Phong cách tình báo khác biệt của CIA và KGB trong Chiến tranh Lạnh

Trong Chiến tranh Lạnh, Mỹ và Liên Xô phát triển những phong cách tình báo tương đối khác biệt. Trong khi Mỹ ngày càng dựa vào sức mạnh của công nghệ với các phương tiện kỹ thuật hiện đại, thì Liên Xô và các nước Đông Âu vẫn đặc biệt coi trọng mạng lưới điệp viên và hoạt động tình báo dựa trên con người. Hai cách tiếp cận này hình thành từ những truyền thống và bối cảnh lịch sử khác nhau, đều có ưu thế nhưng cũng bộc lộ những điểm yếu riêng. Qua những trường hợp cụ thể được tác giả Kristie Macrakis phân tích, bài viết dưới đây sẽ làm rõ hai phong cách tình báo và cách chúng định hình cuộc chiến bí mật trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

*

Năm 1957, khi Chiến tranh Lạnh đang ở giai đoạn cao trào, nhà văn Anh Ian Fleming đã xuất bản cuốn tiểu thuyết tình báo kinh điển “From Russia with Love” (Gửi từ nước Nga với tình yêu). Trong chương có tựa đề “Konspiratsia”, một vị tướng Liên Xô đã thảo luận về điểm mạnh và điểm yếu của các cơ quan tình báo khác nhau, đồng thời nhận xét rằng tình báo Mỹ tuy giàu tiềm lực và xuất sắc về mặt kỹ thuật nhưng lại thiếu hiểu biết về bản chất công việc tình báo: “Người Mỹ sở hữu cơ quan tình báo lớn nhất và giàu tiềm lực nhất… Xét về mặt kỹ thuật… họ là những người giỏi nhất. Nhưng họ lại không thực sự hiểu về công việc này”. Ngược lại, Ian Fleming (thông qua lời vị tướng) mô tả Cơ quan Tình báo Anh là xuất sắc; họ tuyển dụng những người thông minh và có trình độ học vấn cao. Tương tự như thế giới hư cấu đó, Khối Xô Viết đã sử dụng con người để thu thập tin tức tình báo và đạt được thành công vang dội, cả trong văn học lẫn thực tế.

Hai phong cách tình báo khác biệt

Phong cách tình báo của Khối Xô Viết và của Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa cũng như thái độ của họ đối với hoạt động tình báo và công nghệ. Trong khi Liên Xô có truyền thống tình báo lâu đời bắt nguồn từ thời Sa hoàng, thì Hoa Kỳ lại tương đối “non trẻ” trong lĩnh vực này khi cuộc chiến tình báo thực sự bùng nổ vào những năm 1950. Phải đến sau khi xảy ra vụ tấn công Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ mới huy động mạnh các nguồn lực để thành lập các cơ quan mới như Cục Tình báo Trung ương (CIA) và Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA); và họ cũng phải trải qua cuộc chiến với phe cộng sản mới học được cách “lấy độc trị độc”.

Liên Xô và các nước còn lại trong khối Đông Âu ưu tiên sử dụng tình báo con người – tức là dùng các điệp viên để thu thập thông tin – trong khi Mỹ lại dựa nhiều vào công nghệ để thu thập tin mật. Do thiên hướng sử dụng các giải pháp kỹ thuật để giải quyết vấn đề, Mỹ đã phát triển hàng loạt “kỳ quan” công nghệ đóng vai trò như những “tai mắt điện tử” ở nước ngoài. Các cơ quan tình báo Mỹ đã triển khai điệp viên trên bầu trời, trong không gian vô tuyến, dưới lòng đất, dưới mặt nước và cả trong tâm trí con người. Trên thực tế, Mỹ đã và đang bao phủ toàn cầu bằng máy bay, vệ tinh, máy bay không người lái (UAV), thiết bị vô tuyến, thiết bị điện tử, các đường hầm và tàu ngầm. Họ cũng thường xuyên sử dụng các loại mật mã và thậm chí cả dược phẩm để phục vụ cho hoạt động tình báo.

Cơ quan Trinh sát Quốc gia (NRO) thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ vừa tiết lộ về sự tồn tại của dòng vệ tinh do thám JUMPSEAT vào cuối năm 2025. 8 vệ tinh thuộc dòng này đã được phóng lên quỹ đạo trái đất trong khoảng thời gian từ năm 1971 đến 1987. Nguồn ảnh: NRO

Ngoài truyền thống tình báo lâu đời, xã hội khép kín của Liên Xô còn ngăn cản các điệp viên phương Tây dễ dàng tiếp cận thông tin mật, trong khi xã hội cởi mở của Hoa Kỳ lại biến nước này thành một mục tiêu dễ bị xâm nhập. Ngay từ giai đoạn đầu của Chiến tranh Lạnh, Liên Xô đã cài cắm một đội ngũ điệp viên thâm nhập vào “kẻ thù chính” là Hoa Kỳ trên mọi lĩnh vực của xã hội, mặc dù họ đặc biệt chú trọng đến lĩnh vực khoa học và công nghệ. Từ vụ mạng lưới gián điệp Rosenberg trong lĩnh vực khoa học và công nghệ vào thập niên 1950, cho đến việc bắt giữ Aldrich Ames (thuộc CIA) và Robert Hanssen (thuộc FBI) ​​trong thập niên 1990 – các điệp viên Liên Xô luôn là tâm điểm của các trang tin tức.

Năm 1995, Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSA) đã cho giải mật các tài liệu VENONA – một loạt các bức điện tín ngoại giao của Liên Xô bị Anh và Mỹ chặn thu và giải mã vào cuối thập niên 1940. Những tư liệu này, cùng với các cuốn hồi ký, đã cho thấy hoạt động gián điệp hạt nhân diễn ra trên quy mô rộng lớn hơn nhiều so với hình dung của công chúng. Những nhà khoa học lỗi lạc như Klaus Fuchs và thiên tài trí tuệ tốt nghiệp Harvard Theodore Alvin Hall thậm chí còn đóng vai trò quan trọng hơn cả Julius Rosenberg trong việc thu thập và chuyển giao các bí mật hạt nhân. Khác với Fuchs và Rosenberg, Hall chưa bao giờ bị kết tội gián điệp, mặc dù chính phủ đã biết về sự dính líu của ông thông qua các tài liệu chặn thu từ dự án VENONA. Bên cạnh những vụ gián điệp hạt nhân gây chấn động, hoạt động gián điệp công nghiệp cũng là một phần cốt lõi trong công tác tình báo của Liên Xô suốt thế kỷ XX.

Việc phát hiện các điệp viên của khối Xô Viết trên lãnh thổ Hoa Kỳ chỉ là một vấn đề. Khi Chiến tranh Lạnh ngày càng trở nên căng thẳng, Hoa Kỳ bắt đầu lo ngại về một cuộc tấn công hạt nhân bất ngờ từ bên ngoài. Trái ngược với thành công của Liên Xô trong việc cài cắm điệp viên ở nước ngoài, Mỹ lại có rất ít điệp viên trên lãnh thổ Liên Xô để nắm bắt thông tin về năng lực và ý đồ quân sự của họ. Và do tính chất khép kín của xã hội Liên Xô, việc tuyển mộ và phát triển các điệp viên Mỹ tại đây trở nên vô cùng khó khăn.

Nước Mỹ có truyền thống lâu đời về “niềm say mê công nghệ”. Mặc dù cụm từ này chủ yếu đề cập đến kỷ nguyên của những nhà phát minh vĩ đại như Thomas Edison, nhưng hầu hết các nhà sử học đều đồng ý rằng niềm đam mê công nghệ của nước Mỹ vẫn tiếp diễn cho đến tận ngày nay. Thực tế, vào thời kỳ Chiến tranh Lạnh, công nghệ đã trở thành liều thuốc vạn năng, thành giải pháp cho vô số vấn đề. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi các giải pháp công nghệ cũng được áp dụng để giải quyết bài toán tình báo đối với một xã hội khép kín. Sự trỗi dậy của tổ hợp quân sự – công nghiệp – học thuật cùng năng lực kỹ thuật ngày càng phát triển trong thập niên 1950 đã tạo điều kiện thuận lợi cho xu hướng này.

Niềm tin của Dwight D. Eisenhower vào khoa học và công nghệ đã góp phần khởi xướng hoạt động tình báo dựa trên công nghệ đầy độc đáo của Mỹ trong thập niên 1950, đặc biệt là trong lĩnh vực vệ tinh và máy bay do thám. Cố vấn khoa học của Eisenhower – Chủ tịch Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) James Killian – cùng nhà khoa học Edwin Land của hãng máy ảnh Polaroid đóng vai trò then chốt trong việc kết nối các thành phần thuộc tổ hợp quân sự – công nghiệp – học thuật, cũng như phát triển các loại máy ảnh có độ nhạy cao và máy bay có khả năng bay ở độ cao đủ lớn để tránh bị phát hiện.

Mặt trái của tình báo công nghệ

Chắc chắn là công nghệ của kỷ nguyên vũ trụ đã mang lại lợi ích to lớn cho nước Mỹ trong việc phát hiện một số mối đe dọa đối với an ninh quốc gia, nhưng chi phí cho chúng cũng vô cùng đắt đỏ. Các nhà nghiên cứu ước tính rằng khoảng 70% ngân sách tình báo (vốn được xếp vào diện mật) đã được phân bổ cho các hệ thống công nghệ tốn kém như vệ tinh. Tóm lại, chi phí cho chúng lên tới hàng tỷ đô la. Các vệ tinh do thám thường được giới chuyên gia tình báo ca ngợi là yếu tố then chốt giúp xác định việc Liên Xô triển khai tên lửa tại Cuba vào năm 1962. Tuy nhiên, thực tế là một nguồn tin con người – kẻ đào tẩu Oleg Penkovsky, nguồn tin quan trọng nhất của CIA trong hàng ngũ tình báo quân sự GRU của Liên Xô – mới là người đầu tiên cung cấp thông tin này cho CIA. Các chuyên gia phân tích ảnh vệ tinh có thể giải mã những gì họ nhìn thấy và cung cấp thêm bằng chứng hình ảnh, nhưng chính Penkovsky mới là người mang lại bối cảnh và ý nghĩa cho những dữ liệu đó.

Oleg Penkovsky (thứ 2 từ trái sang), Đại tá tình báo quân đội của Liên Xô làm điệp viên cho Mỹ và Anh, chụp cùng nhóm sĩ quan tình báo của CIA và MI6 tại Khách sạn Mount Royal ở London, năm 1961. Ảnh: CIA

Mặc dù cơ quan tình báo Mỹ không có nhiều điệp viên là con người tại Liên Xô, nhưng trong suốt Chiến tranh Lạnh, họ đã tiếp nhận được vô số kẻ đào tẩu, điển hình như Penkovsky. Nhưng dù có nguồn tin tình báo con người “trời cho” này, việc thu thập thông tin tình báo kỹ thuật vẫn tiếp tục là phương thức chủ đạo của tình báo Mỹ. Những người ủng hộ tình báo kỹ thuật thường lập luận rằng máy móc ít rủi ro hơn con người: chúng không biết nói dối, không phải ngồi tù khi bị bắt và cũng không phản bội đất nước. Vì không mang những điểm yếu cố hữu của con người, chúng cũng không thể bị kẻ thù thuyết phục để phản bội quốc gia. Tuy nhiên, sự lạc quan thái quá vào sức mạnh công nghệ như vậy đã bỏ qua thực tế rằng công nghệ không thể tự vận hành hay tự xây dựng. Có vô số ví dụ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh cho thấy con người đã phản bội các hệ thống kỹ thuật như thế nào.

Trong thập niên 1970, Liên Xô đã cải thiện đáng kể sự hiểu biết về công nghệ vệ tinh trinh sát của Mỹ thông qua một số điệp viên người Mỹ làm việc cho họ. Christopher Boyce, một thanh niên Mỹ bỏ dở đại học, cùng đồng phạm là kẻ buôn ma túy Andrew Daulton Lee, đã bán cho KGB các thông tin mật về hệ thống trinh sát do tập đoàn công nghiệp TRW phát triển cho CIA. Những thông tin này bị đánh cắp từ kho lưu trữ bảo mật tại chi nhánh của TRW ở California. Cả hai bị bắt và bị kết án vào năm 1977. Một năm sau, William Kampiles, một cựu nhân viên CIA bất mãn, đã đánh cắp và chuyển giao một tài liệu kỹ thuật tuyệt mật về hệ thống hình ảnh KH-11, thế hệ tân tiến hơn của hệ thống vệ tinh mang mật danh CORONA.

Một trong những vụ việc chấn động nhất liên quan đến hành vi phản bội công nghệ của con người là câu chuyện về Đường hầm Berlin. Chiến dịch Đường hầm Berlin là một hoạt động tình báo phối hợp giữa Anh và Mỹ, nhằm mục đích nghe lén các đường cáp thông tin liên lạc hữu tuyến của quân đội Liên Xô nằm bên dưới đường phố thuộc khu vực do Liên Xô kiểm soát tại Berlin. Ngay từ khi kế hoạch mới bắt đầu vào năm 1953, thông tin về đường hầm này đã bị tiết lộ cho Liên Xô thông qua George Blake – một điệp viên hai mang nằm trong hàng ngũ tình báo Anh. Mặc dù Liên Xô để cho chiến dịch tiếp diễn trong vài năm nhằm bảo vệ nguồn tin của mình và cung cấp cho phương Tây những thông tin vụn vặt không đáng giá, nhưng cuối cùng, đường hầm này đã bị phát hiện và công khai một cách ồn ào vào năm 1956.

George Blake, điệp viên hai mang của KGB, đã tiết lộ từ rất sớm cho Liên Xô về đường hầm nghe lén của tình báo Mỹ và Anh ở Berlin. Ảnh: AP

Vụ việc gây hổ thẹn nhất cho Hoa Kỳ liên quan đến hoạt động gián điệp công nghệ là vụ Liên Xô bắn hạ Gary Powers cùng chiếc máy bay do thám U-2 của Mỹ vào ngày 1/5/1960 tại Liên Xô. Sự kiện này xảy ra hai tuần trước Hội nghị thượng đỉnh hòa bình Đông – Tây rất được mong đợi tại Paris với sự tham gia của “Bộ Tứ” (gồm Eisenhower, Nikita Khrushchev, Tướng de Gaulle và Harold Macmillan). Vụ việc đã gây ra một cuộc khủng hoảng quốc tế, góp phần làm xấu đi quan hệ Mỹ – Xô do Eisenhower từ chối xin lỗi Khrushchev về vụ máy bay do thám; kết quả là Hội nghị thượng đỉnh đã không bao giờ diễn ra. Trong khi hầu hết các nghiên cứu tập trung vào khía cạnh kỹ thuật của chiếc máy bay hoặc vào phi công do thám Gary Powers, thì nhà sử học chuyên nghiên cứu về tổng thống Michael Beschloss lại lập luận rằng thông tin do chiếc U-2 cung cấp đã giúp xua tan nỗi lo ngại của Mỹ về Liên Xô, bởi nó cho thấy sự yếu kém về mặt quân sự của quốc gia này. Hoạt động trinh sát như vậy cũng được cho là đã giúp Mỹ nhận ra rằng “khoảng cách tên lửa” đáng sợ kia thực tế không hề tồn tại. Tuy nhiên, các điệp viên con người cũng đi đến cùng kết luận tương tự và còn có thể cung cấp bối cảnh cũng như ý nghĩa cho những phát hiện này; trong khi máy móc thì hoàn toàn không tiết lộ gì về ý đồ của các nhà lãnh đạo Liên Xô. Vụ lùm xùm về chiếc máy bay U-2 không làm chấm dứt các chuyến bay trinh sát, mà trái lại, còn dẫn đến việc phát triển các loại máy bay tàng hình có khả năng bay nhanh hơn và ở độ cao lớn hơn (như chiếc Blackbird SR-71), cũng như sự bùng nổ của cái gọi là tổ hợp quân sự – công nghiệp – học thuật – tình báo ở Mỹ.

Các “điệp viên trên bầu trời” có lẽ là khía cạnh nổi tiếng nhất trong hoạt động gián điệp công nghệ của Mỹ, nhưng các điệp viên còn ẩn mình bên dưới, nơi lòng đại dương sâu thẳm. Các tàu ngầm của Mỹ đã thực hiện ít nhất 2.000 nhiệm vụ nhằm theo dõi tàu ngầm Liên Xô. Những chiếc tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Liên Xô có chiều dài vượt cả sân bóng bầu dục và mang theo tới 20 tên lửa đạn đạo, mỗi tên lửa có thể phóng đi 10 đầu đạn hạt nhân; và tàu ngầm của Mỹ cũng đáng sợ không kém.

Một trong những câu chuyện gây chấn động nhất là sự biến mất bí ẩn của chiếc tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân của Mỹ mang tên USS Scorpion vào năm 1968. Khi con tàu cuối cùng cũng được tìm thấy, các nhà điều tra xác định rằng một vụ nổ đã khiến tàu chìm và cướp đi sinh mạng của toàn bộ 99 thành viên thủy thủ đoàn. Tuy nhiên, nguyên nhân vụ nổ chưa bao giờ được làm rõ, và đã xuất hiện nhiều đồn đoán về một cuộc tấn công của Liên Xô hoặc sự cố nổ một trong những quả ngư lôi mang đầu đạn hạt nhân trên tàu. Nếu giả thuyết về cuộc tấn công của Liên Xô là đúng, các nhà nghiên cứu cho rằng các khóa mật mã hàng ngày mà Liên Xô thu được từ mạng lưới gián điệp của John Walker (Walker là một điệp viên của KGB, người này đã tự nguyện đến Đại sứ quán Liên Xô để xin làm gián điệp) đã cho phép Liên Xô theo dõi sự di chuyển của các tàu chiến và tàu ngầm của Hải quân Mỹ. Dù nguyên nhân khiến con tàu bị mất tích là gì, thì đây không phải là trường hợp duy nhất. Và giống như các mảnh vỡ công nghệ gián điệp khác, nó chứa vật liệu hạt nhân nguy hiểm và hiện vẫn nằm dưới đáy đại dương như một tàn tích của Chiến tranh Lạnh.

Trái ngược với những đổi mới và đột phá trong công nghệ gián điệp quy mô lớn, đến năm 1962, CIA vẫn dùng những kỹ năng và công cụ tác nghiệp gián điệp lỗi thời. Các điệp viên vẫn sử dụng những trang bị gián điệp tiêu chuẩn giống hệt như thời Thế chiến II. Việc cải tiến chỉ được thực hiện dựa trên các bài học rút ra từ những vụ việc mà công nghệ đã không thể bảo vệ an toàn cho điệp viên. Sau khi Penkovsky bị bắt giữ thông qua một chiến dịch giám sát kỹ thuật tinh vi của KGB, bị xét xử công khai với hình ảnh chiếc máy ảnh gián điệp Minox kiểu cũ của ông được trưng bày nổi bật, và sau đó bị KGB bí mật hành quyết, một bước ngoặt lớn đã diễn ra. Sau khi mất Penkovsky, Bộ phận Dịch vụ Kỹ thuật của CIA bắt đầu phát triển các thiết bị gián điệp công nghệ cao cho điệp viên. Họ đặc biệt chú trọng cải tiến các thiết bị liên lạc bí mật và phát triển những loại máy ảnh gián điệp tinh vi hơn, chẳng hạn như T-100 – một chiếc máy ảnh hình chiếc bút rất dễ che giấu. Bên cạnh việc phát triển công nghệ giúp bảo toàn tính mạng cho điệp viên, CIA còn được phép thử nghiệm những ý tưởng táo bạo và khác thường. Một trong những thiết bị kỳ quặc nhất từng được phát triển là “Acoustic Kitty” (Chú mèo âm thanh) – một nỗ lực bất thành nhằm cấy thiết bị nghe lén vào cơ thể một con mèo sống vào giữa thập niên 1960. Mặc dù chú mèo này hoạt động hiệu quả trong môi trường phòng thí nghiệm được kiểm soát, nhưng lại không thể điều khiển được trong cuộc sống thực tế.

Một trong những nỗ lực tai tiếng nhất của CIA nhằm tận dụng khoa học và công nghệ để kiểm soát các điệp viên con người chính là các thí nghiệm kiểm soát tâm trí khét tiếng được thực hiện trong thập niên 1950 và 1960. Bên cạnh việc thử nghiệm chất gây ảo giác LSD trên những người không hề hay biết, CIA còn tài trợ và sử dụng kết quả từ các nghiên cứu về đánh giá nhân cách, tẩy não và phá vỡ khuôn mẫu tư duy/hành vi nhằm tẩy sạch và tái lập trình tâm trí con người.

Trong khi CIA bận rộn phát triển công nghệ quy mô lớn đóng vai trò như những “con mắt điện tử” trên bầu trời, thì Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) lại tập trung phát triển những “đôi tai khổng lồ” trong không gian truyền tin. Đến cuối Chiến tranh Lạnh, mạng lưới tình báo tín hiệu của Mỹ và Anh đã bao trùm toàn cầu, đồng thời các phần mềm có khả năng chặn thu mọi thông tin liên lạc qua thư từ, fax, điện thoại và Internet cũng được phát triển. Nhưng bất chấp hệ thống giám sát toàn cầu đầy ám ảnh này, NSA đã không thể ngăn chặn vụ tấn công khủng bố ngày 11/9 nhắm vào nước Mỹ. Mặc dù NSA từng chặn thu được thông tin liên lạc của hai đồng phạm thuộc mạng lưới của Osama Bin Laden, nhưng họ lại không hành động dựa trên những thông tin đó.

Cái đầu lạnh và trái tim nóng

Các vệ tinh bay trên quỹ đạo, máy bay do thám tầm cao, tàu ngầm lướt dưới lòng đại dương và những “đôi tai” thính nhạy trong không trung là hình ảnh tiêu biểu cho phong cách tình báo Mỹ. Còn những điệp viên nguy hiểm – như các thành viên của mạng lưới Rosenberg và nhóm Bộ ngũ Cambridge, hay Aldrich Ames và Robert Hanssen – đã len lỏi vào các cơ quan trọng yếu của phương Tây và là điển hình của phong cách thu thập tin tức tình báo của khối Đông Âu. Tại đây, các điệp viên con người không chỉ được trọng dụng rộng rãi, mà còn được tôn vinh như những người hùng khi lập chiến công. Một chi tiết đáng chú ý là hình ảnh Richard Sorge – điệp viên từng cảnh báo Nga về cuộc tấn công bất ngờ của Đức năm 1941 – đã xuất hiện trên một con tem bưu chính được phát hành tại Liên Xô vào năm 1965. “Một trái tim nóng, một cái đầu lạnh và đôi bàn tay trong sạch” là khẩu hiệu của các nhân viên mật vụ Cheka (cơ quan tình báo và an ninh đầu tiên của Liên Xô), và Richard Sorge chính là hình mẫu tiêu biểu cho tinh thần đó.

Nhóm điệp viên “Bộ ngũ Cambridge” lừng danh của KGB

Trái lại, tại Mỹ, các điệp viên không được tôn vinh và chưa bao giờ đạt đến vị thế biểu tượng để được in hình lên tem thư như các chính khách, nghệ sĩ hay nhạc sĩ. Nhưng tem thư của Mỹ có in hình các vệ tinh đang bay trên quỹ đạo – một biểu tượng cho vị thế dẫn đầu của Mỹ về công nghệ – nhưng không phải trong bối cảnh hoạt động tình báo.

Các điệp viên của Liên Xô và khối Đông Âu tỏ ra lão luyện hơn trong nghề: họ giỏi tuyển mộ và cài cắm người vào các cơ quan trọng yếu, thu thập tin mật, và đặc biệt là bậc thầy trong nghệ thuật sử dụng điệp viên hai mang. Thực tế, thành công vang dội của khối Đông Âu trong việc sử dụng điệp viên hai mang đã trở thành thất bại thảm hại nhất của CIA. Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, CIA phát hiện ra rằng toàn bộ điệp viên của họ tại Đông Đức và Cuba thực chất đều là điệp viên hai mang, hoạt động dưới sự chỉ đạo của cơ quan tình báo nước ngoài của Đông Đức hoặc Cuba. Như cựu sử gia trưởng của CIA, Benjamin B. Fischer, đã viết: điều này khiến CIA trở nên “điếc, câm và mù” tại Đông Đức. Hơn nữa, “phía Đông Đức cũng như Liên Xô đã dễ dàng qua mặt Bộ phận phụ trách Liên Xô và Đông Âu của CIA, vô hiệu hóa các hoạt động của bộ phận này và khiến họ “rối tung rối mù” với những điệp viên hai mang chuyên cung cấp thông tin giả”. Thất bại ê chề liên quan đến các điệp viên hai mang này một phần bắt nguồn từ việc tình báo Mỹ quá phụ thuộc vào gián điệp công nghệ và thiếu kỹ năng trong lĩnh vực tình báo con người. Có thể nói rằng, Liên Xô và khối Đông Âu tuy suy yếu và tan rã sau Chiến tranh Lạnh, nhưng lại thắng trong cuộc chiến tình báo nhờ phương thức hoạt động hiệu quả hơn.■

Kristie Macrakis

Minh Thư dịch

(Nguồn: Tạp chí khoa học Isis của Đại học Chicago, Hoa Kỳ, 2010)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN