Đại Hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 diễn ra trong bối cảnh thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động lớn. Xung đột chiến tranh kéo dài ở nhiều khu vực, cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, kinh tế toàn cầu chịu nhiều sức ép, trong khi biến đổi khí hậu tiếp tục gây ra những hậu quả rõ rệt. Cùng lúc đó, sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo đang mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra hàng loạt vấn đề mới về kiểm soát, an ninh và trách nhiệm quốc tế. Trong bối cảnh đó, chủ đề “Khôi phục lòng tin, quản trị chuyển đổi: một Liên hợp quốc mang lại lợi ích cho tất cả” cho thấy mối quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế hiện nay không chỉ nằm ở từng cuộc khủng hoảng riêng lẻ, mà còn ở khả năng hợp tác và điều hành thế giới trong một môi trường ngày càng phân mảnh. Như Tổng Thư ký Liên hợp quốc cảnh báo, những “vết nứt” của thế giới đang có nguy cơ trở thành những “hẻm vực”. Tất cả đều đặt ra một yêu cầu chung: khôi phục lòng tin và tăng cường hợp tác quốc tế để tránh những chia rẽ hiện nay tiếp tục bị đẩy đi xa hơn.

Thế giới hỗn loạn, chiến tranh lan rộng và nguy cơ xung đột hiện hữu
Nhìn vào các bài phát biểu tại Đại Hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 có thể cảm nhận rõ ràng nhất rằng thế giới đang trong một giai đoạn bất ổn đặc biệt. Không chỉ cuộc chiến tranh Nga – Ukraine kéo dài sang năm thứ năm, mà Trung Đông cũng tiếp tục chìm trong xung đột từ dải Gaza, Bờ Tây đến Lebanon, Syria và những căng thẳng rộng hơn ở quanh Vịnh Ba Tư, Sudan và nhiều khu vực tại châu Phi. Thế giới đang phải đối mặt với chiến tranh và khủng hoảng nhân đạo chưa từng có. Trong khi đó, chạy đua vũ trang, hiện đại hóa vũ khí hạt nhân, tên lửa tầm xa, máy bay không người lái và các loại vũ khí công nghệ mới lại đang là nguy cơ khiến các cuộc khủng hoảng ngày càng vượt khỏi tầm kiểm soát.
Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres đã mô tả một thập niên mà chiến tranh nổ ra với hậu quả ngày càng nặng nề khi thường dân trở thành mục tiêu, nhân quyền bị chà đạp, nạn đói bị sử dụng như công cụ chiến tranh, các nhân viên cứu trợ bị sát hại và đặc biệt là luật pháp quốc tế hoàn toàn bị gạt sang một bên. Đây không còn là câu chuyện về số lượng các cuộc chiến mà giờ đây các cuộc xung đột ngày càng liên kết với nhau và tác động vượt ra ngoài biên giới nơi chiến tranh diễn ra.
Cuộc chiến giữa Nga và Ukraine đã gắn trực tiếp với quan hệ Nga – NATO, an ninh châu Âu, thị trường năng lượng, lương thực và phân bón toàn cầu. Sự đối lập trong bài phát biểu của Nga và Ukraine cũng cho thấy một vấn đề lớn, rằng các bên không chỉ bất đồng về cách kết thúc chiến tranh mà còn bất đồng ngay từ cách giải thích nguyên nhân của nó.
Cũng tương tự tại Trung Đông, sự liên kết giữa các cuộc xung đột còn rõ hơn thế. Chiến sự ở Gaza đã tác động tới Lebanon thông qua Hezbollah, tới Yemen thông qua lực lượng Houthi và tới quan hệ giữa Mỹ, Israel và Iran. Yemen dù là một cuộc nội chiến kéo dài hơn một thập niên nhưng hiện đã gắn trực tiếp với an ninh Biển Đỏ và tuyến hang hải qua Bab al -Mandam. Một diễn biến quân sự tại đây có thể nhanh chóng ảnh hưởng đến chi phí vận tải, bảo hiểm và thương mại giữa châu Á với châu Âu. Tương tự, một cuộc đối đầu lớn hơn giữa Iran và Israel – Mỹ đã tác động tới eo biển Hormuz và trực tiếp gây ảnh hưởng tới thị trường dầu mỏ toàn cầu.

Tổng thống Iran cảnh báo tại Đại hội đồng Liên hợp quốc rằng việc mở rộng chiến tranh và gia tăng hiện diện quân sự đối địch quanh Hormuz sẽ không thể đem lại hòa bình. Trong khi đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump lại nhấn mạnh sự răn đe bằng sức mạnh. Ông cũng tuyên bố không muốn để các mối nguy tiếp tục lớn lên thêm một ngày nào nữa và đồng thời coi Iran là một trong những mối đe dọa an ninh lớn nhất. Chính sự đối lập này cho thấy một vòng xoáy nguy hiểm khi mỗi bên đều coi hành động của mình là phòng vệ và hành động của đối phương là nguyên nhân gây mất ổn định.
Tổng thống Pháp đã đặt các chiến trường trong cùng một bức tranh để cảnh báo việc sử dụng sức mạnh, phá hủy cơ sở hạ tầng dân sự và vi phạm luật nhân đạo đang ngày càng lan rộng. Bài phát biểu của ông không nằm ở việc nêu đích danh từng địa danh cụ thể mà ở việc chiến tranh tại châu Âu, Trung Đông và châu Phi đang phản ánh cùng một xu hướng đó là sức mạnh quân sự ngày càng được sử dụng thường xuyên hơn trong khi khả năng kiềm chế bằng luật pháp và các cơ chế quốc tế lại suy giảm.
Tại châu Á, nhiều điểm nóng hiện chưa nâng lên thành chiến tranh nhưng nguy cơ vẫn luôn tồn tại. Eo biển Đài Loan gắn trực tiếp với cạnh tranh Mỹ – Trung. Vấn đề Biển Đông vừa là tranh chấp chủ quyền vừa chịu tác động của cạnh tranh giữa các cường quốc. Bán đảo Triều Tiên tiếp tục căng thẳng. Ấn Độ – Pakistan vẫn tồn tại nguy cơ đối đầu quanh Kashmir. Phó Chủ tịch Trung Quốc Hàn Chính cũng thừa nhận thế giới đang chứng kiến những “biến động hỗn loạn và đan xen”, các xung đột địa chính trị kéo dài và cạnh tranh theo khối ngày càng gay gắt.
Ở một góc nhìn khác, Việt Nam cảnh báo “xu hướng đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, chạy đua vũ trang, đặc biệt là việc hiện đại hóa vũ khí hạt nhân và phát triển các loại vũ khí công nghệ mới đang làm gia tăng nguy cơ đối đầu, tính toán sai lầm, xung đột, thậm chí là những cuộc chiến tranh quy mô lớn”. Trong phát biểu tại Đại hội đồng 81, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh rằng “Thay đổi là điều tất yếu bởi đó là một phần của tiến trình khách quan của lịch sử. Nhưng xung đột và đối đầu không phải là điều không thể tránh khỏi”. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, điều quan trọng là phải “quản trị sự thay đổi để cạnh tranh không trở thành đối đầu, khác biệt không dẫn tới xung đột”. Thông điệp của Việt Nam đưa ra đã khá rõ, rằng trật tự thế giới có thể đang bước vào một giai đoạn chuyển dịch lớn, nhưng việc những chuyển dịch đó dẫn tới hợp tác hay chiến tranh vẫn phụ thuộc vào lựa chọn và cách ứng xử của các quốc gia.
Như vậy, các cuộc xung đột diễn ra trên toàn thế giới được liên kết ở một tầng sâu hơn thông qua cạnh tranh cường quốc, chạy đua vũ trang, tâm lý bất an an ninh, công nghệ quân sự và sự phụ thuộc của kinh tế thế giới vào năng lượng, thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Một cuộc chiến ở một khu vực vì thế có thể nhanh chóng trở thành vấn đề về dầu mỏ, lương thực, vận tải, người tị nạn hay an ninh của nhiều quốc gia khác. Đó là vấn đề đáng lo ngại mà Đại hội đồng 81 phản ánh. Thế giới chưa bước vào một cuộc tranh thế giới mới, nhưng chiến tranh và những điểm nóng đang xuất hiện ở quá nhiều nơi cùng một lúc đã cho thấy ranh giới giữa “xung đột khu vực” và “khủng hoảng toàn cầu” ngày càng trở nên mờ nhạt.
Khủng hoảng khí hậu và những đứt gãy của kinh tế toàn cầu
Bên cạnh các vấn đề xung đột, các phát biểu tại Đại hội đồng 81 còn cho thấy một nguồn bất ổn khác đang ngày càng hiện hữu. Thiên tai phá hủy đường sá, cầu cảng, mùa màng và hệ thống năng lượng. Từ đó làm gián đoạn sản xuất, vận tải và chuỗi cung ứng. Trong khi đó, chiến tranh, bảo hộ thương mại và cạnh tranh giữa các nước lớn lại càng khiến những nền kinh tế vừa chịu thiên tai càng khó tiếp cận lương thực, nhiên liệu, vốn và công nghệ để phục hồi.
Nepal là một trong những nước nói rõ nhất về vòng xoáy này. Sau các trận lũ băng nghiêm trọng ở Himalaya, Thủ tướng Balendra Shah mô tả cầu đường, trường học, nhà cửa và sinh kế có thể bị cuốn đi chỉ trong vài phút. Nông dân Nepal không nhận được phân bón đúng mùa vụ, các dự án đường bộ thiếu nguyên liệu, người dân không có đủ nhiên liệu nấu ăn vì chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn. Thủ tướng Nepal đã có những nhận xét hình tượng rằng thế giới đã xây dựng được hệ thống hậu cần hoàn hảo cho chiến tranh nhưng một hệ thống hậu cần đổ vỡ cho lương thực. Đồng thời ông cũng lên tiếng cho các nước Nam Á khác trong khu vực cũng đang phải chịu tác động tương tự của “một khí hậu mà chúng tôi không làm nóng lên” và “những cuộc chiến mà chúng tôi không khởi xướng”. Nepal đã cho thấy tác động kinh tế của biến đổi khí hậu không dừng lại ở thiệt hại trực tiếp. Một trận lũ có thể phá hủy hạ tầng và mùa màng, khiến sản xuất giảm, giá thực phẩm tăng và ngân sách phải dành thêm cho tái thiết. Nếu quốc gia đó đồng thời phải phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng, phân bón hay nguyên liệu thì một cú sốc từ chiến tranh hoặc chuỗi cung ứng quốc tế sẽ khiến quá trình phục hồi càng trở nên khó khăn.

Các nước châu Phi nhìn vấn đề này rõ nhất dưới góc độ công bằng khí hậu. Tổng thống Ghana chỉ ra rằng châu Phi đóng góp chưa tới 4% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu nhưng lại phải chịu một trong những gánh nặng khí hậu lớn nhất. Riêng Ghana vừa trải qua những trận mưa cực đoan gây thiệt hại về người và cơ sở hạ tầng. Vì vậy, ông yêu cầu các nước phát triển thực hiện những cam kết tài chính đã đưa ra và nhấn mạnh hỗ trợ khí hậu phải là là viện trợ không hoàn lại, không phải những khoản vay khiến các nền kinh tế vốn mong manh tiếp tục mắc nợ.
Như vậy có thể thấy, những tiếng nói đã phản ánh một nghịch lý ngày càng rõ: Những nước phải hứng chịu trực tiếp sự biến đổi khí hậu, thiên tai lại có ít nguồn lực nhất để đối phó với nó. Nếu họ phải vay thêm tiền để khắc phục thiên tai thì khủng hoảng khí hậu rất dễ chuyển thành khủng hoảng nợ và phát triển.
Từ phía châu Âu, Na Uy lại cho thấy một thực tế khác rằng khí hậu là vấn đề không thể giải quyết trong phạm vi biên giới quốc gia. Ngoại trưởng Na Uy nói thế giới đã có công nghệ và kiến thực cần thiết cho quá trình chuyển đổi, nhưng “chúng ta chỉ có thể thành công nếu hợp tác”, bởi không quốc gia nào có thể dựng hàng rào quanh khí hậu, sinh quyển hay đại dương của riêng mình.
Thế nhưng nghịch lý hiện nay là khi nhu cầu hợp tác lớn hơn, kinh tế thế giới lại có xu hướng phân mảnh. Trong bối cảnh các rào cản đối với thương mại, đầu tư và công nghệ gia tăng thì đứt gãy chuỗi cung ứng và bất ổn kinh tế đang thu hẹp cơ hội phát triển của nhiều quốc gia. Điều này cho thấy đứt gãy kinh tế hiện nay không chỉ xuất phát từ khí hậu mà còn bị ảnh hưởng từ chiến tranh, trừng phạt, cạnh tranh công nghệ và xu hướng dựng lên các hàng rào thương mại đang làm cho một nền kinh tế vốn phụ thuộc lẫn nhau trở nên dễ tổn thương hơn. Khi nói về eo biển Hormuz và Biển Đỏ. Tổng thống Hàn Quốc cảnh báo việc “vũ khí hóa” những tuyến vận tải năng lượng và logistic quan trọng có thể tạo ra những cú sốc nghiêm tọng đối với đời sống người dân trên toàn thế giới. Trong khi đó, Trung Quốc nhấn mạnh về bảo hộ kinh tế và việc chủ động tách rời chuỗi cung ứng. Phó Chủ tịch Trung Quốc tuyên bố “chủ nghĩa bảo hộ không tạo ra người chiến thắng”, đồng thời cho rằng dựng hàng rào, tách rời nền kinh tế và cắt đứt chuỗi cung ứng cuối cùng sẽ làm tổn hại lợi ích của tất cả các bên. Trung Quốc cũng yêu cầu các nước phát triển thực hiện những cam kết về tài chính phát triển và khí hậu.
Qua các bài phát biểu, ta có thể thấy bức tranh chung của thế giới. Khí hậu tạo ra những cú sốc vật chất, chiến tranh làm gián đoạn năng lượng và vận tải, bảo hộ và cạnh tranh địa chính trị làm thương mại, đầu tư và công nghệ phân mảnh, nợ và chí phí vốn khiến các nước nghèo khó phục hồi hơn sau mỗi cú sốc. Những yếu tố này không có cùng nguyên nhân, nhưng khi xảy ra đồng thời, cùng lúc, chúng lại khuyếch đại lẫn nhau. Cuối cùng, người hứng chịu vẫn lần con người. Chính vì vậy, vấn đề khí hậu và kinh tế chính là vấn đề về quyền được sống và quyền được phát triển. Trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, hợp tác không còn chỉ là một lựa chọn mang tính thiện chí. Nếu các nước tiếp tục thu mình vào lợi ích ngắn hạn, những cú sốc về khí hậu và kinh tế có thể nhanh chóng chuyển thành khủng hoảng xã hội, nhân đạo và phát triển ở quy mô rộng hơn.
Một Liên hợp quốc của năm 1945 trước thế giới năm 2026
Tại Đại hội đồng 81, phần lớn các nước vẫn khẳng định thế giới cần Liên hợp quốc, nhưng đồng thời cho rằng cơ cấu hiện nay, đặc biệt là Hội đồng Bảo an, không còn theo kịp những thay đổi của thế kỷ XXI.
Brazil là một trong những nước chỉ trích mạnh nhất. Tổng thống Luiz Inácio Lula da Silva gọi đây là “thời điểm nghiêm trọng nhất đối với Liên hợp quốc” kể từ lần đầu ông phát biểu tại diễn đàn này và cho rằng tổ chức đang thất bại trong một nhiệm vụ căn bản là cứu nhân loại khỏi chiến tranh. Ông nói thẳng: “Tất cả chúng ta đang bị giữ làm con tin bởi sự bất động của Hội đồng Bảo an.” Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở quyền phủ quyết: khi lợi ích của các cường quốc đối đầu, Hội đồng có thể rơi vào bế tắc ngay trong những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất.
Tây Ban Nha đi thẳng vào vấn đề này khi Thủ tướng Pedro Sánchez yêu cầu cải tổ Hội đồng Bảo an và đặt lại quyền phủ quyết. Theo ông, “không một quốc gia nào nên vừa là thẩm phán, vừa là một bên trong vụ việc, bất kể quốc gia đó mạnh đến đâu.”
Nhật Bản cũng chỉ ra nghịch lý tương tự khi một thành viên thường trực có thể trực tiếp liên quan tới một cuộc chiến rồi sử dụng quyền phủ quyết đối với những nghị quyết liên quan đến chính cuộc chiến đó. Thủ tướng Takaichi Sanae vì thế nhận định rằng trong tình trạng hiện nay, Hội đồng Bảo an không thực hiện được đầy đủ chức năng gìn giữ hòa bình quốc tế, đồng thời cho rằng cơ cấu của Hội đồng vẫn phản ánh thế giới năm 1945 hơn là thực tế hiện nay.
Nhưng những hạn chế của hệ thống đa phương không chỉ bộc lộ trong chiến tranh. Biến đổi khí hậu và những bất ổn kinh tế cũng cho thấy khoảng cách ngày càng lớn giữa những cam kết quốc tế và khả năng biến chúng thành hành động. Thủ tướng Barbados Mia Mottley nhận xét tại Đại hội đồng rằng thế giới không thiếu kiến thức hay năng lực để giải quyết những thách thức hiện nay; điều thiếu chính là khả năng “biến những gì chúng ta biết thành những gì chúng ta làm”.
Nhìn từ Đại hội đồng 81, vấn đề không phải thế giới muốn từ bỏ Liên hợp quốc. Ngược lại, chính trong một thế giới nhiều xung đột, nhu cầu về một cơ chế đa phương mạnh càng trở nên cấp thiết. Nhưng một Liên hợp quốc được thiết kế cho thế giới năm 1945 khó có thể tiếp tục vận hành nguyên trạng trong thế giới năm 2026. Muốn khôi phục lòng tin, trước hết tổ chức này phải chứng minh rằng mình vẫn có khả năng đại diện công bằng và chuyển đồng thuận quốc tế thành hành động thực tế.
Cuộc cách mạng công nghệ và bài toán quản trị quyền lực mới
Nếu chỉ bốn năm trước AI mới được 5 phái đoàn đề cập trong tranh luận chung, thì tại Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 năm 2026, con số này đã tăng lên 128 phái đoàn, thậm chí nhiều hơn số đoàn đề cập đến biến đổi khí hậu và quyền con người. Điều đó cho thấy trí tuệ nhân tạo không còn được nhìn nhận đơn thuần như một thành tựu công nghệ, mà đã trở thành vấn đề gắn trực tiếp với phát triển, an ninh, chủ quyền và phân bổ quyền lực trên phạm vi toàn cầu.
Từ góc nhìn của một trong những trung tâm công nghệ lớn nhất thế giới, Trung Quốc cho rằng AI cần được phát triển theo hướng “lấy con người làm trung tâm”, đồng thời thu hẹp khoảng cách số để nhiều quốc gia có thể cùng hưởng lợi từ tiến bộ công nghệ. Cách tiếp cận này cho thấy vấn đề của AI không chỉ nằm ở mức độ an toàn, mà còn ở việc công nghệ sẽ được phân bổ như thế nào. Nếu dữ liệu, năng lực tính toán và các mô hình tiên tiến chỉ tập trung vào một số ít nền kinh tế, khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển có thể tiếp tục nới rộng.
Khi AI ngày càng mạnh và những rủi ro của nó vượt ra ngoài biên giới quốc gia, câu chuyện không còn chỉ là ai được tiếp cận công nghệ mà còn là trí tuệ nhân tạo sẽ được quản lý ra sao. Singapore nhấn mạnh nhu cầu xây dựng những “luật chơi chung”, cảnh báo nguy cơ mất kiểm soát đối với các hệ thống tự trị và việc AI bị sử dụng cho các mục đích gây hại. Ngoại trưởng Singapore ví AI như một “động cơ mạnh” cần đi kèm “phanh tốt”, đồng thời đề xuất tăng cường kiểm thử, duy trì khả năng can thiệp của con người và xây dựng khuôn khổ quốc tế về an toàn AI.

Trong khi đó, Mỹ lại thận trọng với việc trao quyền kiểm soát công nghệ cho một cơ chế toàn cầu. Tổng thống Donald Trump tuyên bố Mỹ “hoàn toàn bác bỏ” những nỗ lực xây dựng một hệ thống kiểm soát AI mang tính quốc tế, qua đó nhấn mạnh hơn đến chủ quyền, tự do đổi mới và lợi thế cạnh tranh. Sự khác biệt này cho thấy tranh luận về AI hiện nay không nằm ở việc có nên phát triển công nghệ hay không, mà ở ai sẽ đặt ra luật chơi và mức độ kiểm soát nên đi đến đâu. Đây cũng là thách thức lớn nhất khi tốc độ phát triển của AI đang nhanh hơn khả năng tạo ra đồng thuận chung để quản trị nó.
Xây dựng lòng tin để thúc đẩy hợp tác
Tóm lại, các phát biểu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 đã cho thấy những mối quan tâm của các quốc gia, dù xuất phát từ vị thế và lợi ích rất khác nhau, đều ít nhiều phản ánh chủ đề của kỳ họp năm nay: “Khôi phục lòng tin, quản trị chuyển đổi: Một Liên hợp quốc mang lại lợi ích cho tất cả”. Những cảnh báo về chiến tranh và sự xói mòn luật pháp quốc tế cho thấy yêu cầu phải khôi phục lòng tin vào các quy tắc chung; các tranh luận về khí hậu, kinh tế và trí tuệ nhân tạo phản ánh nhu cầu quản trị những biến đổi đang diễn ra ngày càng nhanh; còn những lời kêu gọi cải cách Hội đồng Bảo an và hệ thống Liên hợp quốc đặt thẳng câu hỏi liệu một thiết chế được hình thành từ năm 1945 có còn đủ khả năng mang lại những kết quả thực chất cho thế giới năm 2026 hay không. Đây cũng chính là ba khía cạnh cốt lõi trong chủ đề mà Chủ tịch Đại hội đồng Khalilur Rahman đặt ra cho khóa họp 81.
Điểm nổi bật là phần lớn các nước, dù nhiều lần chỉ trích sự bất lực, tính đại diện hay những tiêu chuẩn kép trong hệ thống hiện nay, vẫn chưa từ bỏ chủ nghĩa đa phương. Điều họ đặt ra không phải là thế giới có cần hợp tác hay không, mà là hợp tác dựa trên những luật lệ nào, các luật lệ ấy có được áp dụng công bằng hay không và các thể chế quốc tế có đủ khả năng biến cam kết thành kết quả hay không. Chính vì vậy, vấn đề cuối cùng lại quay trở về với lòng tin. Luật lệ được tôn trọng tạo ra khả năng dự đoán, khả năng dự đoán tạo ra lòng tin và chỉ trên nền tảng đó các quốc gia mới có thể duy trì hợp tác trước những vấn đề không còn nằm trong biên giới của bất kỳ một nước nào.
Kết luận
Những phát biểu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 cho thấy một nhận thức khá thống nhất rằng thế giới đang bước vào giai đoạn biến động sâu sắc, trong khi nhiều cơ chế và cách thức quản trị cũ không còn đủ sức đáp ứng những thách thức mới. Chiến tranh, biến đổi khí hậu, bất ổn kinh tế, khủng hoảng của hệ thống đa phương và sự phát triển của AI đều cho thấy yêu cầu cấp thiết phải thay đổi.
Đồng thời, Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 cũng phản ánh một thực tế ngày càng rõ: không một quốc gia nào có thể đơn phương dẫn dắt và giải quyết các vấn đề toàn cầu như trước. Quyền lực đang phân tán hơn, còn các thách thức lại ngày càng mang tính xuyên biên giới. Vì vậy, điều thế giới cần không phải là một trung tâm quyền lực mới thay thế trung tâm cũ, mà là một cơ chế hợp tác hiệu quả hơn, dựa trên luật lệ, lòng tin và trách nhiệm được chia sẻ. những cam kết hôm nay sẽ được hiện thực hóa đến đâu, và liệu các quốc gia có thể cùng nhau đưa thế giới chuyển biến theo hướng tích cực hơn hay không, có lẽ vẫn cần thời gian để trả lời. Đó cũng là điều chúng ta có thể tiếp tục hy vọng và dõi theo.■
Hạ Vân