên lửa, UAV và phòng không, từ đó làm chiến dịch của Mỹ – Israel rơi vào thế kéo dài. Vì lý do đó, Mỹ lựa chọn một hướng đi có tính toán hơn đó là tăng cường hỗ trợ Ukraine và duy trì áp lực lên Nga tại châu Âu. Bằng cách tiếp tục viện trợ quân sự, phối hợp với EU để mở rộng năng lực tấn công tầm xa của Ukraine và cho phép Kiev đánh sâu hơn vào các mục tiêu quân sự và năng lượng trong lãnh thổ Nga. Mỹ sẽ buộc Nga phải dồn nguồn lực về mặt trận Ukraine. Nói cách khác, Mỹ không chỉ giúp Ukraine vì mục tiêu phòng thủ châu Âu mà còn sử dụng mặt trận này để làm công cụ kéo Nga ra xa khỏi Trung Đông.
Các cuộc tấn công sâu của Ukraine vào lãnh thổ Nga trong những tháng đầu năm 2026 càng làm rõ hơn nhận định này. Khi các cơ sở quân sự, hạ tầng năng lượng và trung tâm hậu cần của Nga liên tục bị nhắm tới thì Nga sẽ buộc phải phân tán hệ thống phòng không của mình, tăng cường bảo vệ nội địa, điều chỉnh năng lực sản xuất quốc phòng và trả đũa lại bằng các đợt không kích quy mô lớn vào Ukraine. Trong bối cảnh đó, dù Nga có hỗ trợ Iran ở mức hạn chế thì cũng khó có thể can dự sâu hơn mà không tự làm suy yếu quân lực của mình trước Ukraine và NATO.
Có thể thấy, đây là điểm cốt lõi trong chiến lược đa mặt trận của Mỹ. Washington hiểu rằng trục Nga – Iran không chỉ là quan hệ song phương mà còn là một phần của mạng lưới rộng hơn muốn chống lại ảnh hưởng của Mỹ. Nếu Nga rảnh tay ở châu Âu, Iran sẽ có thêm hậu thuẫn ở Trung Đông và ngược lại, nếu Nga bị ghìm chặt tại Ukraine thì Iran sẽ bị cô lập hơn và khó phục hồi năng lực quân sự sau các đòn đánh của Mỹ và Israel.
Trong khi đó, Trung Quốc tuy cũng được tính đến. Nhưng với vai trò của mình trong giai đoạn này thì chủ yếu chỉ là hỗ trợ nền kinh tế hơn là can dự quân sự trực tiếp. Trung Quốc có thể mua dầu của Iran, bảo vệ Iran trên mặt trận ngoại giao nhưng Trung Quốc vẫn thận trọng hơn Nga trong việc trực tiếp đối đầu với Mỹ. Do đó, trong tính toán trước mắt của Mỹ, Trung Quốc là đối tượng cần gây sức ép ngoại giao, còn Nga mới là mắt xích cần bị kéo ra bằng áp lực quân sự thực tế. Tuy nhiên, chiến lược này không đảm bảo một kết quả nhanh chóng. Nga vẫn có thể hỗ trợ Iran ở mức vừa đủ mà không cần công khai đối đầu với Mỹ. Trong khi Iran vẫn giữ được năng lực trả đũa bằng tên lửa, UAV và các lực lượng ủy nhiệm khu vực. Nhưng ít nhất, bằng cách gây sức ép ở Ukraine, Mỹ sẽ có thể giảm khả năng hình thành một mặt trận hỗ trợ giữa Nga và Iran, cô lập Iran và khiến Nga không còn có thể trở thành hậu phương chiến lược cho Iran trong tương lai.
2. Chiến lược cắt đứt trục Nga – Iran – Trung Quốc
Trong tính toán của Mỹ, trục liên kết Nga – Iran – Trung Quốc là thách thức lớn đối với Hoa Kỳ và chiến lược tiếp theo sau khi tách Nga ra xa khỏi Iran đó là mở rộng sức ép trực tiếp lên không gian xung quanh quốc gia này. Mỹ không chỉ muốn làm suy yếu Iran bằng các đòn tấn công quân sự, mà còn muốn làm giảm chiến lược của Iran bằng cách cắt các tuyến kết nối giữa Iran với Nga, Trung Quốc và các khu vực lân cận. Như vậy, Mỹ đang tìm cách biến Iran từ một quốc gia có vị trí địa chính trị trung tâm giữa Trung Đông, Kavkaz, Trung Á và Nam Á thành một không gian bị bao quanh bởi các hành lang chiến lược do Mỹ và đồng minh có thể tác động.
Song song với việc gây sức ép lên các điểm tựa bên ngoài của Iran, Mỹ cũng tiếp tục củng cố các không gian ảnh hưởng xung quanh quốc gia này. Trước hết là hướng Nam, nơi các nước vùng Vịnh tiếp tục giữ vai trò nền tảng trong chiến lược của Mỹ. Những nước như Saudi Arabia, UAE, Qatar, Bahrain và các đối tác không nhất thiết phải trực tiếp tham gia chống Iran, nhưng họ có thể cung cấp hậu cứ quân sự, không gian ngoại giao, cơ sở tài chính, tuyến hậu cần và sức ép kinh tế đối với Iran. Với vị trí sát Vịnh Ba Tư và eo biển Hormuz, các nước vùng Vịnh là mắt xích then chốt nếu Mỹ muốn kiểm soát dòng chảy năng lượng, bảo vệ tuyến hàng hải và hạn chế khả năng Iran sử dụng Hormuz như một công cụ mặc cả.
Từ phía Tây Bắc, khu vực Kavkaz ngày càng trở nên quan trọng. Azerbaijan có vị trí đặc biệt nhạy cảm vì giáp trực tiếp với Iran và có quan hệ an ninh – quốc phòng ngày càng sâu với Thổ Nhĩ Kỳ, Israel và phương Tây. Đối với Mỹ, Azerbaijan không chỉ tạp sức ép lên Iran từ hướng Bắc mà còn là cửa ngõ kết nối biển Caspi với châu Âu mà không cần đi qua lãnh thổ Nga hoặc Iran. Điều này có ý nghĩa rất lớn, bởi nếu các tuyến vận tải, năng lượng và thương mại từ Trung Á sang châu Âu được thiết kế để đi qua biển Caspi, Azerbaijan, Armenia hoặc Thổ Nhĩ Kỳ thì vai trò trung chuyển của cả Nga và Iran đều sẽ suy giảm.

Armenia cũng đang trở thành một yếu tố đáng được chú ý tại bàn cờ này. Trong nhiều năm, Armenia vốn được xem là một đối tác truyền thống của Nga, phụ thuộc vào Nga nhiều về mặt an ninh, năng lượng và bảo trợ chiến lược. Tuy nhiên, sau các biến động tại Nagorno- Karabakh và sự thất vọng ngày càng lớn đối với vai trò của Nga, chính quyền Armenia dưới thời Thủ tướng Nikol Pashinyan có xu hướng ngả nhiều hơn về phương Tây. Sự dịch chuyển này khiến Nam Kavkaz không còn là vùng ảnh hưởng chắc chắn của Nga như trước. Nếu Armenia tiếp tục giảm phụ thuộc vào Nga, Mỹ và phương Tây sẽ có thêm điều kiện để thúc đẩy một hành lang ảnh hưởng mới nối từ Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, Armenia đến biển Caspi và xa hơn là Trung Á, với mô hình gần giống với hành lang Zangezur. Trong bối cảnh đó, Georgia cũng trở thành một mắt xích không thể bỏ qua, bởi các tuyến kết nối Đông – Tây qua Nam Kavkaz hiện nay vẫn phụ thuộc lớn vào vai trò trung chuyển của nước này. Nếu Georgia tiếp tục giữ lập trường thực dụng không hoàn toàn ngả về phía phương Tây đông thời duy trì các kênh kết nối kinh tế với Nga thì nỗ lực kéo Armenia ra khỏi ảnh hưởng của Nga và định hình lại các hành lang khu vực sẽ gặp thêm một điểm nghẽn quan trọng. Điều này liên quan trực tiếp đến ý tưởng cắt trục Nga – Iran. Khi Nam Kavkaz dần mở ra với phương Tây, Nga sẽ khó sử dụng khu vực này như một vùng đệm chiến lược. Đồng thời, Iran cũng bị hạn chế khả năng dùng Armenia hoặc các tuyến phía Bắc để duy trì kết nối với Nga và không gian Á- Âu. Nếu các hành lang mới được định hình theo hướng đi vòng qua Iran và Nga, thì Iran sẽ mất dần lợi thế địa lý vốn có của mình. Vị trí giữa Trung Đông, Kavkaz và Trung Á khi đó không còn là lợi thế kết nối mà trở thành một điểm bị bao quanh bởi các tuyến đường thay thế.
Ở hướng Bắc và Đông Bắc, Trung Á là không gian tiếp theo mà Mỹ muốn mở rộng ảnh hưởng. Kazakhstan và Uzbekistan đặc biệt quan trọng trong tính toán này. Kazakhstan là quốc gia lớn nhất Trung Á, có biên giới dài với Nga, sở hữu dầu khí, uranium và nhiều khoáng sản chiến lược. Uzbekistan lại có vị trí trung tâm, dân số lớn và chính sách đối ngoại tương đối độc lập. Nếu Mỹ tăng cường quan hệ với hai nước này, Washington có thể từng bước tạo ra vị thế mới tại Trung Á, qua đó làm giảm ảnh hưởng truyền thống của Nga và hạn chế khả năng Iran mở rộng kết nối về phía Bắc.
Tuy nhiên, sẽ không dễ dàng để Mỹ có thể kéo các nước Trung Á hoàn toàn về phía mình. Những quốc gia này thường theo đuổi chính sách cân bằng, không muốn phụ thuộc tuyệt đối vào Nga, Trung Quốc hay kể cả phương Tây. Họ sẽ hợp tác với bên nào mang lại lợi ích lớn hơn về đầu tư, thương mại, an ninh, năng lượng và bảo đảm chính trị. Chính vì vậy, cạnh tranh tại khu vực Trung Á sẽ không diễn ra theo kiểu chọn phe tuyệt đối mà là cả một quá trình mặc cả lợi ích kéo dài.
Nhìn chung, chiến lược của Mỹ đối với Iran đang chuyển từ mô hình gây sức ép đơn tuyến sang mô hình bao vây đa hướng. Ở phía Nam là vùng Vịnh và biển Oman; phía Tây Bắc là Kavkaz với Azerbaijan và Armenia; phía Bắc là Trung Á với Kazakhstan, Uzbekistan và các tuyến kết nối qua biển Caspi; phía Đông là không gian Afghanistan – Pakistan; còn phía Tây là sự phối hợp với Israel và các đối tác khu vực. Khi các hướng này được kết nối với nhau, Iran sẽ phải đối mặt với một vòng áp lực rộng hơn rất nhiều so với các cuộc công kích thông thường.
Điểm cốt lõi của chiến lược này là Mỹ không chỉ muốn đánh vào năng lực quân sự hiện tại của Iran mà còn muốn làm suy yếu khả năng phục hồi dài hạn của quốc gia này. Nếu Iran bị hạn chế tiếp cận nguồn linh kiện từ Trung Quốc, bị cắt bớt hỗ trợ quân sự từ tình báo Nga, mất dần vai trò trong các tuyến năng lượng và vận tải Á- Âu và đồng thời bị bao vây bởi các nước thân Mỹ thì sức chống chịu chiến lược của Iran sẽ suy giảm nghiêm trọng và khó duy trì được một cuộc đối đầu kéo dài với Mỹ và Israel.
3. Bàn đạp chiến lược cho khả năng tấn công Iran
Qua thời gian dài xung đột với Iran, Mỹ đã ngày càng nhận thức được giới hạn của việc chỉ dựa vào không kích trong cuộc đối đầu này. Các chiến dịch quy mô lớn có thể gây thiệt hại nặng cho cơ sở hạt nhân, kho tên lửa, hệ thống phòng không, căn cứ quân sự và bộ máy lãnh đạo của Iran. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không kích khó có thể một mình tạo ra kết quả quyết định.
Iran là một quốc gia có lãnh thổ rộng, địa hình phức tạp, chiều sâu phòng thủ lớn và khả năng phân tán lực lượng tốt. Trường hợp Fordow là ví dụ tiêu biểu. Đây là một trong những cơ sở làm giàu uranium được bảo vệ kiên cố nhất của Iran, nằm sâu trong núi gần thành phố Qom. Do cấu trúc ngầm và mức độ gia cố cao, Fordow từ lâu được xem là một mục tiêu đặc biệt khó phá hủy bằng không kích thông thường. Ngay cả khi các đòn đánh từ trên không gây thiệt hại đáng kể, mức độ tổn thất thực sự bên trong các khu vực ngầm vẫn có thể không được xác định đầy đủ chỉ bằng hình ảnh vệ tinh.
Vì vậy dù Mỹ và Israel có thể giành ưu thế trên không thì việc vô hiệu hóa hoàn toàn khả năng của Iran vẫn còn khó khăn nếu không có thêm các phương án tiếp cận từ đường bộ, đường thủy hoặc sử dụng các hoạt động đặc nhiệm. Chính từ hạn chế đó, Mỹ có lý do để mở rộng tính toán sang các hướng tiếp cận mới quanh Iran. Mỹ cần một cấu trúc bao vây rộng hơn như khu vực Kavkaz, Trung Á, Pakistan và vùng Vịnh để trở thành những điểm tựa chiến lược cho hoạt động hậu cần, tình báo, giám sát, đặc nhiệm nếu tiếp tục leo thang xung đột.
Tuy nhiên, các hình ảnh từ vệ tinh chụp được tại cơ sở Fordow cho thấy Iran cũng tăng cường các biện pháp phòng thủ chống tiếp cận trên mặt đất. Trên các tuyến đường dẫn vào khu phức hợp, nhiều ụ đất, đống đá và chướng ngại vật được bố trí theo dạng zích zắc, tạo ra các đoạn ngoặt gấp buộc các phương tiện phải giảm tốc độ di chuyển. Một số vị trí nằm gần các tuyến đường dẫn tới cửa hầm cũng xuất hiện ụ đất nhân tạo. Với cách bố trí này, Iran đang cho thấy sự chuẩn bị trong tư duy phòng thủ của Iran: từ phòng thủ trước không kích sang phòng thủ trước khả năng xâm nhập mặt đất.
Tuy nhiên, các bàn đạp này trước mắt chủ yếu mang tính chuẩn bị, răn đe và mở rộng lựa chọn hơn là dấu hiệu của sự chắc chắn tấn công bằng đường bộ trực tiếp. Các nước Kavkaz, Trung Á, Pakistan đều có tính toán riêng của mình và không dễ chấp nhận bị biến thành căn cứ chiến tranh chống Iran vì rủi ro trả đũa, bất ổn nội bộ cũng như phản ứng từ người dân và các cường quốc khác. Do vậy, giá trị thực tế của các khu vực này có thể nằm ở mức độ thấp hơn nhưng vẫn quan trọng đó là cho phép Mỹ mở rộng sự hiện diện, thu thập thông tin, điều phối hậu cần, gây áp lực biên giới, hỗ trợ hoạt động đặc nhiệm để tạo sức ép lên Iran.
4. Rủi ro chiến lược của Mỹ
Bên cạnh các điểm mạnh, chiến lược của Mỹ cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với chính Washington.
Trước hết, nếu Mỹ gây sức ép quá mạnh đối với Iran, Nga hoặc các nước ở giữa, chiến lược này có thể tạo ra phản ứng ngược. Các nước nhỏ tại Kavkaz, Trung Á, Trung Đông hoặc Nam Á thường không muốn bị buộc phải chọn phe một cách tuyệt đối. Nếu cảm thấy Wasington đẩy họ vào thế đối đầu trực diện với Nga, Trung Quốc hay Iran thì các quốc gia này có thể quay lại chính sách cân bằng, duy trì quan hệ với nhiều bên thay vì ngả hẳn về phía Mỹ. Khi đó, Mỹ không những khó mở rộng ảnh hưởng mà còn có thể khiến các nước khu vực thận trọng hơn với hướng đi của mình.

Rủi ro thứ hai là, Mỹ khó kiểm soát hoàn toàn phản ứng của Iran. Nếu bị cô lập hoặc dồn ép quá mức, Tehran có thể tăng cường các biện pháp trả đũa gián tiếp thông qua lực lượng ủy nhiệm, gây sức ép tại Iraq, Syria, Lebanon, Yemen hoặc trên các tuyến hàng hải chiến lược như vịnh Ba Tư, và eo biển Hormuz. Điều này có thể khiến chiến lược của Mỹ biến thành một chuỗi khủng hoảng an ninh kéo dài, buộc Washington phải tiêu tốn thêm nguồn lực quân sự, ngoại giao và tài chính để kiểm soát tình hình.
Rủi ro thứ ba là, tác động tiêu cực tới thị trường năng lượng toàn cầu. Nếu căng thẳng leo thang tại vùng Vịnh, biển Caspi, Kavkaz hoặc các hành lang vận tải năng lượng quan trọng, giá dầu và khí đốt có thể tăng mạnh. Khi đó, Mỹ không chỉ gây sức ép với Iran hay Nga mà còn có thể làm tổn hại đến kinh tế toàn cầu, trong đó có cả các đồng minh phương Tây, các đối tác tại châu Á và thậm chí cả nền kinh tế Mỹ.
Rủi ro thứ tư là, Mỹ có thể làm gia tăng tâm lý chống Mỹ trong khu vực. Nếu sự hiện diện của Washington bị nhìn nhận như một hình thức can thiệp quá sâu vào chính trị nội bộ, an ninh và định hướng đối ngoại của các nước khu vực, dư luận địa phương có thể phản ứng tiêu cực. Điều này đặc biệt rõ trong những khu vực từng trải qua chiến tranh, can thiệp quân sự hoặc bất ổn kéo dài. Khi tâm lý chống Mỹ gia tăng, các chính phủ thân Mỹ cũng sẽ gặp khó khăn trong việc công khai hợp tác với Washington.
Cuối cùng, chiến lược này có thể thúc đẩy Nga, Iran và Trung Quốc xích lại gần nhau hơn. Nếu Mỹ đồng thời gây sức ép lên cả ba chủ thể này, họ có thể có thêm động lực để phối hợp trong các lĩnh vực năng lượng, tài chính, quốc phòng, công nghệ và ngoại giao. Khi đó, thay vì chia tách Nga, Iran và Trung Quốc, sức ép của Mỹ có thể vô tình đẩy các nước này vào một cấu trúc hợp tác chặt chẽ hơn để đối trọng lại với Hoa Kỳ.
Như vậy, có thể thấy Kavkaz là khu vực cạnh tranh địa chính trị rất quyết liệt giữa Nga và Mỹ. Trung Quốc cũng có vai trò nhất định, nhưng trọng tâm đối đầu tại đây vẫn chủ yếu xoay quanh Nga và Mỹ. Cạnh tranh ở Kavkaz không chỉ giới hạn trong khu vực này mà còn liên quan tới không gian rộng hơn kéo dài sang Trung Á và Nam Á, từ Turkmenistan, Azerbaijan, Afghanistan đến Pakistan. Trong tính toán chiến lược ấy, khu vực này có thể tạo thành một vành đai gây sức ép đối với Iran, đồng thời thu hẹp các hành lang kết nối giữa Nga và Iran.
Dưới thời Tổng thống Trump, lập trường cứng rắn với Iran vẫn là ưu tiên nổi bật. Trong tương lai, khi các bên mở kênh đối thoại hoặc đạt được một thỏa thuận tạm thời nào đó thì điều này chưa chắc đồng nghĩa với việc sức ép của Mỹ sẽ chấm dứt. Không loại trừng khả năng Washington sẽ tiếp tục sử dụng các biện pháp mạnh hơn nếu cho rằng điều đó phục vụ lợi ích chiến lược của mình. Với Iran, tín hiệu này cần được nhìn nhận nghiêm túc. Iran có thể sẽ phải chuẩn bị cho một giai đoạn đối đầu phức tạp hơn, trong đó nguy cơ xung đột trực tiếp có thể giảm nhưng áp lực chiến lược thì không biến mất dễ dàng. Nếu căng thẳng bị đẩy lên cao nhiều khả năng Iran sẽ không lựa chọn lùi bước mà sẽ bước vào cuộc đối đầu với tâm thế quyết liệt hơn và sẵn sàng đi đến cùng.■
Hạ Vân