Bình minh của nền báo chí Đông Dương

Trong bối cảnh triều đình nhà Nguyễn dần có những bước thoả hiệp với thực dân Pháp từ cuối thế kỷ XIX, những tờ báo đầu tiên của xứ Đông Dương ra đời. Tạp chí Phương Đông dịch và giới thiệu bài viết của nhà báo người Pháp De Lansalut, quản trị viên tờ “Courrier de Haiphong” (Thời báo Hải Phòng), với tiêu đề “Nền báo chí Đông Dương” trong cuốn La régime de la presse coloniale (Chế độ báo chí thuộc địa) xuất bản năm 1926. Qua việc chỉ rõ quá trình hình thành của nền báo chí Đông Dương, ông đưa tới góc nhìn rằng các tờ báo ra đời không hẳn là kết quả từ nhu cầu của xã hội bản địa mà phần nhiều gắn với chính quyền thuộc địa Pháp, là một công cụ truyền đạt thông tin và củng cố quyền lực của chính quyền này. Các từ ngữ và ý kiến trong bài thể hiện quan điểm của tác giả, chúng tôi giữ nguyên văn để đảm bảo tính khách quan.

*

Ở đây, trước khi tóm lược một cách khái quát về nguồn gốc và vị thế của nền báo chí Đông Dương, cũng như đánh giá cao vai trò, tìm hiểu về nguồn lực vật chất và tinh thần của các nhà báo Đông Dương, khảo cứu mối liên hệ giữa báo chí Đông Dương với báo chí thuộc địa ở chính quốc; có lẽ cần ngay lập tức chỉ rõ rằng: trong số 5 xứ lớn của Đông Dương thuộc Pháp thì đến nay Campuchia, Lào và Trung Kỳ chưa từng có báo chí địa phương; chỉ có ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ mới tồn tại các tờ báo và tạp chí được biên soạn, dàn trang và in ấn rồi phát hành trên toàn vùng Đông Dương.

Ở xứ Viễn Đông này, Nam Kỳ sớm là thuộc địa của Pháp, bởi vậy hoàn toàn tự nhiên khi nơi đây là vùng đầu tiên xuất bản báo chí tiếng Pháp. Ngày 17/2/1859, quân viễn chinh của Đô đốc Rigault de Genouilly mang quân chiếm thành Gia Định; đến ngày 5/6/1862, Vua Tự Đức đã ký hiệp ước nhượng hẳn cho Pháp ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định và Định Tường (Mỹ Tho); và chỉ ngay năm 1865, ở Sài Gòn, tờ Courrier de Saigon (Sài Gòn thời báo) đã ra mắt, tức là trước cả khi xứ Nam Kỳ chính thức hoàn toàn thuộc về Pháp, nơi mà phải đến ngày 15/3/1874, Vua An Nam mới ký hiệp ước xác lập chủ quyền của Pháp.

Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công thành Gia Định ngày 17/2/1859. Tranh minh hoạ đăng trên báo L’Illustration số xuất bản tháng 2/1859, trang 265.

Vào những ngày đầu mới thành lập, Courrier de Saigon vừa là một tờ báo đưa tin, vừa là cơ quan công bố các văn bản chính thức của chính quyền Pháp, đăng song song với Le Bulletin officiel de la Cochinchine (Công báo Nam Kỳ). Khi tính quân sự phai mờ dần trong tiến trình chiếm đóng của quân Pháp, tờ Courrier de Saigon cũng dần trở nên độc lập hơn với chính quyền Pháp tại Nam Kỳ. Và từ năm 1873, khi thiết lập nền hành chính dân sự quản lý các vấn đề bản xứ, nhiều cơ quan báo chí khác cũng lần lượt ra đời, dù phần lớn chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Trong số các tờ báo xuất hiện ở giai đoạn mới hình thành chế độ thuộc địa tại Nam Kỳ, chỉ còn lại duy nhất tờ L’Opinion (Dư luận) đã tồn tại được 28 năm. Ngoài ra, hiện nay có các báo mới thành lập như L’Impartial (Trung Lập), Le Courrier Saigonnais (Thời báo Sài Gòn), cả hai đều là nhật báo như L’Opinion; thêm cả Cochinchine Libérle (Nam Kỳ tự do), La France d’Asie (Pháp quốc Á châu), La Voix Libre (Tiếng gọi tự do) là những tờ xuất bản hai lần một tuần; cuối cùng là La Vérité (Sự thật)Le Temps d’Asie (Thời đại Á châu) được xuất bản hằng tuần.

Người ta chẳng thể tìm thấy báo nào có ảnh minh hoạ ở Nam Kỳ, chỉ trừ duy nhất một tạp chí là Bulletin Financier et Économique de l’Indochine (Tập san Tài chính và Kinh tế Đông Dương) chuyên viết về các vấn đề tài chính và kinh tế, đúng như tên gọi của nó, xuất bản hằng tuần tại Sài Gòn.

Mặc dù lượng người Pháp cư trú tại Bắc Kỳ (6.976 người) nhiều hơn so với Nam Kỳ (3.928 người), nhưng báo chí ở Bắc Kỳ lại kém phát triển hơn.  Cũng giống như Nam Kỳ, báo chí tiếng Pháp ở Bắc Kỳ xuất hiện gần như đồng thời với quá trình chinh phục thuộc địa.

Thực tế, chỉ đến ngày 6/6/1884, hiệp ước ký với Vua An Nam để đặt Trung Kỳ và Bắc Kỳ dưới sự bảo hộ của Pháp mới xuất hiện; và phải đến dụ Vua ban ngày 3/10/1888 thì Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng mới chính thức trở thành tô giới của Pháp. Tuy vậy, ngay từ năm 1884, tờ báo tiếng Pháp L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) đã được xuất bản tại Hà Nội.

Những người sáng lập là ông Chesnay và De Boisadan đã xác định tờ báo này sẽ là cơ quan cung cấp thông tin và nghiên cứu, ban đầu cũng mang tính chất gần như chính thức, tựa như Bulletin officiel du Protectorat (Công báo Bảo hộ), nhưng chẳng bao lâu, nó đã hoàn toàn mất tính chất này và trở thành tờ báo thông tin đồng thời bảo vệ lợi ích cho người Pháp ngay khi tờ Courrier de Haiphong (Thời báo Hải Phòng) xuất bản tại Hải Phòng năm 1885 như một hình thức cạnh tranh.

Hai tờ báo kỳ cựu của báo chí Bắc Kỳ này vẫn tồn tại và ngày càng phát triển mạnh, từ chỗ là tuần báo, từ nhiều năm nay, chúng đã trở thành nhật báo.

Số đầu tiên của tờ báo “L’avenir du Tonkin” xuất bản tháng 12/1884 tại Hà Nội với lịch ra số mới là các ngày 5, 15 và 25 hằng tháng. Nguồn: Thư viện số Gallica

Và cũng tương tự như tờ L’Opinion ở Nam Kỳ, chúng đã chứng kiến nhiều tờ báo khác khai sinh rồi biến mất, trong đó hiện còn tồn tại các tờ như L’independance Tonkinoise (Bắc Kỳ độc lập) với tuổi đời 35 năm, France Indo-Chine (Xứ Đông Dương), chỉ mới tổn tại 7 năm, cả hai đều là nhật báo; và một tờ báo trẻ hơn là L’Argus Indochinois (Đặc san Đông Dương), số đầu tiên xuất bản cách đây 2 năm và là báo ra hai kỳ một tuần.

Bổ sung vào hoạt động của các tờ báo nói trên, tại Bắc Kỳ còn có hai tạp chí chuyên về vấn đề kinh tế, có kèm minh hoạ; tạp chí ra đời sớm nhất là Moniteur économique de l’Indochine (Cố vấn kinh tế Đông Dương) và Éveil économique de l’Indochine (Thức tỉnh kinh tế Đông Dương), hai tạp chí này đã đều đặn xuất bản hằng tuần ở Hà Nội trong suốt 7 năm qua.

Để khép lại việc liệt kê các báo và tạp chí tiếng Pháp do người Pháp điều hành ở Đông Dương, ta còn phải kể đến Revue Indochinoise (Tạp chí Đông Dương)Bulletin Économique de l’Indochine (Tập san Kinh tế Đông Dương) do nhà in Viễn Đông của Pháp trực tiếp kiểm soát và đảm nhiệm chi phí. Nhà in này cũng cho xuất bản một tập san mang tên Les Amis du Vieux Hué (Những người bạn Cố đô Huế) – một tạp chí nghiên cứu lịch sử và khảo cổ viết riêng về An Nam, mà mỗi số phát hành đều có thể được coi như những tác phẩm nghệ thuật.

Một bài viết về khai thác than ở Vân Đồn, Quảng Ninh cùng hình minh hoạ của “Revue Indochine” số ra ngày 1/8/1893. Nguồn: Thư viện số Gallica

Mặc dù có thể nói báo chí tiếng Pháp ở Đông Dương khá đầy đủ, nhưng rõ ràng ảnh hưởng của nó trước hết dựa vào mức độ độc lập của các tờ báo với chính quyền thuộc địa.

Trước năm 1881, các quy định về báo chí ở Pháp chưa từng được ban hành chính thức tại Nam Kỳ. Do đó, trong giai đoạn này, báo chí ở Nam Kỳ được xem là chịu tác động điều chỉnh của luật hình sự thông thường (các bộ luật của Pháp đã được ban hành từ tháng 9/1864), và trên thực tế lại dựa vào việc tuỳ nghi sắp xếp của các nhà chức trách chức trách thuộc địa.

Tình trạng nhập nhằng về mặt pháp lý này chấm dứt vào ngày 12/9/1881, khi đạo luật 29/7/1881 – luật cơ bản về chế độ báo chí ở Pháp, chính thức ban hành tại Nam Kỳ. Điều 1 của luật quy định: “Hoạt động in ấn và xuất bản sách là tự do”, Điều 5 nêu rõ rằng mọi tờ báo hay ấn phẩm định kỳ đều có thể được xuất bản mà không cần xin phép trước hay đặt tiền ký quỹ, chỉ cần thực hiện thủ tục khai báo theo quy định tại Điều 7 của bộ luật.

Tại Bắc Kỳ cũng tồn tại tình trạng pháp lý không rõ ràng tương tự về quyền và nghĩa vụ của nhà báo trong những năm đầu khi Pháp mới thiết lập chế độ. Trong thời kỳ này, có thể kể đến trường hợp một tờ báo bị cấm xuất bản vì các bài viết bị đánh giá là thiếu tôn trọng các đại diện của nước Pháp, giám đốc tờ báo ấy cũng bị trục xuất khỏi thuộc địa.

Tuy vậy, chế độ đặc biệt này đã chấm dứt với sắc lệnh ngày 8/9/1888, Điều 1 trong đó quy định các toà án ở Bắc Kỳ sẽ áp dụng hệ thống pháp luật dân sự và hình sự đang có hiệu lực tại Nam Kỳ.

Từ năm 1881 đối với Nam Kỳ và Bắc Kỳ là từ năm 1888, chế độ báo chí tiếng Pháp tại các xứ này cơ bản đã giống với chế độ tại chính quốc. Các đạo luật sửa đổi luật năm 1881 cũng được áp dụng tương tự tại Đông Dương. Do đó, mọi người đều có quyền tự do viết, in ấn và xuất bản tư tưởng của mình bằng tiếng Pháp với những điều kiện giống như ở Pháp, chỉ chịu những hạn chế quy định tại Điều 5 và Điều 6 của sắc lệnh ngày 30/12/1898.

Theo Điều 5 của sắc lệnh này, mọi hành vi do người châu Âu hay quân nhân kích động người châu Á chống lại chính quyền Pháp bằng các biện pháp đã nêu trong Điều 23 luật ngày 29/7/1881 (đặc biệt là dùng báo chí) sẽ bị xử phạt chiếu theo Điều 25 của luật này.

Ở Điều 6 của sắc lệnh trên, người châu Âu hay châu Á buôn bán, phân phát, trưng bày những hình vẽ, bản khắc, tranh màu, ký hiệu hay những tác phẩm nhạy cảm làm tổn hại đến lòng tôn kính dành cho giới chức Pháp sẽ bị xử theo những hình phạt quy định tại Điều 28 của luật ngày 29/7/1881 (giam tù từ 1 tháng đến 2 năm, phạt tiền từ 16 đến 2.000 francs).

Cũng đến lúc cần phải nhắc rằng trong chính sắc lệnh kể trên, việc lưu hành báo chí ngoại quốc tại Đông Dương có thể bị cấm bởi chính quyền.

Trên thực tế, với những hạn chế vừa kể trên, nếu xét tổng thể, chế độ báo chí tiếng Pháp ở Đông Dương nhìn chung khá tự do.

Cũng cần nói thêm để chỉ rõ rằng trong khoảng 25 năm trở lại đây, trường hợp các nhà chức trách thực hiện những hình phạt trên khá hiếm, chỉ chừng 3, 4 lần; cũng không dẫn đến những phán quyết ở toà án và chỉ nhằm vào những bài cơ bản là vô lễ với đại diện Pháp tại Đông Dương.

Thực tế, đặc điểm nổi bật của báo chí do người Pháp điều hành là tôn kính chính quyền, nhưng cần ngay lập tức nói rõ thêm đó là sự kính trọng đúng mực, không mang tính phục tùng hèn hạ.

Về mặt tài chính thì tất cả các tờ báo Đông Dương, chỉ trừ một, hai tờ, đều độc lập với chính quyền. Một số tờ có nguồn thu từ các hoạt động thông thường (đặt mua trước, bán theo số ra từng kỳ, cho đăng quảng cáo), đủ dùng để trang trải chi phí; thậm chí một số tờ còn có lãi. Những tờ báo khác thì nhận tài trợ tư nhân vững chắc, họ không cần phụ thuộc vào chính quyền nên cũng không lo lắng đến việc làm vừa lòng hay phật ý các nhà cầm quyền Đông Dương.

Niềm kính trọng mà những nhà báo Đông Dương thể hiện với chính quyền Pháp tại vùng Viễn Đông này không phải ở chỗ khép nép phục tùng; mà khi đề cập đến hầu hết các vấn đề quan trọng liên quan tới thực trạng và tương lai của thuộc địa, các nhà báo này không bao giờ ngần ngại, họ sẵn sàng nêu quan điểm, đóng góp ý kiến rõ ràng, phê phán bằng thái độ lịch sự nhưng không hề né tránh những chính sách của nhà cầm quyền, rồi đề xuất những giải pháp khác.

Ở phương diện này, tại Đông Dương có những tờ báo mang lập trường thuộc địa rất rõ ràng, bàn về quan hệ giữa Pháp và các xứ bảo hộ, các vấn đề giáo dục, tư pháp, công trình công cộng, và nói chung là mọi vấn đề liên quan đến lợi ích Đông Dương. Những quan điểm này thường được trình bày dưới hình thức không thua kém gì các tờ báo lớn ở chính quốc.

Để đánh giá ảnh hưởng của báo chí Đông Dương đầy đủ hơn, cần xem xét những điều kiện đặc thù ở xứ này. Mặc dù Đông Dương là viên ngọc quý nhất trong đế chế thuộc địa của Pháp, với ngân sách chi tiêu gần một tỷ franc và lợi ích kinh tế của Pháp trong thương mại, công nghiệp và nông nghiệp là rất lớn, nhưng thuộc địa này lại không có hiến pháp, không có một cơ quan đại diện thực sự của cộng đồng người Pháp, và Toàn quyền Đông Dương trên thực tế nắm giữ những quyền lực gần như mang tính quân chủ.

Trong bối cảnh đó, báo chí Đông Dương là lực lượng duy nhất có khả năng thực hiện việc giám sát các hành động của chính quyền, đồng thời cũng là tiếng nói liên tục đại diện và bảo vệ những nguyện vọng, yêu sách của người dân tại xứ này.

Trong những điều kiện như vậy, một nền báo chí; xét về nguyên tắc là tự do, độc lập trong định hướng chung, do những người giàu kinh nghiệm trong nghề vận hành và còn có những cộng tác viên hỗ trợ, trải khắp thuộc địa, những người đang trực tiếp đối diện với mọi khó khăn trong đời sống và có lợi ích gắn bó với sự phát triển toàn diện của Đông Dương; tất yếu phải trở thành nguồn sức mạnh. Sức mạnh này lại ngày càng được củng cố nhờ việc những tờ báo Đông Dương phổ biến rộng khắp các vùng thuộc địa; bởi ở Đông Dương, không người Pháp nào không đọc ít nhất một tờ báo xuất bản từ Sài Gòn, Hà Nội hay Hải Phòng; điều này xuất phát từ việc trình độ trí tuệ của nhóm độc giả này cao hơn mức trung bình của nước Pháp, cho thấy những người Đông Dương này không phải không có mối liên hệ ở Pháp, rằng những tờ báo Đông Dương cũng đang đi dần vào giới chính trị ở chính quốc, những người ngày càng đông đảo và quan tâm đến các vấn đề thuộc địa.

Tình hình báo chí Đông Dương như vậy không nằm ngoài tầm đánh giá của chính quyền và thời kỳ mà một vị Toàn quyền khoe khoang rằng mình không đọc báo Đông Dương đã lui vào dĩ vãng từ lâu, nhất là khi phải thừa nhận rằng nền báo chí này đã có những chuyển biến tích cực. Ngày nay, ở mọi cấp bậc, chính quyền Đông Dương sẵn sàng tìm kiếm việc hợp tác từ báo chí, thường xuyên cộng tác với họ để đưa những thông cáo hoặc cung cấp thông tin. Thậm chí, chính quyền còn dùng báo chí như một công cụ chuẩn bị dư luận cho những biện pháp mà thoạt nhìn có thể gây tranh cãi; hầu như họ luôn dè chừng những chỉ trích trên báo chí, đồng thời lưu tâm đáng kể tới chúng.

Dĩ nhiên, không phải báo chí Đông Dương không có điểm đáng chê trách. Tuy nhiên, trước khi đưa ra những phê phán đó, hoặc như thêm vào một tình tiết giảm nhẹ, cần xét đầy đủ những điều kiện đặc thù mà từ đó các tờ báo Đông Dương được soạn thảo, biên tập và in ấn.

Toà soạn của tờ “L’Avenir du Tonkin” đầu thế kỷ XX. Ảnh chụp bởi Pierre Dieulefils

Vào những giờ phút thời tiết oi bức nhất trong ngày, tại xứ sở nhiệt đới, toàn bộ công việc kể trên phải được tiến hành; đó là nhiệm vụ lặp đi lặp lại hằng ngày, suốt từ đầu năm tới cuối năm. Đối với nền báo chí Đông Dương, có lẽ sẽ hợp lý hơn nếu họ duy trì như thuở ban đầu, tức là xuất bản ba kỳ mỗi tuần, vì cách này sẽ giúp các bài xã luận thêm phần trau chuốt và nội dung của mỗi số báo sẽ “rôm rả” hơn. Càng có thêm cơ sở cho hệ thống này khi Đông Dương là xứ nằm ngoài các tuyến thương mại lớn của Viễn Đông – những tuyến chỉ đi gần bờ biển của nó. Đồng thời, các liên lạc điện tín với Trung Quốc, Singapore, Ấn Độ, và đặc biệt là với châu Âu và châu Mỹ đều khá chậm, thêm nữa là trong hầu hết các trường hợp thì việc này rất tốn kém, ngay cả khi đã xét mức giá ưu đãi dành cho báo chí. Tuy vậy, việc cạnh tranh đã biến các tờ báo Đông Dương hầu hết trở thành nhật báo, nên tất cả những yếu tố kìm hãm việc phát triển toàn diện của báo chí Đông Dương nên được coi như điều cảm thông cho họ. Gần đây việc đưa vào hoạt động trạm điện báo vô tuyến lớn ở Sài Gòn có khả năng giúp cho Đông Dương thoát khỏi tình trạng cô lập, đồng thời cho phép báo chí xứ này và cả độc giả của họ cập nhật thường xuyên các biến động chính trị, xã hội và kinh tế ở khu vực Viễn Đông. Dẫu vậy, phải thừa nhận rằng, ngay cả từ trước đây, người ta có thể phàn nàn báo chí Đông Dương quá tập trung vào phạm vi xứ này, chưa theo sát những vấn đề quan trọng đặt ra trong toàn bộ khu vực. Nhưng cũng cần ghi nhận trong điều kiện phương tiện còn hạn chế bởi những nguyên nhân nêu trên, một số ấn phẩm như Bulletin économique de l’Indochine, Bulletin financier de l’Indochine, và đặc biệt là L’Éveil économique de l’Indochine ngày càng dành thêm dung lượng cho các vấn đề kinh tế đặc thù của Xiêm, Đông Ấn, Hà Lan, miền Nam Trung Quốc và Nhật Bản, đồng thời đăng tải những bài viết rất đáng chú ý về các chủ đề này.

Sau phần trình bày sơ lược về nguồn gốc và hoạt động của báo chí do người Pháp điều hành ở Đông Dương, một câu hỏi về tình hình cơ sở vật chất cũng như tinh thần của các nhà báo Đông Dương bỗng nhiên hiện ra.

Nếu hiểu nhà báo chuyên nghiệp là những người làm báo gắn bó chính thức với một tờ báo thì số lượng nhà báo ở Đông Dương rốt cục hạn chế vô cùng: khoảng chừng 30 người Pháp. Trong số này, cần phân biệt những giám đốc, tổng biên tập với phóng viên hay biên tập viên thông thường.

Trong nhóm thứ nhất lại cần tách biệt những người sở hữu tờ báo và những người chỉ chịu trách nhiệm đại diện điều hành cho một công ty nào đó. Nhìn chung, các phóng viên và biên tập viên bình thường chỉ nhận được mức lương đủ cho việc đảm bảo một cuộc sống tương đối thoải mái, nhưng sự xa hoa thì hoàn toàn mất tăm.

Trong số các giám đốc kiêm chủ báo, chỉ có một người dường như thu về những khoản lợi nhuận đáng kể, những người còn lại chỉ có thể duy trì cuộc sống theo cách đàng hoàng. Xét về khía cạnh tài chính, rốt cuộc những giám đốc được các công ty bổ nhiệm lại là vị trí có lợi hơn, nhưng ngay cả khi giữ chức vụ này, điều kiện của họ cũng chưa đạt tới mức sung túc đáng kể.

Dường như trong những điều kiện nhìn chung không mấy hấp dẫn như vậy, số người ứng tuyển vào vị trí giám đốc hay biên tập của báo chí Đông Dương lẽ ra phải rất ít. Vậy mà trên thực tế, việc tuyển dụng đội ngũ chuyên môn này lại diễn ra khá dễ dàng.

Điều này một phần khởi nguồn từ việc nhà báo có cá tính tìm thấy cách thoả mãn khi hành nghề tại vùng đất mới, nơi mà mỗi ngày, ở một mức độ nhất định, chính họ cũng góp phần vào sự phát triển của vùng đất ấy. Ngoài ra, việc này còn vì vị trí giám đốc một tờ báo sẽ có uy tín đáng kể khi người đó biết gây dựng bằng tài năng, như thường thấy ở mọi vị giám đốc, sự lịch thiệp trong cách ứng xử và lối sống chuẩn mực nói chung.

Chân dung François-Henri Schneider, người sáng lập “Revue Indochinoise” và là chủ bút của tờ “L’Avenir du Tonkin”. Ảnh trong bộ sưu tập của nhà in F.H.Schneider chụp những năm đầu thế kỷ XX

Tuy vậy, có nên nhận xét rằng sự kính trọng không thể phủ nhận mà hầu hết các giám đốc của báo chí Đông Dương được hưởng sẽ còn lớn hơn nữa nếu một vài người trong số họ biết tránh xa những cuộc tranh luận nổ ra quá thường xuyên trên mặt báo về những vấn đề hoàn toàn mang tính cá nhân, một nhận xét đúng đắn cho các trường hợp này là các tờ báo cần tiết chế nhiều hơn.

Những nhà báo liên quan thực lòng cũng thừa hiểu và nhạy bén để mau chóng nhận ra rằng việc họ ngừng để cho công chúng trở thành người phân xử các bất đồng quan điểm trong nghề nghiệp của họ mới là điều có lợi cho tất cả. Với tinh thần đó, và để tiến tới mục tiêu ấy, các nghiệp đoàn báo chí được thành lập cả ở Sài Gòn lẫn Hà Nội, quy tụ các nhà báo chuyên nghiệp cùng những cộng tác viên thường xuyên của báo chí tại hai thành phố này. Nhưng, cho đến nay, hoạt động của các nghiệp đoàn này, dù là đối với hay vì lợi ích của các thành viên thì dường như còn khá hạn chế; và bởi lẽ đó, nhà báo Đông Dương vẫn coi trọng tính độc lập của mình hơn tất cả.

Liệu có phải tinh thần này cùng với trạng thái tư duy trái ngược nhau là nguyên nhân khiến báo chí thuộc địa ở Đông Dương và báo chí thuộc địa tại chính quốc hầu như không có mối liên hệ đáng kể? Chắc chắn là hai nền báo chí này phát triển trong tình trạng gần như chẳng biết gì về nhau. Thực tế thì báo chí thuộc địa ở chính quốc được tổ chức khá vững chắc, cho đến nay có nhiều hơn 14 tờ báo xuất bản đều đặn, hoặc là nhật báo, hoặc mỗi tuần ra một đến hai số.

Nếu biết phối hợp hành động với nhau thì các nhà báo Đông Dương, cũng như các nhà báo thuộc địa tại chính quốc, và ngay cả độc giả của họ cũng rõ ràng có được lợi ích lớn. Báo chí ở chính quốc có thể tiếp tục khai thác các vấn đề lớn đã được báo chí Đông Dương đề cập, đồng thời từ đó rút ra những tư liệu thực tế mà họ chắc chắn thiếu hụt ở Pháp. Ngược lại, các nhà báo Đông Dương có thể được đồng nghiệp tại Pháp cung cấp thông tin về diễn biến thực sự của dư luận tại chính quốc đối với các vấn đề thuộc địa, cũng như về đời sống của các nhóm lợi ích thuộc địa lớn tại Paris, Le Havre, Lyon, Marseille và Bordeaux.

Trong bối cảnh Đông Dương chưa có một tổ chức lập hiến hoàn chỉnh, những nỗ lực chung của hai nền báo chí này là hết sức cần thiết để thúc đẩy lợi ích của Đông Dương. Việc phối hợp hoạt động của báo chí thuộc địa cả ở Pháp lẫn đế quốc Viễn Đông này của ta sẽ góp phần đẩy nhanh và đảm bảo cho thắng lợi đó.

Phải nói thêm rằng báo chí thuộc địa ở chính quốc dường như không còn xem nhẹ quan điểm này nữa. Dù hiện tại, các vấn đề về châu Phi hay các thuộc địa lâu đời của Pháp vẫn chiếm ưu thế trên mặt báo, nhưng các tờ báo thuộc địa ở chính quốc ngày càng mở rộng, không chỉ đăng tải các tin tức vụn vặt về đời sống ở Đông Dương, mà còn quan tâm đến những vấn đề căn bản liên quan đến chế độ thống trị của Pháp tại Đông Dương và sự phát triển của thuộc địa này.

Xét cho cùng, những nhận xét trên mang tính rất khái quát. Không đi sâu vào phân tích chính sách và thông tin của từng tờ báo thuộc địa ở chính quốc, ít nhất cũng có thể đặc biệt ghi nhận rằng, ngoài Midi colonial (Thuộc địa phương Nam) – cơ quan tại Pháp của nghị sĩ đương nhiệm đại diện Nam Kỳ, ông Outrey, gần như là một tờ báo Đông Dương xuất bản tại Pháp, thì tờ báo lâu đời nhất trong số các báo thuộc địa ở Paris, La Dépêche coloniale (Tin nhanh thuộc địa), được thành lập từ 32 năm trước, mỗi ngày đều đăng một trang về Đông Dương và có uy tín cả tại chính quốc lẫn tại Đông Dương.

Tương tự, những nhận xét trên cũng không áp dụng cho La Revue du Pacifique (Tạp chí Thái Bình Dương), một ấn phẩm được Chính phủ Toàn quyền Đông Dương hỗ trợ rộng rãi, thành lập tại Pháp một cơ quan tuyên truyền về các vấn đề Đông Dương nói riêng và các vấn đề Viễn Đông nói chung, đưa thông tin ở mức vô cùng tin cậy.

Để kết thúc nghiên cứu phác họa khái lược về báo chí Đông Dương, còn phải đề cập đến báo chí An Nam, bao gồm cả các tờ báo tiếng Pháp do người An Nam điều hành và biên soạn, cũng như các tờ báo viết bằng tiếng An Nam.

Loại thứ nhất hiện nay có hai tờ, đều xuất bản tại Sài Gòn. Về mặt pháp lý, chúng coi như được hưởng chế độ luật báo chí của chính quốc; tuy nhiên, các giám đốc hay biên tập viên của các tờ báo này, do là người An Nam, vẫn chịu ảnh hưởng của pháp luật An Nam, đối với mọi vi phạm có thể bị quy kết bởi người An Nam hoặc người châu Á khác, trừ người Nhật.

Ngược lại, các báo bằng tiếng An Nam, nghĩa là toàn bộ do người An Nam biên soạn và sở hữu, lại phải theo chế độ xin phép trước, và giấy phép này có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào. Chỉ riêng điều đó khiến tính độc lập của chúng trở nên tương đối, và tốt hơn là nên như vậy vì lợi ích của nước Pháp lẫn của chính người bản xứ, chừng nào họ chưa đạt đến một trình độ giáo dục cao hơn.

Nam Phong tạp chí viết bằng chữ Quốc ngữ số xuất bản tháng 7/1917. Ảnh tư liệu

Nếu việc thường xuyên đọc các bài báo tiếng Pháp do người An Nam viết, thuộc sở hữu của người An Nam hình thành niềm kính trọng đối với chất lượng chung và thậm chí cả sự tinh tế của hình thức, thì những bài viết của các tờ báo thường thể hiện cảm nhận thiếu thực tế, những nhận định chưa chính xác, và đặc biệt là một niềm tự tôn dân tộc kèm tinh thần thù địch với nước Pháp, điều không thể phủ nhận và cũng không nên làm ngơ.

Do chỉ có một lượng độc giả rất hạn chế – chưa đến một nghìn người, và không đại diện cho những nguyện vọng của các thần dân hay người được bảo hộ ở An Nam, nên đáng tiếc thay những bài viết này nhìn chung vẫn coi như không đáng kể. Hệ quả sẽ khác biệt hoàn toàn nếu những bài viết bằng tiếng An Nam với tinh thần như trên được phổ biến trong quần chúng bản xứ vốn dễ thay đổi niềm tin và luôn có xu hướng tôn sùng mọi thứ mang dáng vẻ của một nền văn hóa trí thức cao hơn.

Dù các tờ báo bằng tiếng An Nam có bị kiểm soát, thì sự kiểm soát của chính quyền cũng không đến mức quá chặt chẽ để ngăn cản việc trong các tờ báo này thảo luận về những nguyện vọng của người An Nam, hay phê phán các hành động của chính quyền. Như vậy, một lần nữa, nước Pháp, vốn đã trang bị cho các thần dân và người được bảo hộ ở Đông Dương những cơ chế đại diện cho lợi ích của họ, lại thể hiện tinh thần tự do và tính chất phụ mẫu trong các chính sách thuộc địa của mình.

Báo chí bằng tiếng An Nam, hơn nữa, được kỳ vọng sẽ phát triển cùng với sự mở rộng ngày càng lớn của việc giảng dạy chữ quốc ngữ trong các trường làng.

Thậm chí, sự phát triển của báo chí tiếng Pháp ở Đông Dương có lẽ còn được đảm bảo chắc chắn hơn.

Trong những năm gần đây, Chính phủ Toàn quyền Đông Dương, theo định hướng của Albert Sarraut – hiện là Bộ trưởng Thuộc địa, trước đây là Toàn quyền Đông Dương – đề ra, đã xây dựng cả một hệ thống giáo dục, bắt đầu từ trường làng cho trẻ em An Nam và có thể lên tới bậc đại học, với các cấp trung gian như giáo dục Pháp – bản xứ, giáo dục bổ túc, giáo dục trung học, cùng với nhiều trường dạy nghề khác nhau.

Từ tất cả các cơ sở giáo dục dạy tiếng Pháp mở ra ở Đông Dương, mỗi năm có gần 35.000 học sinh ra trường. Và thực tế là phong trào ủng hộ việc học tiếng Pháp trong số những người được bảo hộ đã phát triển đến mức ở nhiều vùng, người ta tự nguyện quyên góp để xây dựng trường học với điều kiện là phải giảng dạy ngôn ngữ của Pháp.

Với bất kỳ ai có chút kinh nghiệm về tâm lý của những người được bảo hộ này, rõ ràng là các thế hệ người An Nam mới sẽ ưu tiên tìm đến các tờ báo tiếng Pháp để theo dõi tình hình biến động của thế giới, và đặc biệt là để cập nhật đời sống của chính đất nước mình từng ngày; từ đó, chỉ có thể nói rằng độ uy tín và sức ảnh hưởng của báo chí Đông Dương sẽ ngày một tăng.

Trong khi chờ đợi những triển vọng như vậy trở thành hiện thực, có thể khẳng định rằng, ở tình hình hiện tại, báo chí Đông Dương đang thực thi một ảnh hưởng mà ta cần phải nhận thức rõ; một ảnh hưởng từ trước đến nay luôn nằm trong việc phục vụ công cuộc tiến bộ và văn minh hóa mà nước Pháp theo đuổi tại xứ Viễn Đông này.■

De Lansalut

Mai Vân Kỳ dịch

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN