Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với đặc trưng là sự phát triển đột phá của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) đã đem lại cho đời sống kinh tế – xã hội toàn cầu những cơ hội phát triển chưa từng thấy. Trước tình hình mới, Việt Nam cũng chính thức bước vào kỷ nguyên vươn mình, vừa tập trung phát huy nguồn lực nội tại, vừa hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội quốc tế. Trong bối cảnh đó, đối ngoại và hội nhập quốc tế không chỉ giữ vai trò bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia, ngoại giao còn ngày càng trở thành một lĩnh vực quan trọng, phụng sự trực tiếp sự nghiệp kiến thiết đất nước.
Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 11/6/2026 và phát biểu chỉ đạo Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, tháng 8/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần đề cập đến những yêu cầu mới đặt ra đối với công tác đối ngoại. Quan điểm xuyên suốt được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra chính là giữ vững những nguyên tắc đã trải qua sự kiểm nghiệm gắt gao của lịch sử, đồng thời đổi mới mạnh mẽ tư duy, nội dung và phương thức triển khai để đối ngoại thực sự tương xứng với thế và lực mới của đất nước. Đối ngoại không chỉ góp phần giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ Tổ quốc mà phải phục vụ trực tiếp cho sự phát triển, nâng cao năng lực tự chủ và vị thế của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh
Đại hội XIV của Đảng xác định đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, giữ vị trí chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, diễn ra từ ngày 1 đến ngày 7/8/2026 với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong và thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới”, tiếp tục trở thành một dấu mốc quan trọng trong việc cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trước những chuyển dịch nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình khu vực và quốc tế. Tại Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo: “Lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đây là bước phát triển lớn về tư duy lãnh đạo của Đảng, theo đó, đối ngoại trở thành một phương thức quan trọng, một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đối ngoại trong kỷ nguyên mới phải ở vị trí tuyến đầu, giữ vị thế trung tâm, góp phần nhận diện và hóa giải nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát.

Chính sách đối ngoại trong kỷ nguyên mới tiếp tục kế thừa nhất quán đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chú trọng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc phải được đặt lên hàng đầu, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Sau 40 năm bắt đầu từ những ngày Đổi mới (1986 – 2026), thành tựu đáng ghi nhận của ngoại giao Việt Nam là phá thế bao vây, cấm vận, xây dựng các mối quan hệ song phương, đa phương, đưa Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới.
Trong giai đoạn hiện nay, vị thế của đất nước trên trường quốc tế đã có nhiều sự thay đổi, do đó, yêu cầu đặt ra không còn là mở rộng quan hệ ngoại giao, mà còn nằm ở việc khai thác hiệu quả những mối quan hệ đã được thiết lập, tận dụng vị thế quốc tế như một nguồn lực phát triển mới. Đồng thời, thành quả đối ngoại phải phục vụ trực tiếp các mục tiêu kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ, ngày một nâng cao đời sống nhân dân. Yêu cầu “trọng yếu, thường xuyên” của ngoại giao Việt Nam dần trở thành một yêu cầu cấp thiết, một vai trò trọng yếu trong tổng thể sức mạnh quốc gia. Ngoại giao cần gắn bó ngày càng chặt chẽ với quá trình hoạch định và thực hiện các chiến lược phát triển.
Đối ngoại là “động lực mở ra không gian và cơ hội phát triển mới, gắn kết chặt chẽ với tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, mục tiêu quan trọng hơn cả là thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Trong giai đoạn 2026 – 2030, Việt Nam đặt mục tiêu “phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10% mỗi năm trở lên”, đồng thời, tới năm 2030, “đưa quy mô nền kinh tế thuộc nhóm 30 nước hàng đầu thế giới”. Để thực hiện thành công mục tiêu ấy, giờ đây, ngoại giao không thể đơn thuần chỉ dừng lại ở việc duy trì quan hệ hữu nghị và đảm bảo các nghi thức đối ngoại có tính lễ giao. Ngoại giao phải tham gia trực tiếp hơn vào quá trình tìm kiếm thị trường, huy động nguồn lực và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nói cách khác, ngoại giao kinh tế cần trở thành một nhiệm vụ trọng tâm.
Theo Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, ngoại giao “phải có tầm nhìn chiến lược, xuyên suốt và nhất quán, giải quyết bài toán lớn đang đặt ra đối với đất nước để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược, trở thành nước phát triển, thu nhập cao và người dân phải được thụ hưởng; lấy sự hạnh phúc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân là nền tảng”.
Nhiệm vụ này đòi hỏi các cơ quan công tác đối ngoại, đặc biệt là hệ thống cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phải ngày càng nâng cao năng lực phát hiện cơ hội, nắm bắt được tình hình biến động chính trị của nước sở tại, đồng thời hiểu biết quy luật thị trường, những xu hướng thịnh hành trong đầu tư, công nghệ và phát triển chuỗi cung ứng. Ngoại giao phải nắm giữ vị trí đầu tàu trong quá trình xác định nhu cầu của Việt Nam, thế mạnh của đối tác, cũng như tìm thấy được những tiếng nói chung trong suốt quá trình trao đổi song phương, đa phương. Đặc biệt, với những lĩnh vực mới ra đời, ngày càng chiếm lĩnh thị phần quốc tế quy mô lớn, cần sự chung tay, gắn kết để phát triển chung, ngoại giao kinh tế lại càng nắm giữ vai trò quan trọng.
Trọng tâm của công tác đối ngoại trong giai đoạn mới cần chuyển dần từ việc thu hút nguồn lực theo chiều rộng sang lựa chọn và nâng cao chất lượng các nguồn lực phục vụ những đột phá chiến lược của đất nước. Mục tiêu ấy đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục mở rộng, đa dạng hóa thị trường, đối tác, nguồn cung, đồng thời nâng hàm lượng giá trị trong hàng hóa Việt Nam. Đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam cần ưu tiên những dự án có chất lượng, có hàm lượng công nghệ cao, giàu năng lực liên kết với doanh nghiệp trong nước, có khả năng tạo nên bước phát triển nhảy vọt về công nghệ, quản trị và nhân lực. Bên cạnh các nguồn vốn truyền thống, ngoại giao cũng cần góp phần mở rộng khả năng tiếp cận những nguồn đầu tư hiệu quả như vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), cũng như các nguồn vốn ưu đãi dành cho hạ tầng chiến lược.
Cùng với đó, Việt Nam cũng cần đẩy mạnh ngoại giao khoa học – công nghệ, mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực đang định hình sức cạnh tranh mới như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử hay khoáng sản chiến lược, cần tiếp tục tăng cường kết nối Việt Nam với các trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo hàng đầu trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam cũng cần tham gia chủ động hơn vào quá trình xây dựng những quy tắc và tiêu chuẩn mới liên quan đến dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, thương mại số và chuyển đổi xanh. Song song với đó là việc tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài với khu vực kinh tế trong nước, hỗ trợ các địa phương và doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận đối tác, công nghệ và thị trường mới, qua đó nâng cao khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Đối ngoại phải “góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia – dân tộc; không để đất nước rơi vào thế bị động, bất ngờ”
Ngoại giao kinh tế trở thành một nhiệm vụ trọng tâm, không có nghĩa là nhiệm vụ căn bản, cốt tủy của ngoại giao bị xem nhẹ. Ngoại giao phải có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia – dân tộc. Trước những biến động khôn lường của tình hình an ninh toàn cầu, sự phân rã của một trật tự thế giới đa cực, nhiệm vụ này lại càng trở nên cấp thiết. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô lâm, tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, trong giai đoạn mới, “Cục diện đối ngoại tiếp tục được mở rộng và nâng tầm. Từ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 đến nay, Việt Nam đã thiết lập hoặc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện với 9 đối tác, lên Đối tác chiến lược với 11 nước; lên Đối tác toàn diện với 5 nước. Các khuôn khổ mới cho thấy sự tin cậy chính trị và vị thế của Việt Nam ngày càng cao, mở thêm khả năng hợp tác về kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục, quốc phòng, an ninh và giao lưu nhân dân. Quan hệ với các nước láng giềng, nước lớn, các nước ASEAN, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống tiếp tục được củng cố. Các kênh đối ngoại phối hợp chặt chẽ hơn.” Để tiếp tục kế thừa và phát huy những thành tựu ấy, trong bối cảnh mới, ngoại giao Việt Nam liên tục phải duy trì mối quan hệ ổn định với các nước láng giềng, ngày một làm sâu sắc thêm mối quan hệ với nhiều quốc gia đối tác. Đồng thời, với những mâu thuẫn, xung đột quốc tế, Việt Nam cần có cơ chế xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, chủ động tham gia các cơ chế khu vực, quốc tế nhằm tạo dựng môi trường thuận lợi nhất cho quá trình phát triển.
Cùng với đó, đối ngoại cần tiếp tục được tiến hành theo đường lối đa dạng hóa, đa phương hóa. Cũng theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tại Hội nghị Hội nghị quán triệt Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, “Việt Nam cần phát huy tiếng nói tích cực, cung cấp ý tưởng, góp phần khôi phục lòng tin và tính hiệu quả của chủ nghĩa đa phương. Chúng ta cần tích cực đóng góp vào bảo vệ trật tự thế giới dựa trên luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; tham gia cải cách hệ thống quản trị chính trị, kinh tế toàn cầu theo hướng bình đẳng, công bằng hơn cũng như đề xuất các khuôn khổ, quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế trong những lĩnh vực mới. Với thế và lực mới, ta có thể vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt và tham gia định hình các cơ chế đa phương phù hợp với lợi ích, khả năng và điều kiện cụ thể của ta. Việt Nam cần tích cực tham gia ứng phó với các thách thức toàn cầu, nhất là những vấn đề sát sườn, thiết thân như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, an ninh lương thực, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, cứu hộ – cứu nạn, viện trợ nhân đạo… Với vị trí đang đảm nhận trong các thể chế quốc tế, ta có thể tận dụng để lồng ghép ưu tiên của Việt Nam và ASEAN vào chương trình nghị sự.”

Việt Nam không chỉ tham gia các thể chế quốc tế để bảo vệ lợi ích của mình mà cần chủ động hơn trong đề xuất sáng kiến, đóng góp vào giải quyết các vấn đề chung, phù hợp chuẩn mực quốc tế. Bảo vệ nền hòa bình là tạo điều kiện cho quá trình phát triển kinh tế, kinh tế phát triển hùng cường lại là tiền đề để tiếp tục củng cố nền độc lập, hướng tới nâng cao vị thế đất nước. Đây cũng chính là mối quan hệ hai chiều mà chính sách đối ngoại trong kỷ nguyên mới phải xử lý hài hòa.
Đối ngoại là “sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân”
Quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ rằng đối ngoại không đơn thuần chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành ngoại giao, tiếp tục trở thành một bước ngoặt đáng chú ý trong tư duy đối ngoại đất nước. Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô lâm nhấn mạnh rằng: “Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị”. Theo đó, đối ngoại là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Ngành ngoại giao giữ vai trò nòng cốt, nhưng hiệu quả đối ngoại chỉ có thể được tạo nên trên cơ sở sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều bộ phận, lực lượng.
Đồng thời, trước những yêu cầu của tình hình mới, đội ngũ cán bộ ngoại giao hiện nay đòi hỏi phải đáp ứng được nhiều tiêu chí nghiêm ngặt, về cả chuyên môn lẫn bản lĩnh chính trị và chuẩn mực đạo đức. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dẫn lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, cho rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, theo đó, cán bộ đảm nhận công tác ngoại giao trước hết cần có thái độ, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với lý tưởng của Đảng và tận hiến với những nhiệm vụ được quốc gia giao phó. Ngoài yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, cán bộ ngoại giao còn cần thông thạo luật pháp quốc tế, có kiến thức sâu rộng về kinh tế, thương mại, dữ liệu và truyền thông, có khả năng nghiên cứu, phân tích nhiều hiện tượng mới. Đồng thời, mỗi cán bộ ngoại giao còn cần sở hữu kỹ năng ngoại ngữ xuất sắc, có vốn hiểu biết phong phú về lịch sử – chính trị – văn hóa tại các quốc gia sở tại. Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình thế giới liên tục biến động, cán bộ ngoại giao phải biết tự trang bị năng lực dự báo, đón đầu, đóng vai trò tiên phong về mặt thông tin.
Đối ngoại phải “nâng tầm vị thế quốc gia tương xứng với tầm vóc lịch sử, bản sắc văn hóa, tiềm lực kinh tế và vai trò chính trị ngày càng gia tăng của đất nước”
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam là đất nước “có nền văn hóa ngàn năm văn hiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Những thành tựu văn hóa quý báu ấy được tích lũy xuyên suốt hàng ngàn năm lịch sử, được cha ông ta xây đắp và bảo vệ kiên trung bất kể những tháng năm vần vũ chiến tranh. Do đó, để đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, nếu đối ngoại giao chính trị góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, ngoại giao kinh tế kết nối nguồn lực phát triển, thì ngoại giao văn hóa và đối ngoại Nhân dân lại tạo thành một “sức mạnh mềm”, khơi gợi sự thấu hiểu và niềm tin của bạn bè quốc tế đối với Việt Nam. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và truyền thông số, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được quyết định đơn thuần chỉ bởi sức mạnh kinh tế. Hệ giá trị quốc gia, biểu tượng văn hóa cùng những di sản lịch sử lâu bền cũng ngày càng có khả năng tác động mạnh mẽ đến vị thế quốc tế của đất nước.

Với Việt Nam, ngoại giao văn hóa cần phải là hoạt động “mở đường cho các hoạt động đối ngoại của đất nước, tham mưu đồng hành giải quyết khó khăn, quảng bá hình ảnh đất nước, vận động công nhận các giá trị văn hóa cũng như tiếp thu tinh hoa văn hóa của thế giới”. Bằng nhiều con đường, từ ẩm thực, hội họa, văn chương, điện ảnh cho tới các hoạt động truyền thông số, truyền thông mạng xã hội, văn hóa Việt Nam có thể lan tỏa rộng rãi tới bạn bè quốc tế. Khi đó, mỗi chủ thể của ngoại giao văn hóa cũng không chỉ là cơ quan nhà nước mà còn bao gồm toàn bộ giới nghệ sĩ, trí thức, doanh nghiệp, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và toàn bộ công dân Việt Nam trong nước.
Chính thực tiễn ấy cũng từng bước đặt đặt ngoại giao Nhân dân vào vị trí ngày càng quan trọng. Quan hệ giữa các quốc gia chỉ thực sự bền vững khi ngoài mối quan hệ tốt đẹp giữa các chính phủ, còn xuất hiện tinh thần hiểu biết, thiện cảm và gắn kết giữa Nhân dân. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, có sự hiện diện rộng khắp trên thế giới, vừa là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, vừa là những câu cầu nối về tri thức, đầu tư, văn hóa và quan hệ Nhân dân. Việc đa dạng hóa các chủ thể đối ngoại và phát huy vai trò của đối ngoại Nhân dân cũng là một yêu cầu được đặt ra đối với nền ngoại giao toàn diện.
Kết luận
Nhìn từ những định hướng được xác lập tại Đại hội XIV, Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV và đặc biệt được cụ thể hóa qua Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, có thể thấy, chính sách đối ngoại của Việt Nam trong kỷ nguyên mới vừa có tính kế thừa, vừa thể hiện một bước phát triển đáng kể về mặt tư duy. Trong chính sách ngoại giao kỷ nguyên mới, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, đa phương hóa, đa dạng hóa, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc tiếp tục đóng vai trò là những nguyên tắc xuyên suốt. Tuy nhiên, xuất phát từ nền tảng này, phạm vi, chức năng của công tác đối ngoại lại đang được mở rộng tương xứng với vị thế và tiềm lực mới của đất nước. Ngoại giao không đơn thuần chỉ còn giữ vai trò đảm bảo môi trường phát triển mà phải góp phần quan trọng vào quá trình phát triển tiềm lực kinh tế, khoa học – công nghệ quốc gia.
Trong kỷ nguyên mới, quá trình điều chỉnh của ngoại giao Việt Nam không còn là sự thay đổi những nguyên tắc nền tảng đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn, mà là một bước phát triển mới trên chính nền tảng sẵn có. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, “với quyết tâm chính trị cao, với sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, trên cơ sở nhận thức và tư duy, cách làm mới”, có thể thấy, việc thực hiện bốn nhiệm vụ cơ bản của ngoại giao Việt Nam trong bối cảnh mới là yêu cầu tất yếu để ngoại giao có bước chuyển tương xứng với những chuyển động mạnh mẽ của kinh tế, khoa học – công nghệ, văn hóa, quốc phòng và an ninh. Từ đây, ngoại giao Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, huy động nguồn lực bên ngoài, tối ưu hóa nội lực quốc gia và đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình của toàn dân tộc.■
Toàn Thắng