Người Đông Á trong mạng lưới tình báo Liên Xô đầu thế kỷ XX: Những “điệp viên tự nhiên”

Trong lịch sử tình báo Liên Xô, các điệp viên ngầm thường được ca ngợi là những bậc thầy cải trang, những người Nga có thể đóng giả hoàn hảo thành doanh nhân Mỹ hoặc nhà ngoại giao Pháp. Tuy nhiên, có một nhóm điệp viên khác ít được nhắc đến nhưng hiệu quả không kém: đó là những người gốc Á. Với vẻ ngoài và khả năng ngôn ngữ bẩm sinh, họ là những “điệp viên tự nhiên” có thể dễ dàng hòa mình vào đám đông để thâm nhập vào các vùng lãnh thổ ở vùng Viễn Đông. Tạp chí Phương Đông lược dịch giới thiệu tới độc giả bài nghiên cứu của Tiến sĩ Jon K. Chang trên tạp chí nghiên cứu tình báo Hoa Kỳ The Intelligencer (2024), đi sâu phân tích vai trò của cộng đồng người gốc Đông Á trong mạng lưới tình báo Liên Xô vào đầu thế kỷ XX.

GIỚI THIỆU

Bài nghiên cứu này nằm trong loạt bài về người Đông Á hoạt động trong mạng lưới tình báo Liên Xô trong những năm 1920 và 1930, với trọng tâm chính là giới thiệu một kiểu điệp viên hoặc mật vụ chính trị hiện đại mà trên thực tế, hầu hết các quốc gia đều đã phát triển và khai thác rất hiệu quả – đó là kiểu “điệp viên tự nhiên” (the natural). Thông thường, “điệp viên tự nhiên” là một người thuộc cộng đồng người di cư, đã lớn lên tại hai, thậm chí ba quốc gia khác nhau. Điệp viên này được cơ quan tình báo hoặc các thiết chế chính trị của quốc gia gốc đào tạo để được sử dụng như một “mật vụ” chính trị hoặc tình báo tại một quốc gia thứ hai, nơi người đó có các mối liên hệ về ngôn ngữ, văn hóa và sắc tộc. Biện pháp này cho phép quốc gia thứ nhất mở rộng và triển khai sức mạnh chính trị – xã hội, kinh tế và quân sự của mình sang quốc gia thứ hai. “Điệp viên tự nhiên” đơn giản là một biến thể phát triển từ mô hình “điệp viên bất hợp pháp” hay “điệp viên ngầm” (illegal – điệp viên hoạt động bí mật không mang vỏ bọc ngoại giao) cùng các hoạt động của họ trong nhánh tình báo đối ngoại (INO) của lực lượng cảnh sát chính trị Liên Xô. “Điệp viên tự nhiên” là thuật ngữ do chính tác giả đặt ra. Trái ngược với họ là các “điệp viên ngầm được đào tạo” – kiểu điệp viên không có nền tảng ngôn ngữ hay văn hóa tự nhiên, mà phải học cách nhập vai thông qua huấn luyện.

Các thông tin khác mà tác giả thu thập thêm được cho thấy số lượng người Đông Á hoạt động trong mạng lưới tình báo Liên Xô (viết tắt là EASI – East Asians in Soviet intelligence) lên tới hơn 1.200 sĩ quan điệp viên. Liên Xô chắc chắn cũng đã cử cả người Liên Xô gốc Đức và Ba Lan ra nước ngoài với số lượng lớn hơn so với người Đông Á, vì hai nhóm này đều có dân số gấp 4 đến 5 lần so với khoảng 200.000 người Triều Tiên vào năm 1940. Người gốc Ba Lan và Đức cũng được chấp nhận tốt hơn và gần gũi hơn về văn hóa với người Nga/Liên Xô và hệ thống chính trị của họ. Các cộng đồng người nhập cư khác của Liên Xô cũng được sử dụng trong các hoạt động ở nước ngoài.

NGUỒN GỐC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÌNH BÁO ĐỐI NGOẠI (INO)

INO là viết tắt của “Phòng Đối ngoại”, thuộc cơ quan an ninh Cheka của Liên Xô, được thành lập vào tháng 12/1920. INO tiến hành công tác tình báo ở nước ngoài thông qua ba loại điệp viên điển hình: điệp viên hợp pháp (dưới vỏ bọc ngoại giao), điệp viên phi ngoại giao (thường đóng vai cố vấn, chuyên gia thương mại, cố vấn viện trợ kỹ thuật…) và cuối cùng là điệp viên bất hợp pháp/ngầm – những người giả danh là người bản địa của quốc gia sở tại với đủ loại giấy tờ giả, giấy khai sinh và một tiểu sử giả đã được kiểm duyệt. “Điệp viên tự nhiên” đơn giản là một phiên bản tinh vi và tiên tiến hơn của điệp viên bất hợp pháp, nhưng tận dụng các sắc tộc thiểu số trong Liên bang Xô Viết để đóng vai với sự tinh tế lớn hơn nhiều về ngoại hình, ngôn ngữ và văn hóa. Do đó, các “điệp viên tự nhiên” sở hữu vỏ bọc chắc chắn hơn nhiều.

Ven Sian Liu, một điệp viên gốc Hoa trong mạng lưới tình báo quân sự của Liên Xô, chụp cùng con trai năm 1944. Bên dưới là Thẻ công đoàn của ông, ghi năm sinh là 1904. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp

Trong khoảng 4 đến 5 năm đầu sau khi được thành lập, trọng tâm của INO phần lớn là thâm nhập và tiêu diệt các nhóm chống Xô Viết ở nước ngoài, tập trung vào các nhóm Da trắng, Quân chủ, Phát xít Nga và các nhóm quân sự chống Xô Viết, cùng những nhóm do những người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraine thành lập (bao gồm người Đông Slavơ, người Do Thái, người Ba Lan). Đến năm 1925, INO bắt đầu tập trung nhiều hơn vào các hoạt động tiền phương, tức là các “biện pháp tích cực” . Điều này dẫn chúng ta đến với các “điệp viên tự nhiên” – một loại hình điệp viên bất hợp pháp cao cấp.

Trong số các “điệp viên người Nga” – Thuật ngữ “điệp viên người Nga” (trong dấu ngoặc kép) trong bài này được dùng để chỉ người Nga, người Do Thái, Cossack, Ukraine, Tatar, Gruzia và Đông Slavơ làm việc cho INO và tại Mãn Châu, rất ít người có kiến thức thấu đáo về các ngôn ngữ Đông Á (bao gồm cả tiếng lóng, các phương ngữ và các sắc thái ngôn ngữ khác nhau). INO của Xô Viết hầu như chỉ làm mỗi việc phát triển mạng lưới người cung cấp tin và điệp viên từ những “điệp viên người Nga” ở Mãn Châu. Họ nhận được những thông tin thường bị sai lệch, thiếu chiều sâu và từ những điệp viên làm việc cho nhiều phe phái chính trị khác nhau. Tình trạng này vẫn tiếp diễn bất chấp việc đưa các điệp viên gốc Đông Á vào làm việc, chủ yếu vì vấn đề lòng tin. Các điệp viên gốc Đông Á (EASI) thường chỉ là lựa chọn thứ hai trong các biện pháp tích cực của Xô Viết tại Mãn Châu. Hoạt động của họ chủ yếu là các chiến dịch hoặc chỉ thị ngắn hạn, riêng biệt.

Trong INO, các điệp viên gốc Đông Á thực hiện phần lớn các công việc tương tự như các đặc vụ Xô Viết khác. Họ phá hủy các cơ sở hạ tầng dân sự có giá trị, thực hiện các vụ ám sát kẻ thù nước ngoài, gián điệp và các mục tiêu chính trị – xã hội, đồng thời đánh cắp tài liệu, mật mã và sổ mật mã. Trong cuộc Chiến tranh Trung – Xô năm 1929, các EASI đã giúp quân đội Xô Viết kiểm soát nhiều ga tàu dọc theo Tuyến đường sắt Đông Trung Hoa, thẩm vấn tù binh chiến tranh Trung Quốc và những người bị nghi ngờ đứng về phía Trung Quốc. Cuối cùng, các EASI cũng giúp tuyển dụng người chỉ điểm tại mỗi ga đường sắt và các ngôi làng mà tuyến đường đi qua.

Chiến dịch đưa các EASI vào Mãn Châu, Trung Quốc lục địa và Triều Tiên từ đầu thập niên 1920 đến khoảng năm 1945 được Liên Xô gọi là Chiến dịch Maki Mirage.

Danh sách những người tham gia Chiến dịch Maki Mirage. Số 11 là Van In Zun, số 59 là Khan Chan Ger. Ảnh do tác giả Jon K. Chang chụp từ bộ phim tài liệu Nga “Điệp viên ma” (2003)
Van In Zun (tên tiếng Nga là Nikolai Ivanovich Van), người đứng đầu các đơn vị OGPU người gốc Hoa. Trong bức ảnh này, Van đang mặc quân phục Hồng quân, mùa hè năm 1921.
4 người Hàn Quốc tham gia cuộc xung đột Trung-Xô năm 1929 (trong lực lượng Liên Xô). Khan Chan Ger (Grigorii E.) là người ngồi bên trái, mặc đồng phục OGPU (cảnh sát chính trị). Ảnh do cháu trai của một người trong ảnh cung cấp.

VÌ SAO TÌNH BÁO LIÊN XÔ CHUYỂN HƯỚNG SANG ĐIỆP VIÊN GỐC ĐÔNG Á

Tình báo Liên Xô chuyển hướng sang tuyển dụng và sử dụng nhiều EASI hơn từ khoảng năm 1927 vì 3 lý do chủ yếu: Thứ nhất, rất ít “điệp viên người Nga” có thể nói, đọc hoặc viết các ngôn ngữ Đông Á, nên không thể tiến hành phỏng vấn, xây dựng mạng lưới nguồn tin hay nói chung là thiết lập mạng lưới người cung cấp tin không nói tiếng Nga. Thứ hai, khi ra nước ngoài, nhiều sĩ quan điệp viên Liên Xô đã bỏ qua hoặc không tuân thủ huấn luyện nghiệp vụ, sống đời sống cá nhân một cách công khai như thể đời sống xã hội quan trọng hơn nhiệm vụ. Thứ ba, việc từ bỏ các quy tắc nghiệp vụ khi hoạt động ở nước ngoài khiến bản thân họ, nhiệm vụ và đồng nghiệp của họ rơi vào vòng hiểm nguy.

Con gái và cháu gái của một cựu công dân Liên Xô có liên hệ với một EASI đã thuật lại lời ông khi mô tả các hoạt động trong những năm 1920 – 1930:

“Các trường dạy ngôn ngữ của cơ quan an ninh NKVD khi đó không giống như các khóa học ở đại học ngày nay, nơi có sách vở, băng đĩa và chương trình bài bản. Bạn học được rất ít so với bây giờ, và việc học phụ thuộc rất nhiều vào người dạy. Khi các điệp viên người Nga” đến thực địa [vùng Viễn Đông], khả năng hiểu tiếng Trung hoặc tiếng Triều Tiên của họ rất hạn chế, và phát âm còn tệ hơn. Những gì họ học không phải là ngôn ngữ thực tế ngoài đời [vốn là sự pha trộn của nhiều phương ngữ]. Nhiều nhất, họ chỉ sử dụng được dạng tiếng Trung hoặc tiếng Triều Tiên kiểu “bồi”. Nhưng trong các báo cáo, không ai thừa nhận việc đào tạo là không đủ tiêu chuẩn, hoặc rằng họ hiểu biết rất ít khi đến Trung Quốc, Mãn Châu hay Triều Tiên. Đó không phải là cách NKVD vận hành”.

Thân nhân của EASI này nói thêm rằng: “Cũng có một số người trong các điệp viên Nga có thể nói tiếng Trung hoặc tiếng Triều Tiên. Một số là người lai (Âu – Á). Những người khác nói thành thạo là do họ lớn lên ở Mãn Châu và được bảo mẫu hoặc người giúp việc nuôi dạy bằng ngôn ngữ châu Á. Nhưng kiểu người này rất hiếm”. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận hoàn toàn khả năng một số “điệp viên người Nga” có thể thành thạo ngôn ngữ Đông Á dù không được đào tạo nhiều. Một số người (dưới 2–3%) là những người đa ngữ bẩm sinh và không cần qua trường lớp đào tạo.

Kết quả là, các “điệp viên người Nga” trong thời kỳ này chủ yếu xây dựng mạng lưới nguồn tin trong cộng đồng nói tiếng Nga tại Mãn Châu. Cách làm này không hiệu quả, vì Mãn Châu nằm dưới sự kiểm soát của Nhật Bản. Thứ hai, thông tin mà họ thu thập được thường bị “nhiễu”, và chính các điệp viên Liên Xô khi xây dựng mạng lưới cũng bị theo dõi bởi nhiều tổ chức chính trị và cơ quan tình báo khác nhau. Tất cả các bên tham gia hoạt động gián điệp tại Mãn Châu (Liên Xô, Quốc dân đảng, Nhật Bản và các lực lượng chống Liên Xô) đều sử dụng nhiều bí danh.

Bản đồ Mãn Châu quốc (xanh lá) cùng với vùng chịu ảnh hưởng của Đế quốc Nhật Bản (đỏ). Nguồn: Wikipedia

Cuối cùng, cách gần như duy nhất để đảm bảo có thông tin đáng tin cậy là phải có điệp viên riêng ở từng khu vực trong thành phố. Tuy nhiên, Liên Xô gặp bất lợi lớn vì điệp viên của họ chỉ nói tiếng Nga hoặc tiếng Trung, tiếng Mãn Châu hay tiếng Triều Tiên kiểu “bồi”. Do đó, Liên Xô phải chuyển sang sử dụng EASI.

Báo cáo năm 1950 của Tướng Mỹ Douglas MacArthur (Tư lệnh tối cao của lực lượng Đồng minh, và trên thực tế đã cai quản Nhật Bản từ năm 1945 đến năm 1948) mang tên “Tình báo của Nhật về các ý đồ của Liên Xô” (Japanese Intelligence on Soviet Intentions) cho thấy mức độ thiếu tin cậy của các nguồn tin. Báo cáo viết: “Các cơ quan tình báo của Nhật phát hiện ra rằng nếu một nguồn tin Liên Xô cung cấp quá nhiều thông tin, hoặc cung cấp đều đặn trong thời gian dài, thì gần như chắc chắn người đó là điệp viên Liên Xô, và thông tin của anh ta đã được chuẩn bị bởi cơ quan phản gián Liên Xô”.

Tuy vậy, phía Nhật vẫn thu thập và trả tiền cho những điệp viên này, dù biết họ là điệp viên hai mang của Liên Xô ở Mãn Châu, nhằm tìm hiểu “phương pháp phản gián và đánh lừa của Liên Xô”. Báo cáo của tướng MacArthur viết tiếp: “Người Nhật cố ý chấp nhận thông tin giả từ các nguồn trong lãnh sự quán Liên Xô và từ các điệp viên Liên Xô giả làm gián điệp Nhật, để tìm hiểu cách Liên Xô tiến hành đánh lừa. Họ cũng cho phép một số điệp viên của mình giả làm gián điệp cho Liên Xô, qua đó học được các phương pháp gián điệp của Liên Xô và áp dụng vào hệ thống của mình”.

Cách duy nhất để khắc phục việc thiếu điệp viên có khả năng nói và viết thành thạo tiếng Nhật, Trung hoặc tiếng Triều Tiên là tăng cường sử dụng EASI trong mạng lưới điệp báo. Quá trình này bắt đầu khoảng năm 1927 (theo ước tính của tác giả) và phát triển mạnh từ năm 1929, sau khi xảy ra xung đột Trung–Xô.

“CỦ CẢI ĐỎ CÁP NHĨ TÂN

Những người được gọi là “điệp viên người Nga” tại Mãn Châu không có lòng trung thành mạnh mẽ hay rõ ràng đối với chế độ Xô viết, mặc dù nhiều người trong số họ bắt đầu nhận quốc tịch Liên Xô sau năm 1925. Một phần là bởi việc nhận quốc tịch này chủ yếu là do một đạo luật năm 1925 của Liên Xô, yêu cầu người Nga ở Mãn Châu phải có quốc tịch Liên Xô hoặc Trung Quốc nếu muốn làm việc trên tuyến Đường sắt Đông Trung Quốc hoặc trong các doanh nghiệp khác của Liên Xô. Nhiều “điệp viên người Nga” bắt đầu bán bất cứ thông tin nào họ có cho bất kỳ bên nào.

Đời sống kinh tế và chính trị của người Nga tại Mãn Châu về cơ bản là kiểu “tùy nghi xoay xở”, tức là mỗi người phải tận dụng mọi nguồn lực có thể để tồn tại. Các “điệp viên người Nga” đã mất quyền miễn trừ ngoại giao từ năm 1920 và điều kiện kinh tế rất khó khăn. Họ thường phải làm những công việc thấp kém, nặng nhọc nhất so với các cộng đồng phương Tây khác tại Trung Quốc. Nhiều “điệp viên người Nga” trẻ tuổi cũng bắt đầu sự nghiệp quân sự trong các đơn vị hoàn toàn là người Nga, phục vụ cho quân đội Nhật Bản hoặc các lãnh chúa Trung Quốc. Họ đã phục vụ trong các đơn vị đặc biệt tại Mãn Châu của Grigorii M. Semyonov (cùng các đơn vị khác) từ năm 1918 cùng những người thuộc nhiều chủng tộc khác (như Mông Cổ, Tungus, Kalmyk và Buryat đến từ cả Nga và Mãn Châu). Các tiểu đoàn của Semyonov phục vụ cho người Nhật – nhà tài trợ chính cho lực lượng của ông ta. Nhiều “điệp viên người Nga” tự coi mình đơn thuần là lính đánh thuê, luôn sẵn sàng bán dịch vụ hoặc thông tin cho bên trả giá cao nhất. Một số người Nga lưu vong cũng phục vụ trong quân đội Nhật sau khi Mãn Châu Quốc được thành lập, trong các đơn vị như Asano Detachment và các đơn vị quân sự Nga thuộc Đạo quân Quan Đông từ năm 1938 đến 1945. Sự trung thành của người Nga ở Cáp Nhĩ Tân và người Mãn Châu thay đổi thất thường đến mức họ thường bị gọi là “củ cải đỏ” hoặc “củ cải Cáp Nhĩ Tân”, hàm ý lòng trung thành pha trộn: bên ngoài đỏ (theo Liên Xô), bên trong trắng (theo Sa hoàng).

Người Nga tại thành phố Cáp Nhĩ Tân, khoảng thập niên 1920s. Ảnh: Legion Media/Russian Beyond

Qua phần này, chúng ta đã thấy rằng hoạt động thu thập thông tin tình báo của Liên Xô tại Mãn Châu bị hạn chế do phần lớn điệp viên không thông thạo bất kỳ ngôn ngữ châu Á nào, và cũng không thể báo cáo rằng việc đào tạo của họ là kém chất lượng. Đây là một đặc điểm của chế độ Stalin: không phải chỉ “người đưa tin” bị bắn, mà toàn bộ những người trong chuỗi thông tin đều có nguy cơ bị đàn áp (xử tử hoặc đưa vào trại lao động). Tuy vậy, tình báo Liên Xô vẫn ưu tiên sử dụng các “điệp viên người Nga” – bao gồm người Nga, Do Thái, Ukraine, Cossack, Tatar, Gruzia, người Ba Lan đã Nga hóa và các nhóm khác – để thực hiện các “nhiệm vụ đặc biệt”. Phần tiếp theo sẽ xem xét một điểm yếu khác của tình báo Liên Xô tại vùng Viễn Đông: vấn đề kỷ luật.

XA MẶT CÁCH LÒNG”

Tình báo Xô Viết tại Mãn Châu còn một điểm yếu khác. Một số điệp viên Xô Viết (thuộc lực lượng cảnh sát chính trị) gặp vấn đề về kỷ luật (dù là kỷ luật cộng sản, đạo đức, cá nhân hay các phương diện khác) khi được điều động ra nước ngoài. Những điệp viên này hành xử như thể “chim sổ lồng” và hăm hở lao mình vào những thói hư tật xấu của phương Tây hoặc vùng Viễn Đông. Những hành động này dẫn đến sự xích mích rõ rệt, làm việc kém hiệu quả và gây nguy hại cho các điệp viên khác cũng như mạng lưới tình báo ở nước ngoài. Điều này đã được cơ quan tình báo Ba Lan và Jerzy Niezbrzycki (một sĩ quan tình báo Ba Lan nổi tiếng và là nhà Xô Viết học) ghi lại trong hồi ký. Tình báo Ba Lan nhận thấy các điệp viên Xô Viết ngoài miệng thì khinh miệt sự tham nhũng và “thối nát” của phương Tây, nhưng lại không thể cưỡng lại “chủ nghĩa vật chất” khi được cử đi công tác nước ngoài. Theo Niezbrzycki:

“Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, rõ ràng là chính sự ‘thối nát’ này lại tỏ ra cực kỳ hấp dẫn đối với những ‘thiên thần báo thù’ này… Có tiền trong tay, họ vung vít khắp nơi, chỉ đơn giản là để thỏa mãn bản thân với những thú vui hủy hoại tâm hồn mà đáng lẽ ra họ phải có nhiệm vụ ‘bảo vệ Cách mạng’ chống lại chúng. Đây chính là cơ hội của chúng tôi… chúng tôi đi đến kết luận rằng họ [các điệp viên Xô Viết] là nguồn nguyên liệu tốt nhất để chúng tôi sử dụng cho mục đích gián điệp. Chúng tôi chỉ cần lợi dụng tâm lý miễn cưỡng của họ khi phải quay trở về ‘Thiên đường’ quê hương”.

Trường hợp của Vasilii Zarubin là một ví dụ điển hình. Zarubin là một người Nga gia nhập cơ quan mật vụ Cheka năm 1920 sau khi chiến đấu trong Hồng quân thời Nội chiến. Ông được một “bộ phận đặc biệt” của Cheka trong Hồng quân phát hiện là người phù hợp khi đang giúp dập tắt cuộc nổi dậy của nông dân ở Tambov. Ông gia nhập Cheka ngay lập tức. Năm 1924, về mặt nội bộ, Zarubin được điều đến Lãnh sự quán ở Cáp Nhĩ Tân làm phó trưởng trạm tình báo. Về mặt chính thức, Zarubin làm quản lý hậu cần và cung ứng để che giấu vai trò thật sự của mình. Năm 1925, Zarubin chính thức gia nhập nhánh tình báo đối ngoại INO của cơ quan cảnh sát mật Liên Xô (khi đó có tên là OGPU). Một trong những nhiệm vụ của Zarubin là đi khắp Cáp Nhĩ Tân để gặp gỡ mọi người từ các tầng lớp xã hội, các hội nhóm, công đoàn, tôn giáo khác nhau… Ông ta đã gặp và bắt đầu mối quan hệ tình ái với con gái của một quan chức trong thành phố có gia đình chống Bolshevik. Liệu ông có lo ngại mình đang bị đưa vào tầm ngắm? Cấp trên của Zarubin đã phát hiện ra vụ ngoại tình, nhưng đã đấu tranh để Zarubin được ở lại OGPU và chỉ bị điều chuyển về Moscow để đào tạo thêm. Điều khiến vụ ngoại tình này trở nên rắc rối hơn đối với INO là vợ của Zarubin cũng là một nhân viên của OGPU. Nhưng bất chấp điều đó, Zarubin vẫn lên đường về Moscow vào mùa thu năm 1925 cùng với người tình, để lại vợ và con gái ở Cáp Nhĩ Tân.

Điệp viên Liên Xô Vasilii Zarubin (1894 – 1972). Ảnh: WW2incolor

Ngoài ra, có rất ít tài liệu viết về việc các cơ quan tình báo đối địch với Liên Xô nghĩ gì về hoạt động, kỷ luật và kỹ năng nghiệp vụ của các điệp viên Xô Viết. Nghiên cứu này sẽ chứng minh rằng các điệp viên Xô Viết thực sự đã né được một “viên đạn Nhật Bản bắn vào đầu”. Một số nhóm chống Liên Xô cuồng nhiệt nhất ở Mãn Châu, chẳng hạn như “Hội Anh em Sự thật Nga” (Brotherhood of Russian Truth), đã suy yếu đến mức khi bị OGPU xâm nhập, họ chỉ đơn giản là tan rã. Quân đội Đế quốc Nhật Bản đã cố gắng tổ chức một đội quân Nga Trắng thống nhất ở Mãn Châu để chống đỡ các cuộc đột kích của Liên Xô, nhưng các phe phái của họ chiến đấu với nhau dữ dội đến mức ý tưởng này bị hủy bỏ.

Đạo quân Quan Đông (và Quân đội Đế quốc Nhật Bản) có một phòng tình báo quân sự (Phòng nhì) và một phân bộ cực đoan gọi là Tokumu Kikan. Nhưng các đơn vị này lập ra rất ít kế hoạch trả đũa nhắm vào các đặc vụ Xô Viết ở Mãn Châu. Không có đề cập nào về các hoạt động phản gián của Nhật chống lại Liên Xô ngoài việc “giám sát”. Tokumu Kikan đã bố trí khoảng 200 đặc vụ tại biên giới Mãn Châu – Nga để quan sát và thu thập thông tin sau khi Liên Xô thắt chặt các biện pháp biên giới. Tuy nhiên, đây không phải là những “biện pháp tích cực” mà người ta mong đợi từ một tổ chức bí mật có nhiều thành viên tốt nghiệp trường đào tạo tình báo quân sự Nakano vốn được huấn luyện để xâm nhập và phá hoại.

Thay vào đó, tình báo Nhật Bản quan tâm nhiều hơn đến việc thâm nhập vào Liên Xô bằng các đặc vụ của mình, tiêu diệt sự kháng cự của Trung Quốc và gia tăng lợi nhuận thông qua các tệ nạn ở Mãn Châu. Trọng tâm chính của Phòng nhì là sản xuất, phân phối thuốc phiện và gia tăng lợi nhuận cho một nhóm nhỏ các nhà lãnh đạo quân sự và công nghiệp Nhật Bản. Từ thuốc phiện, họ lấn sân sang các ngành tệ nạn béo bở khác như cờ bạc và mại dâm. Cả Tokumu KikanHiến binh (Kempeitai) đều điều hành các ổ tệ nạn thông qua các bù nhìn người Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Nga. Ít nhất thì phía Liên Xô vẫn giữ đúng sứ mệnh của mình. Các đặc vụ tình báo của Nhật Bản tại Mãn Châu đã đi chệch hướng quá xa (thay vì tình báo, họ tập trung vào các hoạt động tệ nạn và lợi nhuận) trong khi vẫn rêu rao khẩu hiệu “Châu Á của người Châu Á”.

Về sự trả đũa của Trung Quốc đối với mạng lưới tình báo Xô Viết, cả Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc đều đang nhận được quá nhiều viện trợ (quân sự, công nghiệp, tiền viện trợ trực tiếp) và cố vấn nên không thể tấn công các đặc vụ Liên Xô. Các đội quân “tình nguyện” khác ở Mãn Châu thì quá thiếu kinh phí và trang thiết bị để có một bộ phận tình báo thực thụ.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu này đã phân tích những điểm yếu của lực lượng cảnh sát chính trị Liên Xô dẫn đến việc nhánh tình báo đối ngoại INO bắt đầu sử dụng số lượng lớn các “điệp viên tự nhiên” từ khoảng năm 1927. Các EASI đã phục vụ xuất sắc trong nhiều nhiệm vụ kiểu này cho đến giai đoạn 1937-1938 (thời điểm diễn ra các cuộc trục xuất người gốc Hoa và gốc Triều Tiên ở Liên Xô) và cả sau đó. Các “điệp viên tự nhiên” luôn là cấp bậc sĩ quan đặc vụ cao hơn so với “điệp viên bất hợp pháp được đào tạo”. Chỉ các “điệp viên tự nhiên” mới có khả năng xây dựng các mạng lưới gây ảnh hưởng và thông tin bền vững.

Tháng 6/2010, tại Hoa Kỳ đã có một vụ bắt giữ gây chấn động 10 điệp viên bất hợp pháp là các “điệp viên ngủ đông” (dài hạn). Đáng chú ý, cả 10 người này đều là “điệp viên bất hợp pháp được đào tạo” chứ không phải “điệp viên tự nhiên”. Các tiểu sử giả về việc họ không phải là người Nga phụ thuộc rất nhiều vào việc duy trì một trạng thái “gần như tách rời thực tại” trong giao tiếp với hàng xóm và bạn bè, bởi vì tất cả họ đều có giọng Nga rất dễ nhận ra, cùng phong thái và những điểm bất hợp lý không ăn khớp. Ví dụ như gia đình Murphy, nơi người cha được cho là sinh ra ở Philadelphia nhưng lại có giọng Nga đặc sệt. Sẽ thật kỳ quặc nếu giải thích rằng giọng Nga đặc sệt của ông ta thực chất là một biến thể của giọng địa phương Ireland. Anna Chapman thì hiếm khi giải thích bất cứ điều gì với bạn bè hay những người theo đuổi cô. Đáng chú ý là, không ai trong số những “điệp viên bất hợp pháp được đào tạo” này thu thập được thông tin nào có giá trị đáng kể.

Câu hỏi vẫn còn đó: Tại sao không có bất kỳ “điệp viên tự nhiên” nào của Nga bị bắt? Câu trả lời là những “điệp viên tự nhiên” đó đã mang vỏ bọc hợp pháp và hộ chiếu nước ngoài để gây ảnh hưởng; điều này minh chứng rõ ràng rằng luôn có những sự tinh vi và tiến bộ không ngừng trong ngành tình báo – một trong những nghề nghiệp cổ xưa nhất thế giới.■

Jon K. Chang

Minh Thư (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN