Làng xã Việt Nam đã hình thành và phát triển như một đơn vị cộng đồng tự quản đặc thù. Theo thời gian, dù có sự can thiệp của bên ngoài, cấu trúc và phong tục của các làng xã hầu như vẫn giữ được tính ổn định. Tạp chí Phương Đông trích dịch và giới thiệu Chương 1, phần 3 quyển “Người dân An Nam: phong tục, tín ngưỡng và truyền thống” (Les peuple annamite: ses mœurs, croyances et traditions) của tác giả Eugène Langlet xuất bản năm 1913 với những tìm hiểu tương đối chi tiết về làng xã Việt Nam xưa.
Làng xã Việt Nam hình thành từ những năm trước Công nguyên (TCN). Khi đó, Nhà nước cấp đất cho người dân sau khi họ đóng thuế đất ba năm, phong tục này còn duy trì tới ngày nay. Dần dần, những người khác đến định cư quanh những cư dân đầu tiên đó và như vậy, các làng hình thành. Vào năm 43 TCN, một vị Hoàng đế Trung Hoa đã ban chiếu về việc tổ chức và thành lập các làng thành các xã. Do tính cách cố hữu của người An Nam, những quy đinh này hầu như không thay đổi nhiều và vẫn được duy trì.
Trước hết, cần phân biệt rõ làng và xã. Về nguyên tắc, dù là một cụm dân cư duy nhất hay gồm nhiều thôn nhỏ, mỗi làng đều coi như hình thành một xã. Nhưng đôi khi hai hay ba làng nhỏ; lớn hơn một xã thông thường, mà mỗi làng nhỏ có một hội đồng kỳ mục; tập hợp lại tạo thành một xã với một hội đồng hoàn chỉnh và vì thế hội đồng này có quyền hạn lớn hơn.
Xã ở An Nam được coi là một pháp nhân trong mối quan hệ với các xã khác, với nhà nước hoặc với những cá nhân có đầy đủ các quyền công dân. Xã có thể sở hữu, quản lý và mua lại tài sản; nhưng việc bán tài sản lại hạn chế do các điều kiện nhất định. Đối với động sản, xã có thể chuyển nhượng tùy ý, nhưng với bất động sản, xã phải tuân theo chiếu chỉ của Hoàng đế Minh Mạng ban hành vào năm 1835 nhằm ngăn việc các xã biến mất.
Sắc lệnh này cấm bán toàn bộ tài sản công của xã, nhưng trong trường hợp cần thiết, cho phép xã cầm cố hoặc bán quyền sử dụng tài sản công trong thời hạn ba năm nhưng không được vượt quá thời gian đó. Xã cũng có thể vay tiền từ các cá nhân, và để đảm bảo, xã sẽ cung cấp một biên nhận kèm lãi suất cho số tiền vay hoặc một phần ruộng công.
Xã còn có cách khác để huy động tiền mà không cần bán hoàn toàn tài sản: đó là bán nhưng kèm điều kiện chuộc lại, các tài sản đã cầm cố phải được chuộc lại trong vòng 30 năm; nếu vượt quá thời gian này, tài sản sẽ thuộc quyền sở hữu của người mua.
Ruộng lúa công của xã được canh tác chung, mỗi người dân phải đóng góp một phần công như nhau. Hoa lợi từ các ruộng này được gom lại trong một nhà kho hoặc tại chùa và bán cho người nào muốn mua. Số tiền thu từ vụ mùa được sung vào ngân sách xã; tuy nhiên, nếu số tiền này không đủ để trang trải cho các chi phí và nhu cầu, xã sẽ thu các khoản tiền nho nhỏ trong một số dịp, chẳng hạn như khoảng 1 đồng franc khi tổ chức đám cưới, tiền phạt khi xảy ra tranh chấp… Cuối cùng, nếu các nguồn thu này vẫn không đủ và xã cần tiền để xây dựng các công trình hoặc trả nợ, xã sẽ ra yêu cầu tất cả dân làng đóng góp. Ruộng công cũng cần nộp thuế đất.

Xã tự quản lý an ninh trật tự của mình; trước khi người Pháp tới chiếm đóng, ở xã không hề có lực lượng quản lý an ninh nào khác. Không có lính canh đồng hay cảnh sát; mỗi người dân tự bảo vệ ruộng nương của mình nếu thấy cần thiết, và vào ban ngày, các kỳ mục đảm bảo trật tự trong làng. Ban đêm, người ta đóng cổng lũy tre – một lớp rào chắn kiên cố bao quanh mỗi cụm dân cư, và dân làng thay phiên nhau giữ trật tự bằng cách cử người gác và tuần tra. Tại mỗi cổng có một vọng gác nhỏ hoặc một nhà canh, nơi có người túc trực cùng một chiếc trống để báo động và truyền tin từ trạm này sang trạm khác. Vào ban đêm, không thể đột nhập vào làng, trừ khi làng nằm trên một tuyến đường lớn thường xuyên có người qua lại.
Xã tự đảm nhận các công trình công cộng của mình. Đối với những công trình liên quan tới nhiều xã, chẳng hạn như kênh rạch, đê điều… các hội đồng kỳ mục sẽ tự thỏa thuận với nhau. Trong trường hợp không đạt được sự đồng thuận, nếu một trong các chính quyền xã đánh giá công trình là cần thiết, họ sẽ trình vụ việc lên Chánh tổng hoặc quan lại, quan tỉnh để đưa ra các quyết định. Những công trình này thường đơn giản, hầu như luôn do lao dịch trong xã thực hiện.
Một hội đồng quản lý xã gồm những người đàn ông được kính trọng nhất trong khu vực, với số lượng thành viên hội đồng thay đổi theo quy mô của xã. Chính quyền này gọi là Hội đồng kỳ mục, có quyền uy lớn và được dân làng kính trọng. Hội đồng thường cai quản anh minh; rất kiên định, tôn trọng các truyền thống, hiếm khi dám thực hiện những dự án táo bạo hay sáng kiến vụng về có thể làm mất uy tín. Các quyết định của hội đồng, chỉ trừ một vài ngoại lệ hiếm có, thường được người dân chấp nhận mà không phàn nàn. Xã bị đánh thuế chung và các kỳ mục trong hội đồng phân bổ thuế giữa từng người dân. Thuế của các loại đất khác nhau quy định dựa trên hình thức canh tác của từng loại đất, hội đồng chỉ cần yêu cầu mỗi người nộp thuế theo diện tích đất họ sở hữu. Hầu như không có sự thiên vị, ngoại trừ những người quá nghèo khổ, những người này sẽ nhận hỗ trợ từ quỹ chung của xã.
Các kỳ mục cũng là người thực hiện những nhiệm vụ hành chính cho dân cư trong xã, không hề tồn tại các công chứng viên, cũng không có việc đăng ký tài sản như cách hiểu ở Pháp. Họ cũng là những thẩm phán đầu tiên giải quyết mọi vấn đề chính trị hoặc dân sự liên quan đến người dân trong xã.

Cư dân trong làng phân thành hai hạng: những người đã đăng ký – dân bộ, hay nói cách khác là những người có tên trong danh sách đóng thuế thân; và người chưa đăng ký, dân ngoại, những người không đóng loại thuế này. Những người không đóng thuế theo yêu cầu phải thực hiện lao dịch cho làng; có thể nói rằng họ phải chịu lao dịch bất cứ khi nào được yêu cầu, ngược lại, về nguyên tắc, những người đã đăng ký được miễn lao dịch. Ở một số làng, người ta chỉ ghi vào danh sách một phần những người có khả năng trả thuế thân, do lo ngại không thể đáp ứng các yêu cầu từ nhà nước, một số xã chỉ khai báo một nửa số người trưởng thành, và việc thiếu các sổ hộ tịch khiến việc kiểm soát thành ra bất khả thi.
Danh sách những người phải nộp thuế thân do xã lập ra; khi một người trong danh sách qua đời hay mất tích, người khác sẽ thế vào chỗ thiếu. Tuy nhiên, nếu người bị thay thế quay trở về, cả hai đều sẽ đứng tên trong danh sách, vì người bổ sung trước đó đã đáp ứng đủ điều kiện để ghi danh. Số dân của một xã trung bình gấp 15 lần số lượng người có tên trong danh sách dân bộ.
Từ những dân bộ, người ta chọn ra các kỳ mục, ưu tiên những người có tiếng thơm về đức hạnh, giàu có, phẩm chất, v.v. Các kỳ mục khác cũng bầu cho người trong danh sách để trở thành kỳ mục. Không có luật nào quy định việc bầu cử, họ tiến hành theo nhu cầu. Những người dân ngoại không có quyền tham gia ý kiến vào các việc chung của xã.
Các kỳ mục phân thành hai loại: 1. Đại kỳ mục, người nắm giữ quyền lực hành chính; 2. Tiểu kỳ mục, người chịu trách nhiệm thực thi. Số lượng kỳ mục tùy thuộc vào quy mô của xã, nhưng luôn luôn có một Lý trưởng.
Lý trưởng hay xã trưởng (còn được gọi là ông Xã) thuộc nhóm đại kỳ mục và do các đại kỳ mục khác bầu lên. Đây là chức vụ duy nhất trong xã mà việc bổ nhiệm cần chính quyền cấp tỉnh phê chuẩn. Đôi khi, người ta so sánh Lý trưởng với thị trưởng ở các xã của Pháp, nhưng điều này không đúng, vì chức năng của Lý trưởng khác hoàn toàn. Xét về mặt tư pháp, ông không phải người đứng đầu trong làng mà thực chất là người xếp cuối cùng trong hàng ngũ đại kỳ mục. Lý trưởng là người đầu tiên thi hành các mệnh lệnh của Hội đồng kỳ mục; ông cũng nhận lệnh từ chính quyền, truyền đạt và thực hiện chúng. Ông thu thuế và nộp lại cho chính quyền, đồng thời giữ con dấu của xã – biểu tượng cho chức trách của ông – và đóng dấu vào các văn bản hành chính. Một văn bản chỉ có giá trị pháp lý khi có con dấu cùng chữ ký của Lý trưởng và một kỳ mục. Lý trưởng phải nắm bắt mọi việc, lo liệu mọi thứ và chịu trách nhiệm cho tất cả. Nói cách khác, ông là người mà xã ủy quyền toàn phần, có trách nhiệm và lo toan mọi phiền toái mà chức vụ này mang lại. Nếu ông hoàn thành tốt nhiệm vụ và làm mọi người hài lòng, ông có thể được bổ nhiệm vào chức cao hơn trong hàng ngũ đại kỳ mục. Có thể chuyển giao chức vụ Lý trưởng từ người này sang người khác theo yêu cầu của chính người đương chức hoặc của người dân trong xã. Lợi ích đáng kể duy nhất mà chức vụ này đem lại là việc miễn trừ thuế thân. Ở những xã lớn, một số tiểu kỳ mục sẽ hỗ trợ Lý trưởng giải quyết khối lượng công việc đa dạng.
Nhìn chung, dưới đây là thành phần của một Hội đồng kỳ mục tại một làng lớn.
Đại kỳ mục:
Trên thực tế, hiếm khi một xã có đủ tất cả các vị trí trên. Ngoài ra, còn có thể có một hay nhiều hương quan – những cựu quan lại giúp đỡ kỳ mục bằng cách đưa ra lời khuyên hoặc là những người giàu có mà mọi người nể trọng và lắng nghe.

Sau đại kỳ mục là Lý trưởng, tiếp đến là tiểu kỳ mục:
Toàn bộ hệ thống này tạo ra một lượng lớn các chức vụ, nhưng vì tất cả không được trả lương, cách phân chia quyền lực như vậy giúp làm hài lòng rất nhiều người mà không tốn kém gì. Hơn nữa, thu chi được kiểm soát chặt chẽ, do đó một kỳ mục khó có thể chiếm đoạt tài sản công.Thực tế rằng việc làm kỳ mục thường phải chịu thiệt nhiều hơn là có lợi, nhưng ngay cả chức vụ nhỏ nhất cũng khiến mọi người kính trọng, giúp người An Nam cảm thấy đầy tự hào và họ sẵn sàng bỏ tiền ra để có được dù chỉ một chút quyền lực. Nếu thấy chi phí quá cao hoặc không muốn tiếp tục nữa, họ có thể tự nguyện rút lui mà vẫn được người dân coi trọng.
Về nguyên tắc, người An Nam rất tôn trọng thứ bậc. Tuy nhiên, đối với các kỳ mục, thứ bậc không chỉ phụ thuộc vào chức vụ mà còn vào tuổi tác, sự giàu có, v.v. Khi tổ chức lễ tại đình, trong đó có phần cỗ lớn dâng lên thần linh, tất cả chi phí dành cho thực phẩm, đèn lồng và các khoản chi tiêu khác đều được trích từ quỹ chung của làng.

Trong những bữa cỗ, các kỳ mục ăn trước tiên, phần thức ăn còn lại – phải chuẩn bị đủ cho tất cả – sẽ chia đều cho người dân trong làng. Vào các dịp này, chẳng hiếm khi người ta nướng cả con bò để đãi cỗ. Tóm lại, làng xã tự quản lý theo ý mình, dưới chỉ đạo của một số cư dân, và chính quyền chỉ can thiệp nếu dân làng phàn nàn về các kỳ mục của họ.
Từ làng này sang làng khác, người An Nam thường hợp tác khá tốt trong việc thực hiện các công trình chung như đường sá, kênh rạch. Nhưng nếu một làng gặp khó khăn, cần hỗ trợ, chẳng hạn sau vụ hỏa hoạn, bão lốc… thì làng này không thể hy vọng nhận được gì từ các làng lân cận. Nguồn hỗ trợ duy nhất của họ là cầu cứu các quan lại cấp tỉnh.■
Eugène Langlet[1]
Lê Hằng Nga (dịch)
[1] Eugène Langlet (1875 – 1947) là một học giả và nhà nghiên cứu người Pháp, nổi bật với các công trình về văn hóa và lịch sử Việt Nam (ND).