Lịch sử lưu vong và hình thành nhà nước
Lịch sử của người Do Thái là lịch sử gắn liền với những cuộc ly tán. Khởi nguồn từ sự kiện Moses dẫn đầu đoàn nô lệ Do Thái chạy trốn khỏi quân Ai Cập, lịch sử của người Do Thái đã trải qua nhiều giai đoạn quan trọng, bao gồm thời kỳ lập quốc, đến hai lần sụp đổ của ngôi đền thiêng Jerusalem, hay cuộc diệt chủng Holocaust kinh hoàng trong những năm Đệ nhị Thế chiến. Có thể nói, đối với người Do Thái, trải nghiệm lưu đày là thứ đã tạo thành căn tính Do Thái, chi phối cách họ định nghĩa về các khái niệm quốc gia, dân tộc. Đối với người Do Thái, mà sau này là tuyệt đại đa số công dân của quốc gia Israel non trẻ được ra đời năm 1948 ở Trung Đông, dân tộc tính chính là yếu tính, bành trướng lãnh thổ là nhu cầu tất định, ảnh hưởng đến chiến lược phát triển sống còn của quốc gia. Toàn bộ những mục tiêu này vừa nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng, lại vừa bị chi phối bởi chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (chủ nghĩa Zion). Theo đó, để hiểu rõ bản chất và những kế hoạch lâu dài của nhà nước Israel, cần đặt nó vào bối cảnh lịch sử dài lâu và mối quan hệ phức tạp của nó với các quốc gia, dân tộc khác trong khu vực và trên toàn cầu.
Thất bại của Đức Quốc xã trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai kéo theo sự sụp đổ của mạng lưới trại tập trung và hệ thống diệt chủng kinh hoàng nhất trong lịch sử – Holocaust, vốn từng khiến khoảng 6 triệu người Do Thái trên khắp lục địa châu Âu bị sát hại. Sang chấn của sự kiện này đã khiến nỗi mặc cảm lưu vong vốn là mạch nguồn trong lịch sử Do Thái, giờ trở thành nỗi câu thúc mạnh mẽ buộc họ phải sớm tái lập một nhà nước Do Thái do chính họ làm chủ, nơi họ được đảm bảo các quyền cơ bản và đóng góp cho sự phát triển quốc gia. Chính nhu cầu đậm tính dân tộc chủ nghĩa ấy đã góp phần hình thành nên nhà nước Israel vào thế kỷ XX.

Nếu so với những quốc gia láng giềng như Syria hay Iran, Israel không phải là một quốc gia có tuổi đời lâu dài. Tháng 11 năm 1947, khi chế độ ủy trị của thực dân Anh chính thức chấm dứt tại Palestine và kế hoạch phân chia vùng đất này được Đại hội đồng Liên Hợp quốc chính thức thông qua, nhà nước Israel của người Do Thái mới được ra đời. Khi đó, dân số của Israel còn chưa chạm tới con số một triệu người. Dẫu vậy, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Zion, dưới ý tưởng chung về việc thành lập một nhà nước Do Thái hùng cường cùng chính sách khuyến khích nhập cư của nhà nước, hàng trăm ngàn người đã nhanh chóng trở về đây, mang theo nguồn nhân lực, vật lực dồi dào từ khắp mọi ngóc ngách lớn nhỏ trên thế giới. Israel giờ đây đã là ngôi nhà chung của hàng chục cộng đồng mang quốc tịch và căn tính văn hóa khác nhau, cùng chung sống một cách hòa hợp dưới lý tưởng chung về một quốc gia phát triển chỉ thuộc riêng về nhà nước Do Thái. Sau hơn 70 năm, Israel đã là cường quốc ở khu vực về khoa học công nghệ, quân sự và tình báo. Về khoa học công nghệ, Israel là nơi đặt nhiều văn phòng nghiên cứu, phát triển của nhiều tập đoàn công nghệ cao như Amazon, Meta, Microsoft và Google; với các ngành công nghệ cao như viễn thông truyền hình, chất bán dẫn, y sinh, công nghệ nông nghiệp chiếm tới gần 20% GDP và hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu của Israel. Về mặt quân sự, quốc gia này sở hữu lực lượng quân đội tinh nhuệ, hệ thống vũ khí hiện đại, nổi tiếng với các hệ thống phòng thủ tên lửa nhiều tầng như Vòm Sắt, David’s Sling. Lực lượng Phòng vệ Israel cũng thường xuyên tiếp cận, sử dụng trí tuệ nhân tạo, tự động hóa vào nhiều chiến dịch quân sự. Về lĩnh vực tình báo, hệ thống tình báo của Israel được đánh giá là một trong những cơ quan tinh vi và hiệu quả nhất thế giới, kết hợp giữa tình báo con người, tình báo tín hiệu và năng lực tác chiến bí mật. Trong đó, Mossad (Viện Tình báo và Hoạt động Đặc biệt) là cơ quan tình báo đối ngoại hàng đầu của quốc gia này, phụ trách thu thập tình báo, hỗ trợ hoạch định chính sách an ninh quốc gia và thực hiện các hoạt động đặc biệt ở nước ngoài.

Tuy nhiên, theo nhiều nhà quan sát, tác nhân trực diện nhất chi phối tới kế hoạch trường kỳ của Israel vẫn cần được đặt trong mối quan hệ khăng khít với cường quốc Hoa Kỳ, nhất là dưới thời Tổng thống Donald Trump. Trong giai đoạn này, nhiều quyết định quan trọng được Hoa Kỳ đưa ra đã tạo thành một môi trường quốc tế thuận lợi cho những “dự án chính trị thực dân” được đề ra bởi chính quyền Israel. Ở đó, dự án hình thành một nhà nước Đại Do Thái, với ba mục tiêu cốt lõi cần phải hoàn thành ở khu vực Trung Đông, chính là những vấn đề đáng để lưu tâm.
Mục tiêu mở rộng biên giới và thanh trừng sắc tộc ở những lãnh thổ bị chiếm đóng
Mục tiêu mở rộng biên giới có thể được xem là trụ cột đầu tiên trong cách Israel định hình vị thế của mình trong khu vực. Rõ ràng, những người Do Thái, những nhà Zion chủ nghĩa, những người Ả Rập tại Palestine chưa bao giờ đạt được trạng thái hòa thuận, ổn định. Sự đổ bộ của người Do Thái tới “miền đất hứa”, nơi mà theo lập luận của những người Zion Kitô, là đã được “Chúa Trời hứa ban tặng cho người Do Thái, để người Do Thái cai trị cho đến khi Chúa trở lại Jerusalem và đưa con dân nước Chúa tới Thiên đàng”, cũng mau chóng dẫn tới những thảm họa nhân đạo nghiêm trọng tại Bờ Tây và Dải Gaza, nơi mà Israel thể hiện tham vọng mở rộng lãnh thổ một cách hiển nhiên.
Năm 1947, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua kế hoạch phân chia Palestine, kết quả là Israel được mọc lên từ những tan hoang của chiến tranh, còn nhà nước Ả Rập được trao cho hơn một nửa phần lãnh thổ còn lại. Dẫu vậy, thế giới Ả Rập và những người Do Thái lại luôn ở trong trạng thái xung khắc. Phe thủ cựu của nội các Israel, như chính quyền lâu năm của Thủ tướng Benjamin Netanyahu, phản đối kịch liệt giải pháp hai nhà nước. Tổ chức Giải phóng Palestine lại từ chối công nhận nhà nước Israel. Những xung đột này đến tận cùng đều cần tới giải pháp bạo lực.

Tuy nhiên, theo nhiều nhà quan sát, nếu chỉ nhìn vào Bờ Tây và Dải Gaza thì vẫn chưa phản ánh được hết phạm vi của tham vọng này. Israel thường được cho là theo đuổi một không gian chiến lược rộng lớn hơn, trong đó các khu vực lân cận đóng vai trò như “vành đai an ninh mở rộng”. Miền nam Liban, đặc biệt khu vực mở rộng tới sông Litani, từ lâu đã được xem là có ý nghĩa chiến lược trong việc tạo khoảng đệm trước các lực lượng đối địch. Litani là con sông có chiều dài dài nhất Lebanon, bắt nguồn từ thung lũng Beqaa xuống phía nam rồi đổ ra Địa Trung Hải, có tài nguyên nước dồi dào, phong phú. Khu vực phía nam con sông này – thường được gọi là miền Nam Liban – bao gồm các vùng đồi núi thấp, làng mạc Shiite đông đúc cùng các trục giao thông huyết mạch kết nối biên giới Israel – Liban với nội địa Liban, khiến nơi đây trở thành một vùng giao cắt quân sự, tài nguyên hết sức khó kiểm soát. Việc Israel từng duy trì hiện diện quân sự tại đây trong nhiều năm lại càng chứng minh được rằng khu vực này không chỉ đơn thuần là vấn đề phòng thủ ngắn hạn.
Tương tự, cao nguyên Golan và các khu vực phía Nam Syria cũng mang lại giá trị quân sự lớn. Cao nguyên Golan là một cao nguyên badan nằm ở phía tây nam Syria, có độ cao trung bình từ 300 đến hơn 1.000 mét so với mực nước biển, có vai trò như một “điểm quan sát tự nhiên”, cho phép kiểm soát tầm nhìn rộng xuống miền bắc Israel và khu vực xung quanh hồ Galile. Trong khi đó, các khu vực phía Nam Syria, đặc biệt là những vùng giáp ranh với Golan lại được Israel xem như những vùng đệm chiến lược đầy bất ổn, với sự hiện diện của nhiều lực lượng vũ trang khác nhau. Vì vậy, Israel thường xuyên tiến hành các hoạt động quân sự giới hạn nhằm ngăn chặn sự hiện diện hoặc củng cố của các lực lượng mà họ coi là mối đe dọa. Điều này khiến những khu vực này trở thành trọng điểm trong các tính toán dài hạn, vượt ra ngoài khuôn khổ xung đột với Palestine.
Xa hơn nữa, bán đảo Sinai hay vùng bờ Đông cũng là một mục tiêu chiến lược mà Israel nhắm tới. Dù những kịch bản này không phải là chính sách công khai, chúng thể hiện được khao khát bành trướng lãnh thổ một cách vô độ, được xem như bước đầu tiên trong việc kiến tạo một cấu trúc quyền lực mà Israel có thể duy trì ưu thế lâu dài trước các đối thủ xung quanh.
Tuy nhiên, tham vọng của Israel không chỉ dừng lại ở vấn đề lãnh thổ. Theo nhiều nhà quan sát, đó còn là khao khát thâu tóm quyền lực, xây dựng một đế chế có phạm vi ảnh hưởng bao trùm khắp Trung Đông. Để hiện thực hóa tham vọng đó, vấn đề đầu tiên và mang tính nền tảng chính là vấn đề thanh trừng sắc tộc. Ở đây, khu vực được nói đến chủ yếu là vùng Bờ Tây và Dải Gaza.
Theo nhiều nhà quan sát, trong hàng thập kỷ qua, Israel có thể duy trì một trạng thái cân bằng tương đối khi người Palestine chỉ chiếm khoảng một phần năm dân số trong phạm vi kiểm soát. Tuy nhiên, khi tỷ lệ dân số giữa người Do Thái và người Palestine tiến gần đến trạng thái ngang bằng, vấn đề này trở nên nhạy cảm hơn rất nhiều. Một nhà nước tự xác định là “Do Thái” sẽ phải đối mặt với mâu thuẫn nội tại nếu dân số không còn đảm bảo ưu thế rõ rệt cho nhóm đa số đó. Vì lý do này, Israel đã liên tục tiến hành nhiều cuộc vũ trang với mục tiêu tiêu diệt người Palestine và thanh lọc chủng tộc trên phạm vi lãnh thổ. Trước Chiến tranh thế giới thứ Nhất, Palestine là một vùng đất đa tôn giáo với đa số dân cư là người Ả Rập Hồi giáo, nhóm thiểu số thuộc về người Do Thái. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa Zion vào cuối thế kỷ XIX đã thúc đẩy làn sóng di cư Do Thái từ châu Âu đến Palestine, làm gia tăng căng thẳng với cư dân bản địa.
Mâu thuẫn giữa hai cộng đồng ngày càng leo thang, đặc biệt sau khi người Anh công khai ủng hộ việc thành lập một “quê hương quốc gia” cho người Do Thái. Đến năm 1947, Liên Hợp Quốc đề xuất kế hoạch phân chia Palestine thành hai nhà nước riêng biệt, nhưng đề xuất này không nhận được sự đồng thuận, dẫn đến nội chiến và sau đó là chiến tranh Ả Rập – Israel lần thứ Nhất vào năm 1948. Cuộc chiến này kéo theo sự kiện Nakba (có nghĩa là “thảm họa” trong tiếng Ả Rập), khi hàng trăm nghìn người Palestine buộc phải di dời khỏi quê hương, phân tán rải rác ở các trại tị nạn chiến tranh ở dải Gaza, bờ Tây và nhiều quốc gia láng giềng.
Bước sang thế kỷ XXI, xung đột tiếp tục diễn ra trong trạng thái bế tắc kéo dài, đặc biệt tại dải Gaza. Các vấn đề cốt lõi như quyền tự quyết của người Palestine, quy chế của Jerusalem, vấn đề người tị nạn và tính hợp pháp của các khu định cư vẫn chưa được giải quyết. Người Palestine bị dồn đuổi khỏi chính quê hương, phải sinh tồn trong những trại tị nạn với điều kiện vật chất vô cùng hạn chế.
Đỉnh điểm của leo thang này diễn ra vào tháng 10 năm 2023, khi Hamas phát động một cuộc tấn công quy mô lớn vào Israel, khiến hàng trăm người Israel thiệt mạng, hàng nghìn người bị thương vong. Israel ngay lập tức tuyên chiến với Hamas, tiến hành nhiều cuộc không kích và các hoạt động quân sự khác, đồng thời siết chặt lệnh phong tỏa Gaza để ngăn chặn dòng chảy tiếp tế dưới bất kỳ hình thức nào. Chỉ trong vài ngày sau khi chiến tranh bắt đầu, hơn 1.200 người Israel và hơn 1.400 người Palestine đã thiệt mạng, khiến sự kiện này trở thành một trong những vụ bạo lực đẫm máu nhất trong nhiều thập kỷ. Phản ứng quốc tế ban đầu nghiêng về ủng hộ quyền tự vệ của Israel, nhưng khi chứng kiến các thảm họa nhân đạo ở dải Gaza, dư luận đã chuyển hướng: chính quyền Israel chính thức bị cáo buộc diệt chủng với cộng đồng người Palestine. Tính đến thời điểm hiện tại, số lượng người Palestine thiệt mạng do thảm họa diệt chủng Israel gây ra có thể đã lên tới con số 60.000 người, phía Israel cũng từ chối công nhận sự hiện diện của nhà nước Palestine. Theo lập luận của chính quyền này, Palestine là vùng đất chưa bao giờ tồn tại.

Theo đó, có thể thấy, Israel không nhất thiết vận hành như một “đế chế” theo nghĩa cổ điển, nhưng rõ ràng, nó vẫn là một chủ thể quyền lực có khả năng định hình lại các tương quan chính trị trong khu vực. Sự kết hợp giữa ưu thế quân sự, kiểm soát lãnh thổ và liên minh chiến lược đã cho phép Israel duy trì một vị thế đặc biệt trong cấu trúc quyền lực ở Trung Đông. Dẫu vậy, vị thế ấy hoàn toàn vẫn có nguy cơ bị lung lay, nếu nhà nước này không giải quyết được hai mục tiêu còn lại, đó là “thần phục” những quốc gia láng giềng thân Mỹ và giải quyết triệt để những quốc gia có thái độ phản đối Israel.
Mục tiêu chi phối các quốc gia láng giềng thân Mỹ
Đối với Israel, mục tiêu mà họ theo đuổi không chỉ là an ninh biên giới, mà mục tiêu ấy còn nằm ở việc đảm bảo rằng các quốc gia xung quanh không đạt đến mức độ đủ mạnh để tạo ra thách thức chiến lược lâu dài. Theo nhiều nhà quan sát, Israel vận hành trong một mạng lưới quan hệ quyền lực phức tạp với các quốc gia Trung Đông khác, đặc biệt thông qua liên minh chiến lược với Hoa Kỳ. Thay vì trực tiếp “áp đặt” lên các quốc gia như Jordan, Ả Rập Xê Út, UAE hay Qatar, ảnh hưởng của Israel thường được trung gian hóa thông qua các cấu trúc quyền lực rộng hơn do Mỹ dẫn dắt. Trong bối cảnh đó, các tiến trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Israel và một số quốc gia Ả Rập trong những năm gần đây có thể được hiểu như một phần của sự tái cấu trúc trật tự khu vực.
Muốn thấy rõ được gốc rễ của mạng lưới chằng chịt này, trước hết cần hiểu rõ mối quan hệ sống còn của Israel với Mỹ, nhất là sự liên quan đến các nhóm vận động hành lang người Do Thái. Dù chỉ là một quốc gia tương đối non trẻ với quy mô dân số khoảng hơn 10 triệu người, Israel lại sở hữu một tiềm lực quân sự, tình báo và kinh tế vượt xa tầm vóc lãnh thổ của mình, từng bước vươn lên trở thành một trong những chủ thể quyền lực đáng kể trong hệ thống quốc tế đương đại. Trong khi đó, theo nhiều nhà quan sát, chính trị Mỹ lại là một nền chính trị dựa trên lợi ích nhóm, ở đó có một phần ảnh hưởng không nhỏ từ các nhà vận động hành lang Israel. Giới tinh hoa Israel, đặc biệt là các nhà Zion chủ nghĩa, vốn đã tích lũy được khối lượng tài sản khổng lồ sau nhiều thập kỷ, đã hiện thực hóa quyền lực của họ thông qua việc tác động nến những chính sách quan trọng của người Mỹ. Càng bỏ ra nhiều tiền, người ta lại càng dễ bề thâu tóm quyền lực, thay đổi bàn cờ, làm lợi vì những mục tiêu riêng.
Chính bởi lý do đó, chiến lược của Mỹ đối với Israel cũng không phải lúc nào cũng nhất quán. Nếu ở những đời tổng thống trước, Mỹ có xu hướng vừa ủng hộ, vừa tìm cách kiểm soát ảnh hưởng của Israel. Thậm chí, nguyên Tổng thống Mỹ Joe Biden còn có những tuyên bố đanh thép về các lệnh ngừng bắn vĩnh viễn ở dải Gaza. Đến thời của Donald Trump, trong quan hệ với Thủ tướng Israel là Benjamin Netanyahu, trật tự này đã có những biến chuyển đáng kể. Các chính sách như công nhận Jerusalem, một tọa độ chính trị, văn hóa, tôn giáo đặc biệt nhạy cảm – là thủ đô của Israel, thúc đẩy bình thường hóa quan hệ giữa Israel và các nước Ả Rập… đã cho thấy mức độ ủng hộ công khai, mạnh mẽ hơn từ phía Mỹ. Theo các nhà quan sát, điều này thậm chí làm dấy lên câu hỏi về việc liệu Mỹ đang dẫn dắt Israel, hay ngược lại, Israel đang ngày càng có khả năng định hình các lựa chọn chiến lược của Mỹ trong khu vực.
Từ nền tảng đó, Israel cũng có cơ hội để tiếp cận các quốc gia láng giềng theo lối “thần phục”, tức là dựa vào ảnh hưởng chặt chẽ với Mỹ để chi phối, trấn áp, buộc những quốc gia này sớm bị buộc chặt trong gọng kìm của Mỹ. Từ lâu, các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ ở Trung Đông như Ả Rập Xê út, UAE hay Qatar đã thiết lập liên minh an ninh năng lượng với Hoa Kỳ; do đó, việc định giá thương mại dầu mỏ bằng đô la Mỹ đã trở thành thông lệ – một thỏa thuận được gọi là hệ thống “petrodollar”. Có thể nói, đồng đô la Mỹ có thể được định giá phần lớn bởi dầu mỏ, biến đồng đô la trở thành một thứ “bản vị dầu mỏ”. Người ta hầu như chỉ dùng đô la để mua dầu mỏ, và những quốc gia khác muốn mua dầu mỏ – cũng buộc phải sử dụng đồng đô la. Nói cách khác, ai làm chủ được dầu mỏ, sẽ làm chủ được đồng đô la, tức là làm chủ được nền kinh tế toàn cầu. Người Mỹ sớm nhìn rõ mối quan hệ này. Mỹ buộc các quốc gia sở hữu trữ lượng dầu mỏ lớn tại Trung Đông buộc phải ký kết với Mỹ nhiều hiệp định quan trọng, nhất là các hiệp định an ninh, đổi lấy việc các quốc gia này phải cho Mỹ thành lập các căn cứ quân sự. Theo lẽ đó, nhiều quốc gia ở Trung Đông sẽ phải chịu sự ràng buộc lâu dài với Mỹ, mà bên cạnh đó, còn là sự hậu thuẫn đáng kể từ quốc gia Do Thái Israel.
Mục tiêu giải quyết triệt để những quốc gia có thái độ chống đối
Với những quốc gia không nằm trong quỹ đạo chi phối nói trên, chẳng hạn như Iran hay Liban, Israel lại duy trì thái độ thù địch, thậm chí nhiều lần thể hiện thành động xâm phạm lãnh thổ. Điều này không chỉ dừng ở cấp độ quân sự, mà còn bao gồm các yếu tố ngoại giao, kinh tế và ảnh hưởng gián tiếp thông qua các liên minh khu vực. Mục tiêu sâu xa là đảm bảo rằng không có quốc gia láng giềng nào đạt đủ sức mạnh để trở thành đối trọng chiến lược thực sự.
Với Iran, trên cương vị là hậu thân của đế chế Ba Tư cổ đại, quốc gia này không chỉ là một nhà nước hiện đại mà còn mang trong mình một chiều sâu văn minh kéo dài hàng thiên niên kỷ. Chính bề dày lịch sử, bản sắc chính trị và ý thức về vai trò khu vực này khiến Iran trở thành một đối tượng rất khó bị khuất phục trước sự áp đặt của các lực lượng ngoại bang. Sau Cách mạng Hồi giáo năm 1979, Iran định hướng bản thân là một lực lượng đối kháng với Hoa Kỳ và đồng minh, bao gồm Israel. Từ đây, Iran không chỉ là một quốc gia độc lập về chính trị, mà còn trở thành trung tâm của một mạng lưới ảnh hưởng khu vực thông qua các lực lượng ủy nhiệm tại Lebanon, Syria hay Yemen. Điều này khiến bất kỳ nỗ lực nào nhằm tái cấu trúc trật tự Trung Đông mà không tính đến Iran đều khó có thể thành công.
Để đạt được tính chính danh trong âm mưu chiếm đánh Iran, từ trước đến nay, phía Mỹ và Israel luôn nhằm vào quốc gia này dựa trên con bài truyền thông “chống chiến tranh hạt nhân”. Trên thực tế, vào những đời Tổng thống trước, chẳng hạn, vào thời của Tổng thống Mỹ Barack Obama, nhóm P5+1 bao gồm Mỹ cùng với Iran đã thành công ký kết Thỏa thuận hạt nhân Iran lịch sử năm 2015, buộc Iran hạn chế chương trình làm giàu uranium để đổi lấy việc dỡ bỏ trừng phạt. Tuy nhiên, di sản ngoại giao này đã hoàn toàn bị đảo ngược dưới thời Tổng thống Donald Trump. Chủ trương của ông Trump là phải cấm triệt để các hành động làm giàu uranium của Iran, theo lẽ đó, thỏa luận năm 2015 là một thỏa thuận “lẽ ra không bao giờ nên có.”

Trên thực tế, liên quân Mỹ – Israel đã nhiều lần lên kế hoạch tấn công Iran. Những chiến dịch quân sự “đánh nhanh, thắng nhanh” hồi tháng 6/2025 và tháng 2/2026 đều là những bước đi quyết định trong tiến trình làm suy yếu Iran, trong bối cảnh những nước cờ ngoại giao, “cách mạng màu”, kích động biểu tình, khủng bố tại quốc gia này trước đó đều thất bại. Tuy nhiên, khác với những giả định đơn giản về khả năng can thiệp quân sự trực tiếp, thực tế cho thấy việc khuất phục Iran không phải là một lựa chọn dễ dàng, cả về quân sự lẫn chính trị. Iran sở hữu quy mô lãnh thổ lớn, dân số đông và năng lực quân sự đáng kể, đồng thời có khả năng triển khai chiến lược “chiến tranh bất đối xứng” thông qua các lực lượng liên minh trong khu vực. Theo lẽ đó, việc tấn công Iran, tiêu diệt hàng ngũ lãnh đạo, các nhà khoa học, những nhân vật quan trọng trong bộ máy thần quyền, kỹ trị của đất nước, đều không những không đạt được mục tiêu chiến lược, mà còn đem tới “phản ứng ngược”, góp phần cổ vũ tinh thần dân tộc trước bè lũ xâm lược ngoại bang, cũng như nâng cao niềm tin cộng đồng trong thế giới Hồi giáo. Trong hàng thập kỷ, thế giới ấy liên tục bị chia rẽ bởi những khác biệt về mặt lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, khi biểu tượng đức tin thiêng liêng tại Thánh địa Al-aqsa bị chà đạp, mạng sống của những tín đồ cùng chung một đức tin bị tước đoạt, tư tưởng Hồi giáo chính thức được đánh thức, toàn bộ thế giới Hồi giáo sẵn lòng thành lập một mặt trận chung chống Israel. Thậm chí, nội bộ Israel cũng không khỏi rơi vào trạng thái rối loạn, khi những mưu đồ chính trị của Netanyahu cũng dần bị bóc trần, tinh thần quân dân trở nên rệu rã. Những bản kế hoạch thực dân sắp sửa bước vào thời kỳ cáo chung, bị quỳ gối trước tinh thần dân tộc và những khát khao công lý.
Một yếu tố đặc biệt quan trọng là vị trí địa chiến lược của Iran, đặc biệt tại eo biển Hormuz – tuyến hàng hải thiết yếu cho nguồn cung năng lượng toàn cầu. Eo biển Hormuz đóng vai trò là điểm nghẽn quan trọng nhất đối với vận chuyển dầu mỏ, nơi vận chuyển khoảng 20% lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên hóa lỏng toàn cầu. Nơi từng là eo biển tự do lưu thông, giờ đây, sau cuộc xung đột này, đã trở thành “lá bài tẩy” trong tay Iran. Khi thời gian phong tỏa eo biển kéo dài, việc tìm kiếm các tuyến đường thương mại và cơ chế thanh toán thay thế dần trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Những tuyến đường và cơ chế thương mại này tạo thành các “nhánh” nằm ngoài hệ thống thanh toán bằng đô la Mỹ đã được thiết lập sẵn. Do đó, nếu cuộc xung đột tiếp tục kéo dài, những “nhánh” này có thể phát triển thành một “dòng chính” song song với đô la; việc các bên giao dịch định giá và thanh toán các giao dịch bằng các loại tiền tệ khác ngoài đô la Mỹ hoàn toàn có thể trở thành chuẩn mực mới, không chỉ trong thương mại dầu mỏ mà còn trong thương mại hàng hóa toàn cầu nói chung.
Theo các nhà quan sát, về phía Mỹ, dù duy trì sự hiện diện quân sự đáng kể tại Trung Đông, chiến lược của Mỹ đối với Iran chủ yếu xoay quanh răn đe, trừng phạt kinh tế và kiểm soát khu vực, thay vì tiến hành một cuộc chiến tranh tổng lực. Sự kiện xung đột Mỹ – Iran cho thấy một chiến dịch làm sụp đổ Iran sẽ đòi hỏi nguồn lực khổng lồ và kéo dài, vượt xa khả năng triển khai lực lượng hiện có trong khu vực. Mỹ có thể tiếp tục kéo dài cuộc chiến, nhưng dự kiến sẽ không thể đem lại nhiều chiến thắng đáng kể. Iran, dù bị hủy hoại bởi chiến tranh, nhưng tinh thần của người dân nơi đây vẫn sẽ luôn vững như bàn thạch. Với tinh thần tinh thần dân tộc dâng cao và những hậu thuẫn cần thiết từ thế giới Hồi giáo, quốc gia này vẫn sẽ tiếp tục là một lực cản vững chãi đối với Israel trên con đường hiện thực hóa nhà nước Đại Do Thái của mình.
Ngoài Iran, Liban cũng là một biến số buộc Israel phải đặc biệt lưu ý. Một mặt, Liban là quốc gia có cấu trúc chính trị phân mảnh và chịu ảnh hưởng của nhiều lực lượng khác nhau, khiến nó dễ trở thành không gian cạnh tranh giữa các thế lực khu vực. Khi chiếm đóng thành công Liban, Israel vừa sở hữu được không gian có thể mở rộng ảnh hưởng trực tiếp, vừa chiếm cứ được mắt xích quan trọng trong việc định hình môi trường khu vực theo hướng có lợi. Điều này giải thích vì sao Liban thường xuyên xuất hiện trong các phân tích về chiến lược dài hạn của Israel, bên cạnh những trường hợp lớn hơn như Iran.
Có thể thấy, trong suốt thời kỳ hậu Chiến tranh Thế giới thứ Hai, Trung Đông dần trở thành một khu vực lợi ích chiến lược cốt lõi của Mỹ, đặc biệt do vai trò trung tâm của nguồn tài nguyên dầu khí. Việc thiết lập ảnh hưởng tại khu vực này không chỉ giúp đảm bảo nguồn cung năng lượng, mà còn góp phần duy trì, nâng cao bản vị của đồng đô la trong hệ thống kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh đó, Israel được xem là một đồng minh then chốt, đóng vai trò như một điểm tựa chiến lược trong việc duy trì ảnh hưởng của Mỹ tại Trung Đông. Tuy nhiên, bàn cờ địa chính trị khu vực không chỉ xoay quanh Mỹ và Israel. Các cường quốc khác như Nga và Trung Quốc cũng từng bước gia tăng ảnh hưởng, thông qua việc xây dựng quan hệ với các quốc gia như Ả Rập Xê Út, Iraq hay Iran trong khoảng những thập niên 2010 đổ lại đây. Sự hiện diện của các chủ thể này đã tạo nên một cấu trúc quyền lực đa cực, khiến Trung Đông trở thành một trong những khu vực cạnh tranh địa chính trị khốc liệt nhất thế giới.
Tuy vậy, thực tế địa chính trị Trung Đông vẫn cho thấy những giới hạn rõ ràng. Các căng thẳng liên quan đến Iran cho thấy bất kỳ nỗ lực nào nhằm tái cấu trúc trật tự khu vực đều phải đối mặt với những lực cản đáng kể. Iran, với vị thế lịch sử và năng lực khu vực của mình, tiếp tục là một đối trọng quan trọng, khiến các chiến lược mở rộng ảnh hưởng trở nên phức tạp và khó đạt được kết quả nhanh chóng. Israel đang ngày càng tìm cách tận dụng triệt để các quyền lực hiện có, đặc biệt là mối quan hệ với Mỹ để củng cố vị thế và theo đuổi các mục tiêu chiến lược dài hạn. Trong quá trình này, các mục tiêu mở rộng lãnh thổ, thanh trừng sắc tộc, kìm kẹp các quốc gia thân Mỹ và lật đổ các đối thủ cạnh tranh, hướng tới thành lập nhà nước Đại Do Thái tiếp tục đóng vai trò trung tâm, trở thành một biểu hiện của những căng thẳng sâu xa hơn liên quan đến chủ nghĩa thực dân, quyền lực và trật tự khu vực.
Đến tận cùng, trường hợp Israel còn đặt ra một vấn đề đáng để suy ngẫm trong thời hiện đại: khi ý niệm về quốc gia dân tộc được đẩy đến mức cực đoan, nó có thể dẫn đến những hình thức xung đột tiếp theo ở Trung Đông. Từ lịch sử ly tán của người Do Thái đến quá trình lập quốc và khẳng định quyền lực, Israel vừa là sản phẩm của những sang chấn lịch sử, vừa là một tác nhân tham gia vào quá trình tái định hình trật tự Trung Đông. Chính sự căng thẳng giữa hai chiều này khiến Israel trở thành một trường hợp đã dấy nên không ít tranh luận trong nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân mới và quyền lực toàn cầu.■
Toàn Thắng