Nhân dịp Quốc khánh 2/9, Tạp chí Phương Đông giới thiệu với bạn đọc một trích đoạn trong cuốn sách Vietnam 1945: The Quest for Power xuất bản năm 1995 của sử gia David G. Marr, trang 520 – 539, tái hiện không khí ngày 2/9/1945 tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Dựa trên nhiều nguồn tài liệu đương thời, trích đoạn này cung cấp thêm thông tin về những diễn biến của ngày Quốc khánh đầu tiên của nước ta, cho thấy tâm trạng hân hoan và niềm tin vào Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lan tỏa trong nhiều tầng lớp xã hội. Tác giả cũng đặt những khoảnh khắc xúc động, thiêng liêng ấy trong bối cảnh chính trị và ngoại giao phức tạp của Việt Nam ngay sau Cách mạng Tháng Tám, khi chính quyền mới vừa ra đời và tương lai đất nước vẫn đứng trước nhiều bất định.
*
Trong khi chính phủ lâm thời ở Hà Nội đã ấn định Chủ nhật, ngày 2 tháng 9, là ngày tổ chức lễ kỷ niệm nền độc lập quốc gia của Việt Nam, các nhóm Việt Minh trên khắp cả nước đã khẩn trương tận dụng vài ngày ít ỏi còn lại để tổ chức những lễ kỷ niệm sao cho thật ấn tượng.
Tại Sài Gòn, Quảng trường Norodom, ngay phía sau nhà thờ chính tòa, được chọn làm địa điểm tổ chức một cuộc mít tinh lớn, nơi người dân có thể nghe trực tiếp bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua sóng phát thanh từ Hà Nội, được truyền đến đám đông bằng loa phóng thanh. Tuy nhiên, những người tổ chức hẳn cũng cảm thấy bầu không khí trong thành phố rõ ràng kém vui vẻ và có phần căng thẳng hơn so với các cuộc biểu tình ngày 25 tháng 8, chủ yếu do những tin đồn dai dẳng về việc người Pháp sắp trở lại và những lời cáo buộc gay gắt giữa các nhà lãnh đạo của nhiều nhóm chính trị Việt Nam khác nhau.

… Đối với các hoạt động kỷ niệm ở Sài Gòn ngày 2/9, người ta thống nhất rằng các tổ chức tham gia sẽ tập hợp tại những địa điểm khác nhau trong thành phố, mang theo vũ khí như trong cuộc biểu tình ngày 25/8, hành quân đến Quảng trường Norodom, lắng nghe bài phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Hà Nội, sau đó diễu hành có tổ chức qua các đường phố trung tâm[1]. Khi nghe tin phái đoàn Đồng Minh có thể đến trong ngày hôm đó, người ta chuẩn bị thêm các biểu ngữ bằng tiếng Anh và treo ngang qua các con phố, với những khẩu hiệu: “Đả đảo phát xít và thực dân!”; “Việt Nam đã chịu đau khổ và đổ máu dưới ách đô hộ của Pháp!”; “Liên Xô và Hoa Kỳ muôn năm!”; và “Việt Nam độc lập muôn năm!”[2]. Sáng ngày 2/9, trước khi bất kỳ hoạt động chính thức nào được lên lịch, hơn 500 thanh niên Việt Nam mang theo súng săn, kiếm và giáo tre đã biểu tình trước một trong những trại quân sự nơi lính Pháp vẫn đang bị người Nhật giam giữ. Phản ứng trước sự “khiêu khích” này, những người lính Pháp bên trong trại đã treo một số lá cờ tam tài, hát vang quốc ca Pháp và chửi mắng qua hàng rào. Mặc dù người Nhật đã tăng cường lực lượng để bảo đảm cuộc đối đầu này không vượt khỏi tầm kiểm soát, những người Pháp tham gia vẫn tin rằng các đặc vụ Nhật đã xúi giục và có thể còn trực tiếp chỉ huy toàn bộ cuộc biểu tình[3]. Một nguồn gây khó chịu khác đối với những người Pháp bị giam giữ là lúc này người Nhật cho phép tù binh người Anh, Australia, Hà Lan và Mỹ tự do đi lại, trong khi họ vẫn tiếp tục bị giam. Các tù binh Đồng minh đôi khi còn cho người Pháp mượn quần áo đặc trưng của họ để giúp người Pháp có thể đi lại mà không bị lăng mạ hoặc đe dọa[4].
Đến trưa, trong thời tiết cực kỳ nóng và ẩm, vài trăm nghìn người đã tập trung tại Quảng trường Norodom, và còn nhiều người hơn nữa chen chúc trên các con phố kế bên. Người dân đô thị chăm chú nhìn những nhóm nông dân chân đất từ nông thôn tới, trong khi người dân nông thôn tò mò ngắm những cô gái Sài Gòn ăn mặc thời trang. Trên đường Catinat gần đó, đã được đổi tên thành đường Công xã Paris, một đội thanh niên gồm tám người, mặc áo sơ mi trắng, quần dài, đi giày đen, mang súng lục, chậm rãi bước nhịp nhàng dưới ánh nhìn chăm chú của hàng nghìn người đứng xem[5]. Tại quảng trường, với sự hỗ trợ của micro và loa phóng thanh, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, với tư cách là Bộ trưởng Y tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), tuyên thệ rằng chính phủ trung ương sẽ trung thành với chương trình của Mặt trận Việt Minh và kiên quyết bảo vệ nền độc lập và thống nhất của đất nước. Ông Nguyễn Văn Nguyễn, đại diện nhánh miền Nam của Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh, hiệu triệu quần chúng thề không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, và không đưa đường cho Pháp[6].
Đến 2 giờ chiều, người dân chen chúc sát hơn về phía loa phóng thanh để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Hà Nội. Tuy nhiên, việc tiếp sóng không thể thực hiện được như dự kiến[7]. Sau 20 phút chờ đợi, người dân bắt đầu sốt ruột lẩm bẩm: “Có kẻ phá hoại!”. Nhận thấy cần phải thay đổi chương trình, ông Trần Văn Giàu, trong bộ vest và cà vạt đỏ đi mượn, cầm micro lên để kêu gọi đồng bào, trong đó ông cảnh báo một số kẻ phản quốc đang trở nên ngang nhiên, gây rối cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gây rối nhằm tìm cho phe nghịch một cơ hội xâm lăng. Ông đe dọa rằng những kẻ đó sẽ bị “tòa án nhân dân trừng trị thẳng tay”[8]. Trong khi đó, nhiều người trong đám đông khó chịu khi thấy hàng chục khuôn mặt người Pháp đang quan sát họ từ các ban công tầng trên của bưu điện trung tâm, hãng xe Jean Compte và nhà xứ Công giáo nằm cạnh nhà thờ chính tòa. Khi quần chúng nhiệt liệt vỗ tay trước những lời kêu gọi độc lập cho Việt Nam, những người Pháp từ chối hưởng ứng[9].
… Lúc 3 giờ chiều ngày 2/9, một đội OSS gồm bốn người từ Miến Điện hạ cánh xuống một đường băng gần sân bay chính của Sài Gòn, với nhiệm vụ tìm kiếm các tù binh Mỹ và thường dân bị giam giữ. Người Nhật tiếp đón đội này một cách kính trọng và đưa họ đến khách sạn Continental ở trung tâm thành phố, nơi các tù binh cung cấp thông tin cho họ về những sự kiện đã xảy ra và hết lời ca ngợi sự giúp đỡ của người Pháp trong những năm tháng tù đày gian khổ. Sau đó, đội OSS báo cáo về sở chỉ huy: “[Các tù binh] hoàn toàn đứng về phía người Pháp và nhiều người nói rằng họ muốn ở lại để giúp đỡ người Pháp”[10]. “Chủ nhật Đen”, như người Pháp ngay lập tức bắt đầu gọi ngày 2/9 ở Sài Gòn, đã gióng lên hồi chuông báo tử cho bất kỳ giải pháp thỏa hiệp nào ở miền Nam. Các lãnh đạo Việt Minh quả quyết, và có lẽ chính họ cũng tin, rằng các đặc vụ Pháp đã bắn xuống đoàn người diễu hành nhằm làm mất uy tín của nền Dân chủ Cộng hòa ngay trước thềm quân Đồng Minh đến. Người Pháp nhanh chóng tự thuyết phục mình rằng hoặc “cảnh sát” Việt Minh, hoặc những tù nhân vừa được người Nhật thả khỏi Côn Sơn, phải chịu trách nhiệm cho toàn bộ sự việc[11]. Một phiên bản của sự kiện từ phía Pháp đã đến tay người Anh ở Rangoon chỉ vài giờ sau đó, có thể thông qua máy vô tuyến của đội OSS, trong đó có lời khẳng định rằng ít nhất 100 thường dân Pháp đã bị thảm sát. SEAC truyền lệnh nghiêm khắc yêu cầu Thống chế Terauchi phải lập tức khôi phục trật tự[12]. Tướng Gracey và bộ tham mưu của ông chắc chắn càng có xu hướng bác bỏ bất kỳ đề xuất nào về việc hợp tác với Ủy ban Hành chính Lâm thời khi họ đến nơi.

… Một số trung tâm cấp tỉnh cũng tổ chức lễ kỷ niệm Ngày Độc lập. Chẳng hạn, tại Tân An ở Đồng bằng sông Cửu Long, một nhóm thanh niên mượn một chiếc radio từ bác sĩ thú y địa phương để cố bắt được bài phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Hà Nội. Tuy nhiên, đúng lúc đó, máy phát điện không thể khởi động được, họ thất vọng và đành hài lòng với nhạc yêu nước, lễ kéo cờ và chào mừng ủy ban nhân dân mới. Mãi rất lâu sau đó, người dân Tân An mới nhận ra rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc[13].
Tại Huế, vào sáng sớm ngày 2/9, hai chiếc ô tô có tài xế bắt đầu lên đường về phía bắc tới Hà Nội, chở cựu Hoàng đế Bảo Đại, Hoàng tùng đệ Vĩnh Cẩn, thư ký riêng Phạm Khắc Hòe, hai người tùy tùng, vị Bộ trưởng Lao động mới của VNDCCH (vừa từ Đà Nẵng đến), cùng hai người Việt Minh có vũ trang làm nhiệm vụ hộ tống, thuộc nhóm “Thanh niên Tiền tuyến” trước đây. Tại một số điểm dừng trên đường đi, Bảo Đại đặc biệt nhận thấy các lãnh đạo ủy ban nhân dân địa phương gặp khó khăn trong việc dung hòa những lý tưởng bình đẳng mới của họ với thái độ kính cẩn truyền thống đối với nhà vua[14]. Tuy nhiên, tại bến phà sông Gianh, Bảo Đại, một người rất am hiểu và say mê sưu tầm súng săn, đã trót tỏ ra quá quan tâm đến khẩu súng của một dân quân Việt Minh đang đứng gác, khiến người này quát lớn[15]. Tại Thanh Hóa, Bảo Đại gặp Hoàng thân Souphanouvong, anh em họ của nhà Vua ở Luang Prabang, cũng đang trên đường tới Hà Nội[16]. Đến Hà Nội ngày 4, Bảo Đại được đưa tới nơi ở chính thức mới với tư cách là “cố vấn tối cao” của VNDCCH, tại số 51 đại lộ Gambetta, rồi ngày hôm sau được đưa đi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên[17].

Không khí chủ đạo của nền cộng hòa non trẻ sẽ được định hình tại Hà Nội vào ngày 2/9, trong khi biến cố bùng phát ở Sài Gòn tạo nên một nốt trầm đáng ngại. Trời trong xanh và nóng, gió thổi nhẹ từ phía tây. Nhiều người coi buổi sáng hôm đó giống như ngày Tết, họ dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, thắp hương trên bàn thờ gia tiên và đốt một tràng pháo. Các cửa hàng giảm giá hoặc hứa dành một nửa số tiền thu được để giúp đỡ quân giải phóng[18]. Vì Chủ nhật này tình cờ trùng với “Lễ Các Thánh Tử đạo Việt Nam” của Công giáo, tưởng niệm những người đã hy sinh cho đức tin của mình, đặc biệt là vào thế kỷ XIX, các nhà thờ ở Hà Nội sáng hôm đó chật kín người dự lễ. Trong một động thái có chủ ý nhằm thể hiện sự gắn kết của Giáo hội Việt Nam với chính phủ mới, sau lễ, các linh mục dẫn giáo dân qua các đường phố hướng về quảng trường rộng lớn, cách Phủ Toàn quyền cũ không xa, nơi sẽ diễn ra các nghi lễ chính của Ngày Độc lập[19]. Các sư trụ trì của một số ngôi chùa Phật giáo cũng làm như vậy. Các giáo viên mang theo còi hoặc loa phóng thanh, dẫn đầu các đoàn trẻ em hát những bài ca cách mạng. Thanh niên đặc biệt chú ý đến những lá quốc kỳ đỏ tươi do các nhóm thiếu nữ cầm trên tay nổi bật trên nền những tà áo dài trắng kín đáo.
Cũng như ngày 19/8, tức hai Chủ nhật trước đó, đông đảo người dân nông thôn đổ về Hà Nội để tham gia, nhưng lần này nhiều người đến theo từng cộng đồng làng xã do các bậc cao niên và những người Việt Minh làm công tác tổ chức dẫn đầu. Họ mặc áo dài và khăn xếp truyền thống, có người còn tự hào mang theo những thanh đao và chùy đồng dùng trong nghi lễ ở các đền chùa địa phương. Các đoàn người dân tộc thiểu số từ miền núi cũng có mặt, mang những loại mũ, váy và thắt lưng có màu sắc đặc trưng[20]. Các nhà tổ chức Việt Nam ước tính đám đông lên tới gần một triệu người; những bức ảnh chụp từ trên không của Mỹ ngày hôm đó đưa ra con số ước tính từ năm đến sáu trăm nghìn. Con số hơn bốn trăm nghìn người có vẻ khó xảy ra, nhưng ngay cả như vậy, thì đây vẫn là cuộc tập hợp đông đảo nhất từng diễn ra ở Hà Nội[21]. Một nhóm tuy không thể tham dự cuộc mít tinh nhưng vẫn có thể gián tiếp chung vui: các tù nhân thường phạm tại Nhà tù Trung ương được cấp ba con lợn để giết thịt, ăn mừng Ngày Độc lập[22].
Địa điểm tổ chức buổi lễ từng được người Pháp đặt tên là Quảng trường Puginier để vinh danh một nhà truyền đạo Công giáo nổi tiếng. Vào mùa hè năm 1945, thị trưởng Hà Nội Trần Văn Lai đã đổi tên nơi này thành Quảng trường Ba Đình để tưởng niệm một cuộc phòng thủ đặc biệt ngoan cường chống lại lực lượng thực dân Pháp vào năm 1886–1887. Tại đây có một cột cờ cao, nên người dân thường gọi nơi này là Cột Cờ. Gần đó, một lễ đài cao, trang hoàng bằng vải trắng và đỏ, vừa được dựng lên để dành cho các quan khách. Phía dưới lễ đài đặt một chiếc cồng đồng truyền thống và một chiếc trống lớn. Đội nhạc binh cũ, nay mặc quần soóc Hướng đạo sinh bảnh bao, đội mũ ca lô và đi giày da mới, khuấy động không khí bằng một liên khúc hành khúc[23]. Mặc dù hệ thống loa phóng thanh vẫn hoạt động, kế hoạch của chính phủ lâm thời nhằm phát sóng bài diễn văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên toàn quốc đã không thực hiện được vì các chốt chặn của quân Nhật ngăn không cho chiếc xe chở thiết bị phát sóng đến được quảng trường[24]. Công tác an ninh được đặc biệt chú trọng. Một đội danh dự của Giải phóng quân bao quanh lễ đài, quay mặt ra ngoài; các tổ chức được tin cậy đứng thành đội hình cách lễ đài khoảng năm mươi mét, còn công chúng đứng phía sau. Công nhân và sinh viên có vũ trang được bố trí ở tất cả các góc quảng trường, và một đơn vị tự vệ được đặt trong tình trạng sẵn sàng đối phó với bất kỳ hành động quấy rối nào từ phía Thành, nơi quân Pháp vẫn đang bị giam giữ. Trước khi cuộc mít tinh bắt đầu, binh lính Nhật trong khuôn viên Phủ Toàn quyền đã bố trí súng máy chĩa về phía quảng trường, khiến ban tổ chức phải bố trí các thành viên đơn vị tự vệ làm thành một hàng rào chắn, với mệnh lệnh thà chết chứ không rút lui[25].

Mặc dù chương trình được dự kiến bắt đầu đúng 2 giờ chiều, những chiếc ô tô Mỹ thời trước chiến tranh chở các thành viên nội các của Chính phủ VNDCCH đã đến muộn 25 phút vì phải len qua đám đông. Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn những người khác bước nhanh lên lễ đài. Trong khi hầu như tất cả các đồng sự của ông trên lễ đài đều mặc âu phục và đeo cà vạt, Chủ tịch Hồ Chí Minh mặc một chiếc áo kaki bạc màu, cổ cao và đi đôi dép cao su trắng[26] – những nét đặc trưng của ông trên cương vị nguyên thủ quốc gia suốt 24 năm sau đó. Sau khi quốc ca được cử lên, hai cô gái trẻ, Đàm Thị Loan thuộc Giải phóng quân và Lê Thi, một nữ sinh trường trung học Hà Nội, được vinh dự kéo cờ[27].
Sau đó, ông Võ Nguyên Giáp bước tới trước micro để giới thiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, người được chào đón bằng những tiếng hô vang: “Độc lập! Độc lập!” Trong vài phút, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫy tay chào đám đông, rồi ông giơ cả hai tay lên để yêu cầu mọi người im lặng. Với giọng Nghệ An đặc trưng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu đọc Tuyên ngôn Độc lập. Sau vài câu, ông dừng lại và hỏi thính giả: “Đồng bào nghe tôi nói có rõ không?” Một tiếng đáp vang dội: “Có!” Từ khoảnh khắc ấy, một mối gắn kết đặc biệt đã hình thành[28]. Ông Võ Nguyên Giáp không hề cường điệu khi nhiều năm sau viết rằng: “Bác cùng với cả biển người đã hòa làm một”[29]. Trần Trung Thành, một cán bộ tự vệ trẻ được giao nhiệm vụ theo dõi lính Nhật dùng súng máy, nhớ lại rằng mặc dù lúc đó chưa biết chính xác Hồ Chí Minh là ai, cuộc đối thoại giản dị ấy đã khiến ông rơi nước mắt, từ đó ông coi một khẩu hiệu trên biểu ngữ như lời cam kết của chính mình: “Độc lập hay Chết!”[30]. Dường như xuất hiện từ hư không, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lập tức khơi dậy lòng ngưỡng mộ và tôn kính, đáp ứng nhu cầu của người dân về một vị lãnh tụ công chính, bất khả chiến bại, thể hiện giấc mơ chung và dệt nên một huyền thoại mới. Bản ghi âm bài diễn văn này cho thấy một giọng nói chắc, vang, với tài hùng biện rõ rệt, chẳng hạn qua cách ông nhấn mạnh những từ ngữ nhất định và sử dụng những khoảng ngừng để tạo hiệu ứng kịch tính.
Bản tuyên ngôn, vốn không dài, được soạn thảo nhằm xác lập tinh thần chủ đạo của thông điệp gửi tới cả công chúng trong và ngoài nước. Mong muốn gắn hiện tại của Việt Nam với các truyền thống cách mạng thế giới trong quá khứ, đồng thời muốn thể hiện động thái ngoại giao mềm dẻo theo nhiều hướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bằng những trích dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791. Những lý tưởng về quyền sống, quyền tự do, hạnh phúc và bình đẳng sau đó được đặt trong sự tương phản gay gắt với hơn 80 năm thực dân Pháp cai trị. Hồ Chí Minh đặc biệt nhắc đến việc Pháp chia Việt Nam thành ba hệ thống hành chính, giết hại hoặc bỏ tù những người yêu nước, bán thuốc phiện và rượu cồn “làm cho nòi giống ta suy nhược”, chiếm đoạt đất đai và tài nguyên, và áp đặt “hàng trăm thứ thuế vô lý”. Mặc dù Pháp tự nhận trách nhiệm là “nước bảo hộ” Việt Nam, nhưng trên thực tế, trong vòng 5 năm, Pháp đã hai lần bán Việt Nam cho Nhật. Người dân ngày càng trở nên nghèo khổ và khốn cùng, dẫn đến nạn đói khủng khiếp hồi đầu năm, khi “hơn hai triệu đồng bào ta” bị chết đói. Khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, “nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Cùng với sự thoái vị của Bảo Đại, nhân dân cũng đã chấm dứt chế độ quân chủ kéo dài hàng nghìn năm.


Sau khi dành hơn hai phần ba bản tuyên ngôn cho một bài học lịch sử cô đọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành những đoạn cuối để nói về tình thế ngoại giao trước mắt. Ông tuyên bố Chính phủ lâm thời hủy bỏ tất cả các hiệp ước do Pháp ký liên quan đến Việt Nam và xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp. Ông cảnh báo rằng nhân dân Việt Nam “kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. Hồ Chí Minh kêu gọi các cường quốc Đồng minh công nhận quyền độc lập của nhân dân Việt Nam, theo tinh thần của các hội nghị Tehran và San Francisco. Nếu họ không làm như vậy, những lời cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố với thế giới rằng, dù thế nào đi nữa:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Sau khi tiếng vỗ tay và reo hò lắng xuống, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu từng Bộ trưởng. Tất cả đều tuyên thệ nhậm chức, hứa sẽ lãnh đạo nhân dân bảo vệ Tổ quốc và thực hiện chương trình của Việt Minh, dù bản thân phải hy sinh đến đâu[31]. Sau đó, ông Võ Nguyên Giáp bước lên để diễn giải thêm cho bản tuyên ngôn của Chủ tịch. Trong một diễn văn ứng khẩu[32], dài hơn gấp đôi diễn văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Giáp ca ngợi các bậc tiền nhân anh hùng của Việt Nam, Giải phóng quân, “trào lưu dân chủ toàn thế giới”, các giáo sĩ đạo Phật và Cơ đốc, thậm chí cả cựu Hoàng đế Bảo Đại. Ông báo trước việc tổ chức bầu cử dân chủ để lập Quốc hội, cơ quan sau đó sẽ soạn thảo hiến pháp và thành lập một chính phủ hợp pháp. Quân đội sẽ được chỉnh đốn và mở rộng, nền kinh tế được tái thiết, còn giáo dục được ưu tiên cao. Ông Giáp thừa nhận rằng Chính phủ lâm thời, do thiếu tài chính để thực hiện những nhiệm vụ này, sẽ phải dựa vào “công trái, lạc quyên, thuế lợi tức”. Chính phủ tin rằng người dân sẽ giúp đỡ, bởi “nước mất thì nhà cũng phải tan, nền độc lập và chế độ Dân chủ Cộng hòa lung lay thì quyền lợi của riêng mình cũng sẽ không toàn vẹn”. Chế độ kiểm duyệt sẽ tiếp tục được duy trì cho đến khi tình hình chính trị “đã sáng tỏ”.

Ông Giáp cũng kêu gọi sự ủng hộ của các cường quốc Đồng minh, đặc biệt là Hoa Kỳ và Trung Quốc, tuyên bố rằng “dân chúng Việt Nam đã hăng hái nổi lên đánh Nhật”, trong khi thực dân Pháp đã cộng tác với phát xít Nhật suốt thời kỳ chiến tranh. Ông dẫn lại ý của Tổng thống Roosevelt rằng sự áp bức và tàn bạo giúp ta hiểu rõ hơn ý nghĩa của tự do, và trích lời ông Tưởng Giới Thạch về khả năng xảy ra một cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Ba nếu các dân tộc Á Đông bị áp bức không được tự do và bình đẳng. Ông Giáp cũng đưa ra cho thính giả một nhận định đáng sợ nhưng cơ bản là chính xác về những tuyên bố và hành động hiện thời của chính phủ Pháp, đề cập đến việc Pháp bổ nhiệm một “toàn quyền” mới, chuẩn bị đưa quân đội trở lại Đông Dương, và âm mưu giành lại các công sở. Nếu không có lực lượng bên ngoài nào lựa chọn giúp Việt Nam ngăn chặn người Pháp bằng con đường ngoại giao, thì toàn dân sẽ phải đoàn kết để tự mình đối phó. Ông Giáp cảnh báo rằng, trong hoàn cảnh đó, “chia rẽ, hoài nghi, lãnh đạm đều là phản quốc”. Trong một viễn cảnh lớn lao, dữ dội ở phần kết, ông Giáp khẳng định: “Noi theo truyền thống của các thế hệ trước, thế hệ chúng ta sẽ đánh một trận cuối cùng để cho những thế hệ sau này mãi mãi được sống với độc lập, tự do và hạnh phúc”.
Sau bài phát biểu của ông Giáp, ông Trần Huy Liệu báo cáo với cử tọa về lễ thoái vị của Bảo Đại tại Huế ba ngày trước đó, rồi trao ấn và kiếm của hoàng gia cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là một diễn giả tài năng trước công chúng, ông Liệu dường như đã khiến đám đông cười và vỗ tay khi mô tả sự cáo chung của chế độ quân chủ. Hòa theo không khí ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố rằng thanh kiếm, trước kia được dùng để áp bức nhân dân, nay sẽ được dùng để xử lý những kẻ phản bội[33]. Sau đó, thay mặt Tổng bộ Việt Minh, ông Nguyễn Lương Bằng phát biểu ngắn gọn về yêu cầu đoàn kết và đấu tranh. Dẫn lại ý của Lenin, ông nhấn mạnh rằng giành được chính quyền đã khó, nhưng giữ vững chính quyền còn khó hơn. Thể hiện lập trường cứng rắn hơn cả Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Võ Nguyên Giáp, ông Nguyễn Lương Bằng thẳng thừng khẳng định rằng Việt Nam sẽ cần phải chiến đấu với Pháp, và “không nên ỷ lại vào ai hết”[34]. Tuy vậy, vào một thời điểm nào đó trong các hoạt động buổi chiều hôm ấy, hai chiếc tiêm kích P-38 Lightning của Mỹ sà xuống thấp trên đám đông; sự việc này lập tức được coi là một hành động chào mừng có chủ ý của Mỹ dành cho chính phủ Việt Nam non trẻ, và dân chúng cũng tin như vậy[35].
Mục cuối cùng trong chương trình là việc cử tọa cùng đọc một lời tuyên thệ trang trọng trung thành với chính phủ lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cam kết bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, “dù phải hy sinh cả tính mạng”, và hứa sẽ không tiếp tay cho Pháp trở lại xâm lược[36]. Trong một lời cảnh báo cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại cầm micro và dự đoán: “Chúng ta sẽ còn phải vượt qua nhiều sự gian lao, đau khổ hơn nữa, đồng bào phải ủng hộ Chính phủ, sau này sẽ còn nhiều cuộc khánh chúc thắng lợi nữa!”[37] Sau đó, các nhóm đã tập hợp tại quảng trường diễu hành vào trung tâm thành phố, giải tán tại Hồ Hoàn Kiếm, rồi hòa vào không khí ăn mừng chung cho đến giờ giới nghiêm[38].
*
Không nghi ngờ gì nữa, cuộc mít tinh tại Hà Nội ngày 2/9 đã gây ấn tượng sâu sắc đối với nhiều người trước đó chưa từng tham gia các hoạt động của Việt Minh. Như một nhà văn công khai chống cộng nhận xét, “rõ ràng là đa số đã chào đón Hồ Chí Minh và cộng sự của ông – những nhân vật bí ẩn và đầy uy lực xuất hiện từ các nhà tù, rừng núi, vùng cao và hải ngoại”[39]. Tại thời điểm đó, để ghi lại tinh thần của những sự kiện đang diễn ra, Trần Xuân Sinh viết: “Hồn thiêng của đất nước đã trở về cố đô trong ngày bất diệt này, và tất cả các tầng lớp xã hội của thành Thăng Long đã thể hiện tinh thần quả cảm của một dân tộc quyết tâm giành lại cuộc sống tự do của mình[40]”.
Phan Anh, cựu Bộ trưởng Bộ Thanh niên [trong chính phủ Trần Trọng Kim], trở về Hà Nội sau một thời gian ngắn bị giam giữ ở Nghệ An, kịp chứng kiến các nghi lễ của Ngày Độc lập. Ông đặc biệt chú ý đến sự cam kết kiên định của người dân Hà Nội đối với Cách mạng, một yếu tố mà ông cho rằng sẽ gây ấn tượng mạnh mẽ với các cường quốc Đồng Minh[41]. Buổi tối, một nhóm thanh niên rước rồng trên đường phố, thề uống máu kẻ xâm lăng và hô to: “Hôm nay là Ngày Độc lập!” Tại một cao lâu gần đó, một cụ già hồi tưởng lại những ngày cay đắng đầu tiên khi người Pháp chiếm đóng Hà Nội 60 năm trước, kể rằng trong suốt nhiều thập niên cụ đã không dám nói ra những suy nghĩ trong lòng mình, nhưng nay đã có thể thỏa sức hô vang: “Độc lập muôn năm!” Cụ thừa nhận không biết uống rượu, nhưng vẫn nhất quyết cùng bạn bè uống một chén, có say thì đã có cháu đưa về[42].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Thiếu tá Patti có mặt trên lễ đài chính thức trong Ngày Độc lập, nhưng Patti quyết định rằng tốt hơn hết là nên đến cùng ba đồng đội OSS với tư cách người quan sát, đứng giữa một số nhân vật địa phương có uy tín ở phía trước lễ đài. Trong khi lắng nghe người liên lạc kiêm phiên dịch của Việt Minh là Lê Xuân dịch song song bài phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Patti quan sát phản ứng của đám đông. Ông dễ dàng kết luận rằng Hồ Chí Minh “đã lay động được họ”. Đến cuối buổi chiều hôm đó, khi được cung cấp văn bản tiếng Việt của bản tuyên ngôn, Patti đã cho dịch và truyền qua vô tuyến về Côn Minh. Viết trong thư gửi bằng đường hàng không, Patti bổ sung những quan sát sống động của riêng mình. Chẳng hạn, ông mô tả dáng vẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đầu ngẩng cao, những lọn tóc và chòm râu lay động trong làn gió nhẹ, ông cất lời với sức truyền cảm mạnh mẽ”[43]. Lúc này, một số cấp trên hẳn nghĩ rằng Patti “đã trở thành người bản xứ”, nhưng họ vẫn chuyển nguyên văn các báo cáo của ông cho Giám đốc OSS William Donovan ở Washington, người đã cho tóm tắt chúng thành các bản ghi nhớ để Ngoại trưởng James Byrnes xem xét. Tuy nhiên, với vô số thứ cấp bách hơn cần đọc, có lẽ ông ta đã hoàn toàn phớt lờ chúng[44].

Jean Sainteny theo dõi từ Phủ Toàn quyền vào ngày 2/9 khi hàng chục nghìn người Việt diễu qua Đại lộ Brière-de-l’Isle (đường Hùng Vương) kế bên để tiến vào vườn Bách Thảo. Ông ấn tượng bởi sự trật tự của đám đông và sự vắng bóng của bất kỳ hành vi gây rối nào. Thậm chí không ai có cử chỉ thù địch hướng về phía ông. Sainteny chủ yếu bực bội về sự hiện diện của “phái đoàn Mỹ” tại buổi lễ và việc máy bay Mỹ bay thấp trên khu vực. Khi nhận được các báo cáo chi tiết về những bài phát biểu tại cuộc mít tinh, Sainteny để ý rằng Hồ Chí Minh đã thể hiện một đường lối ôn hòa hơn những người đồng chí trẻ tuổi của mình[45]. Ngày hôm sau, một trong những phụ tá của ông, Trung úy Francois Missoffe, táo bạo bước vào Bắc Bộ Phủ và có một cuộc trao đổi hiệu quả với Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Hoàng Minh Giám, trợ lý phụ trách đối ngoại của Chủ tịch. Missoffe ra về với ấn tượng sâu sắc về Hồ Chí Minh và tin rằng việc đàm phán là khả thi[46]. Sainteny nóng lòng muốn mở các cuộc thảo luận với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng vẫn không nhận được chỉ thị nào từ Paris.
Khi văn bản các bài phát biểu trong Ngày Độc lập được chuyển tới Paris, dường như chúng đã bị phớt lờ… Trên thực tế, Paris không quan tâm đến những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh hay ông Võ Nguyên Giáp, cũng không mong muốn Sainteny phát triển những tiếp xúc thăm dò của mình. Trọng tâm là đưa càng nhiều quân càng nhanh càng tốt tới Sài Gòn, từ đó các đơn vị được lựa chọn có thể tiến ra Bắc Kỳ. Một khi đã giành được ưu thế áp đảo về lực lượng, các cuộc bàn bạc với những thành phần bản xứ khác nhau tự nhận mình đại diện cho bên này hay bên kia mới có thể bắt đầu. Sự ngạo mạn ấy sẽ còn bám theo chính phủ và quân đội Pháp trong nhiều năm. Rồi sau đó đến lượt người Mỹ.■
David G. Marr
Thanh Trà (dịch)
Tài liệu tham khảo
[1] Đặc San (TP. HCM), 25/8/1987, 16, 29, 32, 39, 40, 44.
[2] Nguyễn Kỳ Nam, Hồi ký, 219. Le Bourgeois, Ici Radio Saigon, 310.
[3] Lucien Félixine, L’Indochine livrée aux bourreaux (Paris, 1959), 64-66.
[4] Ducoroy, Ma trahison, 210-11. Report on POW experiences of U.S. Marine Corps Private James McCorne, 1 Oct. 1945, in USNA, DOS special file Record Group 59, 54-D-190, c. 10, d. 7.
[5] Nguyễn Kỳ Nam, Hồi ký, 219.
[6] Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Văn Giàu chủ biên, 355.
[7] Nguyễn Kỳ Nam, Hồi ký, 219. Địa chí, Trần Văn Giàu chủ biên, 355.
[8] Phỏng vấn Trần Văn Giàu, TP. HCM, 12/2/1990. Nguyễn Kỳ Nam, Hồi ký, 219-20.
[9] Le Bourgeois, Ici Radio Saigon, 309-11.
[10] Dunn, First Vietnam War, 134-35.
[11] Le Bourgeois, Ici Radio Saigon, 311. Hertrich, Doc-Lap! 45-46.
[12] Dunn, First Vietnam War, 135. Patti, Why Viet Nam? 253-54, 256.
[13] H.S., “Ngày 2 tháng 9 năm 1945 ở Thị xã Tân An”, Long An (Long An), số. 336 (30/8/1982): 4-5.
[14] Bảo Đại, Le Dragon d’Annam (Paris, 1980), 127-28. Không như những nguồn khác, Bảo Đại viết rằng ông rời Huế ngày 4/9 chứ không phải 2/9. Hồi ký của ông có nhiều lỗi sai nhỏ về thời gian.
[15] Phạm Khắc Hòe, Từ Triều đình Huế đến Chiến khu Việt Bắc (Hà Nội, 1983), 93.
[16] Bảo Đại, Dragon, 128.
[17] Phạm Khắc Hòe, Từ Triều đình Huế, 88-101.
[18] Tùng Hiệp, “Hôm nay là Ngày Độc lập!”, Trung Bắc Chủ Nhật (Hà Nội), số. 261 (9/9/1945): 5-6.
[19] Nguyễn Mạnh Hà, trên tờ Đoàn Kết (Paris), số. 373 (9/1985): 20. Patti, Why Viet Nam? 248.
[20] Đoàn Kết (Paris), số. 370 (5/1985): 35. Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, 25-26. Sainteny, Histoire, 92. Patti, Why Viet Nam? 248-49.
[21] Patti, Why Viet Nam? 559.
[22] Nguyễn Văn Hinh, người cung cấp thực phẩm, báo cáo Giám đốc Nhà tù Trung ương Hà Nội, 2/9/1945, trong AOM, INF, GF 56.
[23] Thảo luận với Trần Quốc Vượng, Ithaca, N.Y., 20/7/1991. Đinh Ngọc Liên và Đinh Công Thuận, “Ra đời cùng Cách mạng Tháng Tám”, 54.
[24] Thảo luận với Dương Trung Quốc, nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Sử học, Hà Nội, 12/3/1990.
[25] Trần Trung Thành, “Nhớ mãi Hà Nội,” 17-19. Nguyễn Quyết, Hà Nội Tháng Tám, 185. Phỏng vấn Nguyen Van Tran, Hà Nội, 17/2/1992.
[26] Tùng Hiệp, “Hôm nay là Ngày Độc lập!” 23.
[27] Sĩ Tâm, “Người kéo cờ trong lễ Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945”, Thông tin Lịch sử Quân sự (Hà Nội), 2-1990, 56.
[28] Nguyễn Quyết, Hà Nội Tháng Tám, 187. Patti, Why Viet Nam? 250.
[29] Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng, 28.
[30] Trần Trung Thành, “Nhớ mãi Hà Nội,” 20.
[31] Trần Huy Liệu et al., Tài liệu tham khảo Lịch sử Cách mạng Cận đại Việt Nam (sau đây viết tắt là CMCĐ), (Hà Nội, 1958), 12:101.
[32] Như trên, 107-19. Vietnam, ed. Porter, 66-71. Documents booklet, in AOM, INE, GF 46.
[33] CMCĐ, 12:119-22. Trần Trung Thành, “Nhớ mãi Hà Nội,” 20-21. Độc Lập (Hà Nội), số. 1 (4/9/1945), trích trong Vũ Ngự Chiêu, “Political and Social Change,” 380-81.
[34] Đảng Lao động Việt Nam, Chặt Xiềng, 96-98. CMCĐ, 12:122-23.
[35] Sainteny, Histoire, 93.
[36] CMCĐ, 12:102. Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng, 28-29. Trần Trung Thành, “Nhớ mãi Hà Nội,” 21. Vũ Ngự Chiêu, “Political and Social Change,”’ 381.
[37] Tùng Hiệp, “Hôm nay là Ngày Độc lập!” 23.
[38] Patti, Why Viet Nam? 253. Tùng Hiệp, “Hôm nay là Ngày Độc lập!” 23-24.
[39] Vũ Ngự Chiêu, “Political and Social Change,’”’ 382.
[40] Dân Mới (Hà Nội), số. 10 (5/9/1945), trích trong Vũ Ngự Chiêu, “Political and Social Change,” 382.
[41] Phan Anh, “Tôi đã tham gia Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến (3-3-1946) như thế nào?”, Tạp chí Lịch sử Quân sự (Hà Nội), số. 36 (12-1988): 8-9.
[42] Tùng Hiệp, “Hôm nay là Ngày Độc lập!” 24
[43] Patti, Why Viet Nam? 249-52.
[44] Vietnam, ed. Porter, 71-72.
[45] Sainteny, Histoire, 92-93.
[46] Missoffe, Duel Rouge, 24-27. Sainteny, Histoire, 96-97.