Tướng Leclerc và cuộc đàm phán với Việt Nam (Kỳ 1)

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Việt Nam giành được chính quyền, Pháp đã ráo riết chuẩn bị cho quá trình khôi phục ảnh hưởng bằng sức mạnh quân sự. Trong khi các cuộc đàm phán diễn ra và những thương lượng về việc công nhận nền độc lập được tuyên bố, Pháp đồng thời đẩy mạnh chính sách vừa gây sức ép quân sự, vừa tìm kiếm một thỏa thuận bảo đảm lợi ích tuyệt đối của Pháp tại khu vực này. Bài viết “Tướng Leclerc và cuộc đàm phán với Việt Nam” đăng trên Tạp chí Revue historique des Armées số 227 xuất bản năm 2002 của Trung tá người Pháp Bodinier thông qua các báo cáo của Tướng Leclerc đã phân tích rõ các ý đồ của Pháp vào thời điểm đó. Tạp chí Phương Đông dịch và giới thiệu bài viết, các từ ngữ, ý kiến trong bài được giữ nguyên văn nhằm đảm bảo tính khách quan.

*

Chính Đô đốc Thierry d’Argenlieu, người được Tướng De Gaulle bổ nhiệm giữ chức Cao ủy Pháp tại Đông Dương ngày 16/8/1945, là người chịu trách nhiệm triển khai chính sách mà chính phủ đề ra, đặc biệt nắm quyền chỉ đạo các cuộc đàm phán diễn ra với người Việt Nam. Trong cùng ngày, Tướng Leclerc được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương, ông hầu như chỉ tham gia vào các cuộc đàm phán với Việt Nam trong hai dịp: trước khi Đô đốc d’Argenlieu tới Đông Dương và trong thời gian vị Đô đốc này về Paris vào tháng 2/1945. Tuy vậy, ông vẫn phải báo cáo cho d’Argenlieu về diễn biến các cuộc đàm phán này và xin chấp thuận từ d’Argenlieu với những thỏa thuận được đề xuất. Tuy nhiên, sự can dự của Tướng Leclerc vào các vấn đề chính trị và ngoại giao lại diễn ra vào những thời điểm lịch sử quan trọng, bởi những quyết định được đưa ra khi ấy làm thay đổi đáng kể diễn biến các sự kiện.

Hạn chế quyền hạn của Tướng Leclerc trong lĩnh vực chính trị

Phải đến ngày 31/10/1945, Đô đốc d’Argenlieu mới tới Đông Dương, nhưng dù ở Paris hay Chandernagor, ông đều nhất quyết chỉ đạo trực tiếp quá trình khôi phục quyền lợi của Pháp tại Đông Dương.

Tướng Leclerc đón Đô đốc d’Argenlieu tới Sài Gòn ở sân bay Tân Sơn Nhất ngày 31/10/1945. Ảnh chụp bởi Claude Le Ray

Trong bản báo cáo gửi Đô đốc ngày 28/8/1946, Tướng Leclerc viết: “Tất cả những người có năng lực (…) đều nhất trí nhấn mạnh mọi yêu sách chính thức liên quan đến Đông Dương đưa ra quá sớm sẽ gây ra mối nguy hiểm. Toàn bộ vấn đề thực chất là việc thực thi”. Nói cách khác, ông muốn được trao quyền tự do hành động, để có thể “tận dụng tốt nhất những hoàn cảnh thuận lợi[1]”. Ngày 7/9, ông kết thúc bản báo cáo như sau: “Trong nhiều tuần sắp tới, chính tôi là người gánh phần lớn trọng trách. Vì vậy, điều cần thiết là tôi phải có những quyền hạn phù hợp[2]”. Leclerc khi đó đề cập đến vấn đề chỉ huy kép như sau: “Việc nghiên cứu tình hình ngày càng chỉ ra rõ rằng, trong giai đoạn đầu, sẽ tốt hơn nếu một người tập trung nắm trong tay cả quyền lực dân sự và quân sự, bởi trong thời kỳ đầu, hành động quân sự và hành động chính trị hoàn toàn gắn liền với nhau”.

Đề xuất và nhận xét này không được Đô đốc d’Argenlieu đánh giá cao. Vốn là người coi trọng quyền hạn của mình, ông đã gửi cho Tướng Leclerc chỉ thị ngày 15/9, trong đó giới hạn vai trò của Leclerc ở phạm vi quân sự.

Tuy vậy, vị Đô đốc đã viết trong cuốn “Hồi ký” của mình rằng xét về vấn đề khôi phục các quyền lợi của Pháp ở Đông Dương, ông và Tướng Leclerc có sự đồng thuận với nhau hoàn toàn. Dù vậy, Leclerc là người thiếu kiên nhẫn và thường xuyên đề cập tới việc tái xâm lược. Trong một bài phát biểu trong chuyến thăm tới Kandy, Tướng Leclerc từng tuyên bố: “Nếu cần thiết, vũ khí sẽ lên tiếng[3]”.

Tướng Leclerc nhìn nhận tình hình Đông Dương ra sao khi tới Ceylan?

Ngày 22/8/1945, Leclerc tới Kandy, nơi đặt Tổng hành dinh của Mountbatten – Tư lệnh Đồng minh Tối cao của Bộ Tư lệnh Đông Nam Á (SEAC), ngay ngày 24/8, Tướng Leclerc đã gửi bản báo cáo đầu tiên. Ông cho biết mình đang có 400 quân, trong khi ở miền Bắc Việt Nam đang nổi lên một cuộc cách mạng. Vì vậy, ông cho rằng không nên đưa lực lượng này mạo hiểm tiến vào Hà Nội mà sẽ điều họ sang Lào để hỗ trợ các lực lượng du kích Pháp. Mục tiêu trước mắt là giành lại thế trận tại phía nam vĩ tuyến 16, tận dụng việc quân Anh đổ bộ. Chỉ khi có những lực lượng tăng viện từ Pháp tới, người Pháp mới có thể từng bước tiến hành tái chiếm miền Bắc Đông Dương. Trong thời gian chờ đợi, ông sẽ cho thả dù tất cả những gì có thể thả xuống vùng đó. Ông bổ sung: “Tiến hành đàm phán chính trị với các nhân vật bản xứ tùy theo diễn biến tình hình”. Trong báo cáo này, Tướng Leclerc có nhắc tới kế hoạch về nền độc lập của Việt Nam do Bảo Đại gửi tới Tướng De Gaulle và Tổng thống Truman. Ông không nhắc tới Chủ tịch Hồ Chí Minh hay lực lượng Việt Minh bởi lúc đó họ mới chỉ vừa giành được chính quyền: 19/8 tại Hà Nội, 23/8 tại Huế và 25/8 tại Sài Gòn. Ngày 2/9, tức ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tuyên bố độc lập, Tướng Leclerc đang dự lễ đầu hàng của quân Nhật Bản tại Tokyo.

Trong bản báo cáo thứ hai ngày 28/8, sau khi có thêm thông tin về tình hình Đông Dương, Tướng Leclerc cho rằng nhận định ban đầu của mình đã được xác nhận: “Nghĩa là không thể nắm quyền kiểm soát đất nước này với những lực lượng hạn chế (…) Chỉ có một phương tiện duy nhất để khôi phục quyền làm chủ của Pháp tại Đông Dương, đó là cần có một lực lượng vũ trang tại chỗ. Đừng coi rằng đó chỉ là phản xạ của một người lính và thuần túy mang tính quân sự, chưa bao giờ tôi cảm nhận rõ như trong những ngày vừa qua rằng: xét cho cùng, mọi tranh luận ngoại giao đều quy về việc có hay không có lực lượng quân sự. Tất cả những người am hiểu Đông Dương đều nhất trí rằng nếu lực lượng quân đội đông đảo và được trang bị tốt xuất hiện thì thái độ của toàn bộ thành phần chống đối sẽ thay đổi nhanh chóng”. Vì vậy trước hết cần “giải quyết vấn đề ở phía nam vĩ tuyến 16”, sau khi lập được trật tự tại khu vực này thì tiếp tục tiến quân lên phía bắc.

“Cần phải tận dụng tốt hoàn cảnh: tình trạng đối nghịch giữa các vị vua khác nhau trong Liên bang Đông Dương, khuynh hướng đối lập giữa các đảng phái chính trị khác nhau ở xứ này, nỗi mệt mỏi mà những đoàn quân Trung Hoa tạo ra, những sai lầm do kẻ thù hoặc đồng minh của chúng ta gây nên… Chỉ có một điểm duy nhất có thể được chấp thuận, đó là quyết định trao cho Liên bang Đông Dương quyền tự trị rộng rãi. Ngoài tuyên bố này ra, mọi tuyên bố khác đều gây bất lợi vì có thể được diễn giải và khai thác để chống lại Pháp”.

Tướng Umezu Yoshijiro – Tổng tư lệnh Lục quân Nhật Bản ký hiệp ước đầu hàng tại vịnh Tokyo ngày 2/9/1945. Ảnh: Getty Images

Những tiếp xúc đầu tiên với những người theo chủ nghĩa dân tộc An Nam

Tướng Leclerc không nhận được chỉ thị cụ thể về cách thức tiến hành đàm phán với phía Việt Nam. Tuy nhiên, ông được chuyển bức điện mang thông điệp từ Bảo Đại mà René Pleven gửi Tướng De Gaulle ngày 27/8, khi De Gaulle đang ở Hoa Kỳ. Bức điện này có thể đã định hướng cho Leclerc, trong đó Pleven đề nghị không sử dụng Bảo Đại theo cách thức cũ: “Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển tiếp này, sẽ kéo dài sự hiện diện chưa được củng cố vững chắc của chúng ta, sẽ là bất lợi nếu để Bảo Đại và chính quyền của ông ta tự giam mình trong thể thức chẳng còn đường lui, bởi trong trường hợp đó, xung đột giữa họ và ta sẽ bùng nổ ở phương diện nguy hiểm nhất cho hành động của nước Pháp trong tương lai. Đó là lý do vì sao tôi xin phép được đề nghị rằng trong các tuyên bố của ngài, tuy không đề cập đến nền độc lập, hãy thể hiện lòng đồng cảm, thấu hiểu của Pháp đối với những nguyện vọng tự nhiên của dân tộc An Nam”.

Ngày 16/9, Tướng De Gaulle gửi những chỉ thị cụ thể tới Đô đốc d’Argenlieu, và Tướng Leclerc cũng nhận được những chỉ thị này. Ông yêu cầu khẩn trương cử Tướng Leclerc tới Sài Gòn, ngay cả khi chỉ có một nhóm nhỏ binh lính đi cùng, đồng thời cử Tướng Alessandri tới Hà Nội cùng những lực lượng quân Pháp đã rút sang Trung Quốc. De Gaulle nói thêm: “Không được đưa ra và cũng không để ai khác đưa ra bất kỳ cam kết nào dưới bất kỳ hình thức nào với người An Nam. Có thể chấp nhận một vài buổi gặp mặt với điều kiện đó là những cuộc tiếp xúc trực tiếp không có thêm bất kỳ trung gian nào, dù là Anh, Trung Quốc, Mỹ (…) Lợi ích của nước Pháp là không giải quyết bất kỳ vấn đề gì liên quan đến các chính quyền địa phương ở Đông Dương chừng nào chúng ta chưa buộc phải làm điều đó. Tốt hơn trăm lần là để toàn bộ tình hình giữ nguyên hiện trạng cho tới thời điểm đó, cả khi tình hình chuyển hướng bất lợi cho chúng ta, còn hơn là trong thế yếu (tạm thời) mà chấp nhận những thỏa thuận với bên đang ở thế mạnh, trong đó người nước ngoài có quyền tham dự; những thỏa thuận như vậy đồng nghĩa với thảm họa”.

Vào thời điểm này, những cuộc đàm phán với người Việt Nam có thể đã thông qua hai đại diện ở Đông Dương là Jean Sainteny và Jean Cédile. Sainteny tới Hà Nội ngày 22/8, nhưng trong một thời gian dài, ông chưa thể tiến hành đàm phán mà chỉ có thể thực hiện các cuộc gặp mặt tiếp xúc với Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, ông nhận chỉ thị từ Đô đốc d’Argenlieu. Cédile nhảy dù xuống miền Nam, tới Sài Gòn ngày 24/8 và nhanh chóng liên hệ với Xứ ủy Nam Kỳ. Ngày 17/9/1945, ông báo cáo với Tướng Leclerc rằng các đại biểu của Xứ ủy kiên quyết giữ từ “độc lập”, nhưng cũng tuyên bố rằng nếu Pháp chấp nhận nền độc lập đó thì Việt Nam sẽ dành cho Pháp vị thế đặc biệt và vai trò quyết định đáng kể ở Đông Dương.

Ngày 23/9/1945, Trung đoàn Bộ binh Thuộc địa số 11 chiếm quyền kiểm soát các tòa nhà hành chính ở Sài Gòn, phía Việt Minh phải rút lui. Tướng Leclerc bác bỏ những yêu cầu của Việt Nam: “Không thể làm gì với những người này, họ chỉ hiểu khi có sức mạnh tác động; và trước hết nếu ta không khôi phục được vị thế của Pháp ở Đông Dương, thì sẽ chẳng đạt được gì cả. Phải cho họ bài học thực sự, rồi có lẽ sau đó chúng ta mới có thể đàm phán”. Vào thời điểm đó, Tướng Leclerc dường như chưa xác định một đường lối cụ thể cho các cuộc đàm phán với phía Việt Minh. Thậm chí ông liên tục chuyển từ lập trường hết sức cứng rắn sang thái độ hòa dịu hơn, hướng về một giải pháp bằng cách thương lượng.

Ngoài ra, ông sẽ tìm cách làm thay đổi lập trường của Chính phủ, theo một đề nghị mà Mountbatten đưa ra với ông. Ngày 25/9, ông đề nghị Mountbatten “đưa ra một tuyên bố, tuy không hoàn toàn rút lại tuyên bố ngày 24/3… sẽ thể hiện ý định của nước Pháp về việc trao cho người An Nam nền chính trị tự trị rộng rãi. Đô đốc Mountbatten đã nói rõ rằng cách làm này tạo điều kiện thuận lợi cho chính sách của Anh với vấn đề ở vùng Bretagne và cho phép giải quyết một số khó khăn tương tự với những khó khăn của chúng ta”. Tướng De Gaulle trả lời rằng ông không cho rằng cần thiết thậm chí cũng không thích hợp khi đưa ra một tuyên bố vượt quá tuyên bố ngày 24/3.

Ưu tiên cho hành động quân sự

Nhưng đối với Tướng Leclerc, điều quan trọng nhất là thực thi hành động quân sự nhanh chóng với lực lượng đủ mạnh. Ông không ngừng yêu cầu gửi lực lượng như vậy tới cho mình. Như vậy, ngày 18/9/1946, ông viết cho Tướng De Gaulle và Đô đốc d’Argenlieu: “Trong tình hình hiện nay, ở vùng này, trước thái độ của người Mỹ và người Trung Quốc đang thi hành chính sách của họ, một mặt, nhất định phải tiến hành những cuộc đàm phán ngoại giao mạnh mẽ nhằm buộc người Trung Quốc đưa ra lập trường rõ ràng. Mặt khác, cần nhanh chóng đưa một lực lượng đáng kể tới Đông Dương, nếu không chúng ta sẽ mất Bắc Kỳ, bất kể những thỏa thuận ngoại giao đã hứa”.

Trong khi Leclerc liên tục nhấn mạnh về các cuộc đàm phán cần tiến hành với người Trung Quốc, ông lại không tính đến việc bắt đầu các cuộc đàm phán tương tự với người Việt Nam. Theo ông, vấn đề Đông Dương trước hết là một vấn đề Trung Quốc và vấn đề Chính phủ Việt Nam sẽ vẫn là thứ yếu cho đến ngày 6/3/1946. Để khôi phục các quyền của Pháp, chỉ cần giành lại chỗ đứng bằng việc sử dụng biện pháp quân sự tại Đông Dương. Ngày 7/9/1946, ông viết cho Đại tá De Guillebon rằng điều này tương đối dễ dàng ở phía Nam vĩ tuyến 16, nhưng ở phía Bắc thì khó khăn hơn nhiều. Vì vậy ông không chấp nhận những đề xuất có phần mạo hiểm của Trung tá De Crèvecoeur. Ngày 13/9, Trung tá này đã đề nghị chiếm Hòn Gai với số quân khoảng 1.000 người. Thông qua cảng này, sau đó người ta sẽ đưa gạo vào miền Bắc Việt Nam, nơi tình hình lương thực đang thảm khốc, điều này sẽ cho phép Pháp “ngay lập tức giành lại một vị trí vượt trội ở Bắc Kỳ. Từ vị trí này, trong tương lai, mọi khả năng đều có thể xảy ra”. Sainteny cũng đã lưu ý về “tầm quan trọng khi gạo được đưa đến bằng các tàu chở hàng của Pháp (…). Ngoài những nhu cầu cấp thiết, những chuyến nhập khẩu này sẽ kèm theo hệ quả chính trị to lớn”.

Trong tình thế quân Pháp tìm cách chiếm các tòa nhà hành chính ở Sài Gòn, người dân nhất tề tham gia tổng khởi nghĩa ngày 23/9/1945. Ảnh tư liệu

Tuy nhiên, không vì thế mà Tướng Leclerc phó mặc vùng phía bắc Đông Dương cho số phận. Trong báo cáo ngày 25/9/1945 gửi Tướng De Gaulle và Đô đốc d’Argenlieu, ông cho biết sẽ “ủng hộ những nhóm người Pháp, Lào và An Nam trung thành” – những người bày tỏ ý định không để nước Pháp bị loại khỏi miền Bắc Đông Dương. Ngay khi có thể, Pháp sẽ đưa lực lượng tới những địa điểm và trung tâm quan trọng, cho phép kiểm soát cả vùng này. Nhưng không thể trông chờ vào những lực lượng đã rút sang Trung Quốc vì số lượng quá ít và một bộ phận trong số họ không đáng tin cậy, hơn nữa người Trung Quốc sẽ không cho phép họ can thiệp. Tuy nhiên, quá trình trở lại của nước Pháp có thể được hậu thuẫn bởi niềm lo lắng do tình hình chiếm đóng của Trung Quốc gây nên, chính phủ Việt Nam đã bộc lộ một vài ý định muốn đàm phán với nước Pháp.

Do đó, Tướng Leclerc quyết định tập trung nỗ lực quân sự vào miền Nam, hơn nữa điều này phù hợp với những chỉ thị của Tướng De Gaulle: “Tôi quy định trước hết phải giành chỗ đứng tại Nam Kỳ và Campuchia. Ông ấy sẽ chỉ tiến vào Trung Kỳ sau đó. Còn đối với Bắc Kỳ, ông ấy chỉ đưa lực lượng tới đó theo lệnh của tôi và tôi chỉ muốn đưa ra mệnh lệnh một khi tình hình đã sáng tỏ, khi dân chúng đã chán ngán sự hiện diện của người Trung Quốc, khi quan hệ giữa Sainteny và Hồ Chí Minh được thiết lập”, và của Đô đốc d’Argenlieu, ngày 15/9,  ông viết rằng việc thiết lập lại sự hiện diện của Pháp phải được tiến hành từ những căn cứ an toàn như Campuchia, Lào, Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ.

Về việc tham khảo ý kiến người Đông Dương: “Đó phải là những cuộc thảo luận chứ không phải mặc nhiên thừa nhận ngay từ đầu những luận điểm của những người mà tình thế rối ren và hoàn toàn vô chính phủ dẫn tới những phản ứng với thái cực khác nhau. Vì vậy, chúng ta phải thiện chí thảo luận với những đại diện có đủ tư cách của các cộng đồng dân cư Đông Dương, với điều kiện những cuộc thảo luận đó diễn ra trong bình tĩnh và không có bất kỳ sự tống tiền hay đe dọa nào. Những cuộc trao đổi quan điểm như vậy phải cho phép chúng ta thực hiện những điều chỉnh cần thiết với quy chế mà Chính phủ Pháp dự định xây dựng. Chính trong tinh thần đó, chúng ta phải tiếp xúc với Việt Minh thông qua các đại diện của Pháp, những người không phải là các đại diện toàn quyền mà được coi là những sứ giả có nhiệm vụ trung thành truyền đạt tư tưởng của Chính phủ. Ngay khi có thể, trong cùng những điều kiện đó, chúng ta sẽ tiếp xúc với các đảng phái chính trị An Nam khác”.

Cuối tháng 9, Tướng Leclerc yêu cầu Đô đốc rằng ngay từ khi bắt đầu các hoạt động quân sự phải thực hiện “một chính sách thực chất và hữu hiệu: đưa các nhà quản lý người Pháp và người An Nam vào vị trí, tham khảo ý kiến các nhân sĩ bản địa… nhằm chứng minh cho toàn bộ phần còn lại của Đông Dương và đặc biệt là Bắc Kỳ rằng tuyên bố ngày 24/3 của Tướng De Gaulle không chỉ là một bài diễn văn suông”.

Ngày 3/10/1945, Cédile và Trung tá Repiton-Preneuf gặp các lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ. Hai cuộc họp khác diễn ra vào ngày 6 và 8/10, nhưng đều thất bại vì các đại biểu dân tộc chủ nghĩa nhất quyết yêu cầu Việt Nam phải được độc lập ngay lập tức. “Về kết quả của những cuộc thương lượng đang diễn ra, Trung tá Repiton-Preneuf kể lại, Leclerc không hề ảo tưởng. Sau này, ông sẽ rất chú ý đến những khả năng chính trị, nhưng hiện tại ông chỉ lơ đãng lắng nghe lời giải thích trong cuộc trao đổi với Cédile. Ông biết rằng các giá trị đã bị bóp méo đến mức không thể tiến hành bất kỳ nỗ lực nào trước khi chúng được khôi phục một cách rõ ràng: việc khôi phục đó chính là nhiệm vụ trước mắt của ông, một nhiệm vụ cấp bách nếu ông muốn đi trước những lực lượng đang ngày càng tập trung chống lại mình”.

Trong khi mong muốn những nguyên tắc của bản tuyên bố ngày 24/3/1945 được áp dụng rộng rãi, khi tới Sài Gòn (ngày 5/10), Leclerc từ chối đàm phán ngay với những người theo chủ nghĩa dân tộc. Đối với ông, điều quan trọng trước hết là giành lại quyền kiểm soát ở phía Nam, rồi sau đó mới có thể tiến hành các cuộc đàm phán trên cơ sở lành mạnh. Ngày 13/10, ông viết cho Tướng De Gaulle: “Sẽ là một sai lầm tuyệt đối nếu đàm phán một cách hào phóng với những đại diện của Việt Minh trước khi chúng ta chứng tỏ được sức mạnh của mình”, và trong một báo cáo ngày 19/10, ông đề nghị truyền đạt cho Tướng De Gaulle kết luận của báo cáo này: “Một giải pháp hòa bình chắc chắn là giải pháp duy nhất có thể đạt kết quả. Giải pháp đó chỉ có được nếu một mặt chúng ta khôi phục uy tín của mình bằng một cuộc phô diễn lực lượng mạnh hơn nhiều so với những gì chúng ta đã giả định từ vài tuần trước, và mặt khác, hành động ngoại giao của chúng ta phải cực kỳ hiệu quả, đặc biệt là đối với Washington”.

Ngày 27/10, Tướng De Gaulle trả lời bức thư đầu tiên: “Quan điểm của ông là đúng. Chúng ta không có gì để kết luận với những người bản xứ chừng nào chúng ta chưa có sức mạnh. Cho tới lúc đó, chúng ta có thể thận trọng và tùy cơ hội mà tiến hành một số cuộc tiếp xúc, nhưng chỉ có vậy”.

Đó cũng là ý tưởng mà ông trình bày với các cấp dưới của mình, nhưng theo cách thẳng thắn hơn nhiều. Trong một bức thư viết tay ngày 13/10 gửi Đại tá De Guillebon, Tham mưu trưởng của ông vẫn đang ở Paris, ông viết: “Đây thực sự là một cuộc tái chiếm, bởi các cuộc đàm phán với người Java chỉ là trò hề”, và trong một bức điện gửi ông này ngày hôm sau: “Tình hình Nam Kỳ và Campuchia đang được cải thiện từng ngày, tất cả đều đòi hỏi phải phô trương lực lượng, những lực lượng sẽ được đưa tới ngay khi nhóm Jacques Massu đến. Đông Dương có thể và phải là của Pháp trở lại. Đây không phải lúc nhượng bộ khi sức mạnh của chúng ta còn có thể phát huy”.

Trong một bức điện ngày 20/10, ông phân tích tình hình như sau: “Chính phủ Việt Minh đã tiến hành vũ trang để nắm quyền với sự hỗ trợ của Nhật Bản. Quần chúng vô tổ chức, bị khủng hoảng, đang mong muốn khôi phục quyền lực của Pháp, quyền lực duy nhất có thể đem lại trật tự và kỷ luật, đồng thời cho phép tiến hành tham vấn dân chúng theo ý định thường được chính phủ Pháp bày tỏ (…). Chúng tôi cho rằng tình hình sẽ được tái thiết lập theo hướng có lợi cho chúng ta ngay sau khi loại bỏ các nhóm phá hoại”.

Trong một bức thư ngày 24/10, ông viết rằng tại Hà Nội có một “thỏa thuận toàn diện giữa người Trung Quốc, người An Nam và những người Mỹ. Đây là khung cửa hẹp mà chúng ta khó lòng đi qua. Biện pháp duy nhất là phương pháp mà tôi đã chỉ ra trong lá thư cuối cùng gửi De Gaulle”. Ông cũng đưa ra những tuyên bố tương tự với tướng Salan, người tới Sài Gòn ngày 23/10: “Từ Tchad, sau lời tuyên thệ ở Koufra, sau Strasbourg, giờ sẽ là Hà Nội; chúng ta phải thu hồi những vùng lãnh thổ thuộc về Pháp; lực lượng viễn chinh là công cụ của công cuộc này”.

Tướng De Gaulle dự kiến đưa 50.000 quân tới Bắc Đông Dương và tiến hành một chiến dịch “tấn công chớp nhoáng” nhằm vào Hà Nội, đặc biệt để bảo vệ tính mạng của 14.000 người Pháp đang sinh sống tại đó, bằng một cuộc đổ bộ bằng dù xuống thành.

Ý chí khôi phục quyền lực của Pháp tại Đông Dương đột ngột – mà cuộc phô trương sức mạnh ngày 15/10 chống lại vị Thủ tướng Campuchia theo chủ nghĩa độc lập Sơn Ngọc Thành là ví dụ – không được Đô đốc d’Argenlieu đánh giá cao. Đô đốc vốn rất “bực bội” với Tướng Leclerc vì ông này đã khuyên ông trì hoãn việc tới Đông Dương trong nhiều tuần, cho tới khi tình hình miền Nam được bình định. Ông thể hiện rõ mình không hài lòng khi thấy Leclerc lập một bộ tham mưu đặc biệt cạnh Cao ủy và đã quyết định tước bỏ một phần quyền hạn quân sự của Leclerc.

Trong một bức thư viết ngày 25/10, ông cho rằng Leclerc dường như “phản đối nói về việc tái chiếm (…) Theo ý kiến của tôi, sẽ là một sai lầm chính trị nghiêm trọng – trên cả phương diện đối nội lẫn đối ngoại – nếu cứ khăng khăng theo ý tưởng này mà không sửa chữa nó. Chúng ta phải thể hiện sức mạnh, mạnh mẽ nhất có thể và sớm nhất có thể, nhưng với mong muốn sâu sắc là không phải dấn thân vào một cuộc chiến tranh quy mô lớn (…). Chúng ta hãy biết kiềm chế những nhiệt huyết chính đáng của mình để tránh làm tổn hại đến tương lai bằng những cuộc đổ máu giữa người Pháp và người An Nam”.■ (Còn tiếp)

Gilbert Bodinier

Lê Hằng Nga (dịch)

Chú thích:

[1] 239 K 4 và 4 Q 78 d.2 trong G.Bodinier, Le retour de la France en Indochine, 1945 – 1946, Textes et documents, Service historique de l’armée de Terre, 1987, tr.153

[2] Thierry d’Argenlieu, Chronique d’Indochine, 1945 – 1947, 1985, tr.418

[3] J.Sainteny, Histoire d’une paix manquée, Indochine, 1945-1947, 1967, tr.103

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN