Để an toàn thực phẩm không còn là nỗi bất an thường trực

Thực trạng đáng báo động về mất an toàn thực phẩm

Những vụ ngộ độc thực phẩm liên tiếp xảy ra thời gian qua đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng mất an toàn thực phẩm, từ thức ăn đường phố, bếp ăn tập thể cho đến các loại thực phẩm không bảo đảm chất lượng lưu hành công khai trên thị trường. Chỉ trong sáu tháng đầu năm 2026, cả nước ghi nhận 58 vụ ngộ độc khiến 1.573 người mắc và 10 người tử vong. Đáng chú ý, số vụ xảy ra tại các loại hình cơ sở kinh doanh tự phát và bếp ăn tập trung này đều gia tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước.

Quy mô của thực trạng này càng hiện rõ qua số liệu xử lý vi phạm. Theo Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (Bộ Công an), trong sáu tháng đầu năm, lực lượng Công an đã phát hiện, xử lý 5.992 tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, tăng 102% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó cơ quan chức năng đã khởi tố 123 vụ án với 249 bị can, đồng thời xử phạt hành chính hơn 5.800 vụ với tổng số tiền phạt trên 61 tỷ đồng. Song song với đó, lực lượng quản lý thị trường cũng đã kiểm tra 23.715 vụ việc, xử lý gần 20.000 vụ vi phạm với tổng giá trị hơn 330 tỷ đồng. Riêng lĩnh vực an toàn thực phẩm, có 2.124 vụ đã bị xử phạt khoảng 16,9 tỷ đồng và 128 vụ có dấu hiệu hình sự đã được chuyển giao cho cơ quan điều tra.

Đằng sau những con số ấy là hàng loạt vụ việc quy mô lớn liên quan đến thực phẩm không rõ nguồn gốc. Điển hình như cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 20 tấn nội tạng động vật đông lạnh tại TP Hồ Chí Minh; hơn 7 tấn nội tạng không có hóa đơn, chứng từ tại Hà Nội; và hơn 2,5 tấn sản phẩm động vật đông lạnh nhập lậu tại Quảng Bình. Tất cả vụ việc này đều cho thấy tính chất phức tạp và tinh vi của tội phạm an toàn thực phẩm hiện nay.

Đáng lo ngại hơn cả là tính chất nghiêm trọng của những vụ việc bị phanh phui. Điển hình là vụ việc gần 300 tấn thịt lợn nhiễm bệnh được dùng để chế biến suất ăn cho trường học; khoảng 130 tấn thịt lợn nhiễm dịch khác được đưa vào sản xuất thực phẩm chế biến. Thậm chí, có cơ sở sử dụng 6-Benzylaminopurine (một loại chất kích thích tăng trưởng bị cấm) để sản xuất giá đỗ hoặc dùng hóa chất công nghiệp sơ chế thực phẩm. Nguy hiểm hơn, thị trường còn xuất hiện hàng loạt mặt hàng giả mạo, từ gia vị, thịt, muối i-ốt giả cho đến thực phẩm bổ sung và thực phẩm bảo vệ sức khỏe.

Hiện trường lò mổ tuồn gần 300 tấn lợn bệnh vào trường học và chợ đầu mối ở Hà Nội. Ảnh: CAHN

Việc phát hiện, khởi tố kịp thời các vụ án nói trên đã ngăn chặn khối lượng lớn thực phẩm không an toàn tiếp tục lưu thông, giảm thiểu nguy cơ xâm hại sức khỏe cộng đồng, đồng thời tạo tác động cảnh báo mạnh mẽ đối với thị trường. Song, nhìn từ chiều ngược lại, mức tăng đột biến của cả số vụ vi phạm lẫn số vụ ngộ độc cho thấy thực phẩm bẩn không còn là hiện tượng cá biệt. Thực trạng này đang len lỏi từ gánh hàng rong, bếp ăn tập thể đến những sản phẩm bày bán công khai trên thị trường, đe dọa trực tiếp đến bữa ăn hằng ngày của người dân.

Vì sao thực phẩm bẩn vẫn còn “đất sống”?

Trước hết, lợi nhuận vẫn được một bộ phận người sản xuất, kinh doanh đặt lên trên sức khỏe cộng đồng. Để giảm chi phí, kéo dài thời gian bảo quản, cải thiện hình thức sản phẩm hoặc thu lợi bất chính, không ít cơ sở sẵn sàng sử dụng nguyên liệu kém chất lượng, phụ gia ngoài danh mục, chất cấm và hóa chất độc hại. Một khi đạo đức kinh doanh bị xem nhẹ và lợi ích trước mắt trở thành mục tiêu chi phối, các quy định về an toàn thực phẩm sẽ ngay lập tức bị phớt lờ.

Hai là, nhận thức và thói quen tiêu dùng của một bộ phận người dân còn nhiều hạn chế. Do chưa đánh giá đầy đủ những hậu quả lâu dài của thực phẩm bẩn đối với sức khỏe, nhiều người vẫn lựa chọn sản phẩm chủ yếu dựa vào giá rẻ, hình thức bắt mắt hoặc tính tiện lợi. Mặt khác, thói quen kiểm tra nhãn mác, hạn sử dụng, nguồn gốc xuất xứ và điều kiện bảo quản chưa được hình thành phổ biến. Chính sự dễ dãi trong nhu cầu tiêu dùng này đã vô tình tạo ra mảnh đất dung dưỡng cho các cơ sở làm ăn gian dối tiếp tục tồn tại.

Ba là, chế tài và hiệu quả xử lý vi phạm chưa đủ sức sức răn đe. Theo số liệu của ngành Y tế, năm 2025, trong tổng số 334.764 cơ sở được kiểm tra, cơ quan chức nằng phát hiện tới 20.791 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (chiếm 6,21%). Thế nhưng, chỉ có 6.057 cơ sở trong số đó bị xử lý hành chính, tương đương hơn 29%. Đánh chú ý, với tổng số tiền phạt hơn 33,83 tỷ đồng, mức phạt bình quân trên mỗi cơ sở chỉ vỏn vẹn khoảng 6,8 triệu. Chế tài hành chính quá thấp này hoàn toàn lép vế trước khoản siêu lợi nhuận có được từ việc sử dụng nguyên liệu trôi nổi hay cắt giảm quy trình an toàn. Một khi lợi ích từ hành vi vi phạm lớn hơn nhiều so với chi phí phải trả, việc ngăn chặn nguy cơ tái phạm là điều bất khả thi.

Bốn là, hoạt động buôn lậu qua biên giới và các tuyến vận chuyển không chính thức đang trở thành cửa ngõ chính để thực phẩm bẩn thẩm lậu vào nội địa. Thực trạng này xuất phát từ sự thiếu trách nhiệm, hạn chế về nghiệp vụ và thiếu hụt thiết bị kiểm tra của một bộ phận cán bộ, lực lượng làm nhiệm vụ tại biên giới, cửa khẩu. Nghiêm trọng hơn, một số cán bộ đã có hành vi tiếp tay, móc nối với các đối tượng buôn lậu để đưa hàng hóa trái phép vào thị trường, trực tiếp làm tê liệt hệ thống phòng thủ an toàn thực phẩm từ cửa ngõ.

Năm là, công tác kiểm soát an toàn thực phẩm đang gặp thách thức lớn trên cả kênh truyền thống lẫn hiện đại. Một mặt, điều kiện bảo quản, vệ sinh và nguồn gốc thực phẩm tại nhiều chợ, siêu thị, nhà hàng hay bếp ăn tập thể vẫn chưa được bảo đảm. Mặt khác, sự bùng nổ của thương mại điện tử đang vượt trước năng lực quản lý. Việc giao dịch hàng hóa liên tỉnh, xuyên biên giới trên không gian mạng đang gây ra những khó khăn chưa từng có cho khâu truy xuất nguồn gốc cũng như xử lý vi phạm.

Số thuốc giả, thực phẩm chức năng cực lớn được Công an tỉnh Thanh Hóa triệt phá ngày 15/2/2026. Ảnh: Báo Tuổi Trẻ

Sáu là, cơ chế quản lý an toàn thực phẩm hiện nay đang lâm vào tình trạng phân tán, dẫn đến thiếu hiệu quả. Cụ thể, trách nhiệm quản lý nhà nước đang bị “xé lẻ” cho 3 đơn vị: Bộ Y tế (với Cục An toàn thực phẩm chịu trách nhiệm chung), Bộ Nông nghiệp và Môi trường (chịu trách nhiệm khâu sản xuất nông, lâm, thủy sản), và Bộ Công Thương (chịu trách nhiệm về công nghiệp thực phẩm và hệ thống bán lẻ). Do Bộ Y tế không có quyền chỉ đạo trực tiếp các Bộ khác, dẫn đến thiếu sự phối hợp thống nhất, đặc biệt là ở những khâu “nhạy cảm” như chuyển giao giữa sản xuất ban đầu, chế biến và phân phối. Bên cạnh đó, dù đã phân cấp mạnh xuống địa phương, nhưng chính quyền cơ sở lại rơi vào tình trạng “ba thiếu”: thiếu nguồn nhân lực, thiếu trang thiết bị kiểm tra, giám định mẫu, và thiếu cán bộ thanh tra có trình độ chuyên môn.

Bảy là, các quy định hiện hành đang tập trung quá mạnh vào “tiền kiểm”, (cấp giấy phép, thẩm định điều kiện hoạt động), nhưng lại xem nhẹ “hậu kiểm” và quản lý rủi ro. Thực tế cho thấy, một cơ sở ăn uống sau khi được cấp chứng nhận thường có xu hướng ỉ lại vào văn bản pháp lý này để hoạt động. Công tác thanh tra, hậu kiểm thường chỉ được kích hoạt khi có phản ánh từ dư luận hoặc xảy ra sự cố nghiêm trọng. Hệ quả tất yếu là nhiều sai phạm chỉ bị phát hiện khi thực phẩm bẩn đã lưu thông rộng rãi trên thị trường và gây ra tác hại cho sức khỏe người tiêu dùng.

Thực trạng trên đã trực tiếp tạo ra kẽ hở cho các hành vi gian lận, lừa đảo bùng phát. Đáng chú ý, phần lớn các vi phạm về hàng giả hay thực phẩm bẩn hiện nay đều do lực lượng Công an chống tội phạm phát hiện và xử lý. Thực tế này này phản ánh rõ sự thiếu hiệu quả trong công tác quản lý, kiểm soát thường xuyên của các cơ quan chuyên trách.

Cái giá phải trả

Hậu quả của thực phẩm bẩn trước hết đổ lên sức khỏe con người, theo hai cấp độ.

Ở cấp độ cấp tính, các loại thực phẩm chứa hóa chất, phụ gia độc hại, hoặc bị nhiễm bệnh, biến chất có thể gây ngộ độc tức thời với các biểu hiện đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy và rối loạn tiêu hóa. Trong những tình huống nghiêm trọng, thực phẩm bẩn sẽ dẫn đến suy hô hấp, sốc nhiễm độc, đe dọa trực tiếp tính mạng người bệnh.

Nguy hiểm hơn là cấp độ mạn tính. Các hóa chất, phụ gia độc hại tích lũy lâu dài trong cơ thể, gây rối loạn chức năng gan, thận, suy giảm miễn dịch, ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa, tim mạch, nội tiết và sức khỏe sinh sản, đồng thời làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính, trong đó có ung thư. Điển hình như Formol – chất có độc tính cao – tuyệt đối không được phép dùng trong bảo quản thực phẩm; việc cố tình sử dụng nó để kéo dài thời gian bảo quản, nói thẳng là hành vi đầu độc cộng đồng.

Đối với thực phẩm nhiễm bệnh, rủi ro không chỉ dừng lại ở người tiêu dùng trực tiếp. Mầm bệnh từ nguồn này có thể nhanh chóng lây lan thành dịch, đe dọa trực tiếp đến an toàn sinh học và sức khỏe cộng đồng. Đây chính là lời cảnh báo nghiêm khắc từ các vụ việc tiêu thụ thịt lợn nhiễm dịch bị phanh phui thời gian qua.

Không dừng lại ở việc tàn phá sức khỏe giống nòi, hệ lụy của thực phẩm bẩn còn kéo lùi sự phát triển kinh tế và đè nặng lên an sinh xã hội. Ở góc độ vĩ mô, các vụ ngộ độc thực phẩm và tỷ lệ bệnh tật gia tăng từ nguồn thực phẩm độc hại đã trực tiếp tạo ra gánh nặng khổng lồ cho hệ thống y tế, làm quá tải các bệnh viện và tiêu tốn hàng nghìn tỷ đồng chi phí điều trị của người dân cũng như quỹ bảo hiểm xã hội. Ở góc độ kinh tế, sự lộng hành của thực phẩm kém chất lượng gây ra sự cạnh tranh bất bình đẳng, đẩy các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân làm ăn chân chính vào thế khó khăn, đồng thời làm suy giảm nghiêm trọng uy tín và giá trị xuất khẩu của nông sản Việt Nam trên trường quốc tế. Khi niềm tin của người tiêu dùng bị khủng hoảng, nền kinh tế nội địa phải gánh chịu những tổn thất vô hình nhưng vô cùng nặng nề.

Đồng bộ các giải pháp bảo đảm an toàn thực phẩm bền vững

Trước hết, cần coi trọng công tác truyền thông, giáo dục là nền tảng cốt lõi để thay đổi nhận thức và hành vi của cả người mua lẫn người bán. Về phía người tiêu dùng, cần được trang bị đầy đủ kiến thức để chủ động lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, nhận biết những dấu hiệu bất thường và nói không với hàng hóa trôi nổi giá rẻ. Đồng thời mỗi người dân phải là một “giám sát viên”, kịp thời phản ánh với cơ quan chức năng khi phát hiện thực phẩm ôi thiu, nhiễm bệnh hoặc có dấu hiệu sử dụng hóa chất cấm.

Đối với chủ thể sản xuất và kinh doanh, hoạt động tuyên truyền phải giúp họ thấu hiểu rằng mỗi sản phẩm đưa ra thị trường đều gắn liền với sinh mạng của người tiêu dùng. Tuyệt đối không vì lợi nhuận trước mắt mà sử dụng chất cấm, thuốc bảo vệ thực vật sai quy định hoặc cố tình tống tán ra thị trường gia súc, gia cầm mắc bệnh, chết dịch thuộc diện buộc phải tiêu hủy. Để làm được điều này, các cơ quan thông tấn, báo chí, mạng xã hội, chính quyền cơ sở và các tổ chức xã hội cần phối hợp hành động thường xuyên. Nội dung truyền thông cần cụ thể, dễ hiểu, vừa hướng dẫn người dân cách tiêu dùng thông thái, vừa vạch trần phương thức, thủ đoạn gian lận vi phạm mới để toàn xã hội chủ động phòng ngừa.

Thứ hai, bên cạnh công tác giáo dục và vận động, cần phải lên án mạnh mẽ và xử lý nghiêm các hành vi cố tình sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, thực phẩm bẩn hoặc sử dụng nguyên liệu gây nguy hại cho sức khỏe con người. Theo đó, hình phạt đưa ra phải hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra cho xã hội. Vụ bê bối sữa nhiễm melamine tại Trung Quốc năm 2008 là một minh chứng điển hình: hành vi cố ý pha hóa chất vào nguyên liệu sữa đã khiến ít nhất sáu trẻ em tử vong và khoảng 300.000 trẻ bị ảnh hưởng sức khỏe. Kết cục là hai đối tượng trực tiếp tham gia sản xuất, cung cấp loại nguyên liệu độc hại này đã nhận án tử hình. Bài học đắt giá đó cho thấy, đối với hành vi gian lận thực phẩm có tổ chức, bất chấp tính mạng con người vì siêu lợi nhuận, việc xử lý không thể chỉ dừng ở các chế tài hành chính, như phạt tiền hay đình chỉ hoạt động. Thay vào đó, cơ quan chức năng cần phát chủ động hiện kịp thời, điều tra đến cùng, xử lý đúng người, đúng tội và bảo đảm kẻ thủ ác phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý trước pháp luật.

Thứ ba, phải chấn chỉnh và nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, trước hết ở các lực lượng kiểm dịch, quản lý thị trường, hải quan và kiểm tra chuyên ngành. Song song với việc củng cố đội ngũ, cần cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu, đồng thời trang bị đủ phương tiện kiểm nghiệm kỹ thuật hiện đại để chủ động truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Những cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm, yếu kém về nghiệp vụ hoặc có hành vi tiêu cực, tiếp tay cho sai phạm phải bị kiên quyết loại khỏi bộ máy và xử lý nghiêm minh trước pháp luật; danh tính và hình thức kỷ luật cần được công khai, minh bạch để răn đe. Đặc biệt cần khẩn trương tiến tới xây dựng mô hình một đầu mối thống nhất quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương theo đúng định hướng đề xuất của Bộ Y tế nhằm xóa bỏ triệt để tình trạng phân tán, chồng chéo và khoảng trống trách nhiệm bấy lâu nay.

Thứ tư, siết chặt công tác kiểm soát nguồn gốc, điều kiện bảo quản và vệ sinh an toàn thực phẩm tại hệ thống chợ, siêu thị, nhà hàng và các bếp ăn tập thể. Quy định bắt buộc mọi hàng hóa lưu thông phải có đầy đủ nhãn mác, giấy tờ chứng minh xuất xứ rõ ràng và còn hạn sử dụng. Các cơ sở kinh doanh, chế biến phải trang bị đầy đủ phương tiện bảo quản đạt chuẩn, kiên quyết loại bỏ thực phẩm tồn đọng, ôi thiu hoặc biến chất. Đông thời, cơ quan chuyên môn cần tăng cường hoạt động kiểm tra định kỳ lẫn đột xuất và lấy mẫu xét nghiệm toàn diện, từ nguồn nguyên liệu đầu vào, quy trình chế biến, cho đến khâu giám sát tiêu hủy các sản phẩm không đạt yêu cầu.

Thứ năm, đẩy mạnh xã hội hóa công tác kiểm tra, kiểm nghiệm thực phẩm nhằm giải quyết triệt để bài toán thiếu hụt nhân lực của bộ máy quản lý. Trước thực tế quy mô chăn nuôi, giết mổ và cung ứng nông sản ngày càng mở rộng, lực lượng chức năng không thể bao quát toàn diện. Vì vậy, Nhà nước cần nghiên cứu xã hội hóa hoạt động kiểm tra, kiểm nghiệm thực phẩm theo mô hình tương tự đăng kiểm giao thông. Các doanh nghiệp đủ điều kiện sẽ được được cấp phép đảm nhiệm từng địa bàn cụ thể dưới sự quản lý, điều hành, giám sát của cơ quan y tế địa phương. Để mô hình này vận hành minh bạch, hiệu quả, việc xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ, quy định rõ ràng về tiêu chuẩn hoạt động, phạm vi trách nhiệm và cơ chế hậu kiểm là điều kiện bắt buộc.

Lực lượng Công an đẩy mạnh tuyên truyền, đồng thời giám sát việc chấp hành các quy định về an toàn thực phẩm của người dân. Ảnh: Công an thành phố Cần Thơ

Thứ sáu, cần đẩy mạnh xây dựng ứng dụng và xây dựng nền tảng dữ liệu quốc gia chuyên ngành về an toàn thực phẩm. Hệ thống này cần tích hợp đồng bộ thông tin về sản phẩm, giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm, cũng như toàn bộ quá trình sản xuất, vận chuyển đến phân phối. Đây sẽ là công cụ cốt lõi hỗ trợ cơ quan chức năng quản lý, truy xuất nguồn gốc và xác định trách nhiệm pháp lý khi xảy ra vi phạm, đồng thời là kênh tra cứu tin cậy giúp người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm an toàn. Song song với đó, pháp luật cần quy định rõ ràng trách nhiệm của các sàn thương mại điện tử và mạng xã hội trong việc xác thực danh tính người bán, chủ động gỡ bỏ sản phẩm vi phạm, lưu trữ dữ liệu giao dịch và cung cấp thông tin kịp thời cho cơ quan quản lý khi được yêu cầu.

Thứ bảy, phải siết chặt tối đa công tác kiểm soát an toàn thực phẩm tại các hệ thống cửa khẩu và khu vực biên giới. Thực tế hàng lậu, thực phẩm bẩn qua biên mậu thời gian qua đã bộc lộ những lỗ hổng an ninh kinh tế nghiêm trọng cần phải khẩn trương khắc phục. Vì vậy, Nhà nước cần tập trung củng cố lực lượng Hải quan, Biên phòng và các cơ quan kiểm dịch chuyên ngành, đồng thời ưu tiên đầu tư trang thiết bị kiểm nghiệm nhanh, hiện đại, xây dựng và hệ thống chia sẻ dữ liệu trực tuyến liên thông giữa các lực lượng. Khi phát hiện các sai phạm có yếu tố xuyên biên giới, cơ quan chức năng Việt Nam cũng phải chủ động kích hoạt cơ chế trao đổi thông tin với các quốc gia láng giềng nhằm phối hợp truy vết nguồn hàng, triệt phá tận gốc đường dây buôn lậu ngay từ nước bạn.

Bảo đảm an toàn thực phẩm không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là vấn đề chiến lược, gắn trực tiếp với sức khỏe, chất lượng cuộc sống và tương lai của toàn dân. Những giải pháp nêu trên sẽ giúp khắc phục các bất cập cấp bách hiện nay. Tuy nhiên, về lâu dài, Việt Nam cần khẩn trương xây dựng một chiến lược tổng thể, bài bản và thống nhất. Trong đó toàn bộ hệ sinh thái từ sản xuất, chế biến, bảo quản đến vận chuyển, phân phối phải được tiêu chuẩn hóa. Hoạt động cung ứng, dịch vụ lưu thông hàng hóa phải được tổ chức chặt chẽ, đi đôi với việc đầu tư hệ thống kho lạnh và kiểm nghiệm theo hướng hiện đại. Chỉ khi hình thành được một chuỗi thực phẩm an toàn, minh bạch và có khả năng kiểm soát xuyên suốt, công tác bảo vệ sức khỏe người dân mới đạt hiệu quả bền vững. Chúng ta cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc lời căn dặn mang tầm chiến lược của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: “Nếu ăn uống không an toàn, xây bao nhiêu bệnh viện cũng không thể đủ được, đào tạo bao nhiêu bác sĩ cũng không thể giải quyết được việc này”.■

Hiển Minh

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN